Phố chùa Bộc

| 25/03/2015 | 0 Comments

TỪ NHỮNG TÊN ĐƯỜNG | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 27

NGUYỄN LÂM

Phố Chùa Bộc dài chừng 730m, từ ngã ba phố Tôn Thất Tùng-Phạm Ngọc Thạch đến ngã tư phố Tây Sơn-Thái Hà, chạy qua trước cổng chùa Bộc. Nửa phía Nam của phố chạy trên đất xóm Trại Cam Đường, làng Trung Tự (nay thuộc phường Kim Liên) và nửa phía Bắc chạy trên đất làng Khương Thượng, xã Tam Khương (nay là phường Khương Thượng), quận Đống Đa, Hà Nội. Phố mang tên chùa Bộc từ năm 1990.

pho-chua-boc

Chùa Bộc xưa là chùa làng Khương Thượng, tên chữ Hán là Sùng Phúc tự. theo tấm bia “Tái tạo Phật tượng và trùng tu Sùng Phúc tự” dựng năm Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Trị (1676) lưu giữ tại chùa cho biết danh sách những người công đức vào việc làm lại thượng điện, tượng Phật. bia “Chú Phật tượng hồng chung ký” cho biết, năm 1686, niên hiệu Chính Hòa thứ 7, chùa đúc tượng Phật và chuông đồng. chùa bị cháy toàn bộ trong trận quân Tây Sơn tiêu diệt quân Mãn Thanh của Sầm Nghi Đống ở đồn Khương Thượng mùa xuân năm 1789. tấm bia “Tái tạo Sùng Phúc tự, Phật tượng các tòa bi ký” dựngtháng Giêng năm Nhâm Tý, niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1792) cho biết chùa được xây dựng và làm lại tượng Phật do sư trụ trì là Tăng thống Lê Đình Lượng, tự Đức Trường và vị sắc mục Vũ Viết Hoa cùng nhân dân làng Khương Thượng phát tâm tu sửa.

Năm 1896, chùa được trùng tu và đúc thêm tòa Cửu long bằng đồng; 1898 đúc khánh đồng; Theo bài minh trên chuông “Thiên phúc tự chung” (không rõ vì sao chùa đã có tên là Sùng Phúc tự, nay lại có tên là Thiên Phúc tự?) khắc ngày 23 tháng 5 năm 1934, niên hiệu Bảo Đại thứ 9 thì Hòa thượng Khắc Cần-Thích Thanh Chính (trụ trì chùa từ năm 1895) đã cùng Chánh tổng Nguyễn Văn Vận, ông Lê Đình Hoàn và nhân dân làng Khương Thượng trùng tu chùa, sau đó mở hội khánh thành, đúc lại quả chuông đồng Cảnh Thịnh năm thứ 3 đã bị mất. Năm 1941 trùng tu lại chính điện; năm 1996 trùng tu lại nhà Tổ, điện Mẫu và xây dựng tam quan.

Kiến trúc chùa gồm tam quan, Tam bảo, nhà Tổ, vườn tháp trong một khuôn viên rộng. Xung quanh chùa có hồ tắm voi, gò kéo cờ, gò đánh cồng là những dấu tích liên quan đến các trận đánh của quân Tây Sơn ở vùng này vào ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789).

Chùa Bộc còn lưu giữ được nhiều hiện vật phong phú, trong đó có hệ thống tượng thờ. Tuy chỉ tạo tác vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX và cả ở thế kỷ XX, song với kỹ thuật tinh xảo, những pho tượng này cũng có những giá trị nhất định về nghệ thuật điêu khắc đương thời. trong chùa có 3 pho tượng đặt thờ ở bên phải tiền đường, đó là tượng Đức Ông và hai thị giả. Ngày 22 tháng 4 năm 1962, nhà sử học Trần Huy Bá phát hiện phía sau bệ gỗ, đặt áp sát tường có hàng chữ khắc “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng” (1846). Phía trên tượng treo bức hoành phi có bốn chữ: “Uy phong lẫm liệt”. đôi câu đối treo hai bên tượng Đức Ông viết:

“Động lí vô trần, đại địa sơn hà lưu đống vũ

Quang Trung hóa Phật, tiểu thiên thế giới chuyển phong vân”

Dịch nghĩa:

“Trong động không bụi nhỏ, đất nước rộng lớn để lại một tòa lâu đài rường cột làm dấu vết.

Trong hào quanh hóa Phật, thế giới cõi tiểu thiên, gió mây đều cảm động mà chuyển vần”.

Và :

“Hiển thập bát chấn già lam kính thiên vĩ địa

Quán tam thiên thông thế giới hộ quốc bảo dân”.

(Hiển linh mười tám nơi cảnh chùa dọc ngang trời đất

Cai quản khắp ba nghìn thế giới giúp nước giữ dân)

Hiện nay, có hai luồng ý kiên về ba tượng này như sau:

(1). Đó là tượng vua Quang Trung được dựng và tôn thờ dưới dạng tượng Đức Ông để tránh sự trả thù của triều Nguyễn đối với nhà Tây Sơn. Pho tượng được tạc năm Bính Ngọ (1846), to bằng người thật ngồi trên bệ sơn son, một chân ở trong hài, một để ngoài rất tự nhiên như đang ngồi làm việc với hai viên quan ngồi sát ở bậc dưới. tượng mặc áo hoàng bào, thêu rồng hóa trong mây, thắt lưng đai nạm ngọc, đầu đội mũ bình đính kiểu sung thiên có hai dải kim tuyến thả xuống hai bên mang tai trông rất oai nghiêm. Cả ba pho tượng đều có phong thái bình dân khác hẳn với những pho tượng Đức Ông ở các ngôi chùa khác.

(2). Có nhà nghiên cứu cho rằng: “Chính ông Nguyễn Kiên – viên tướng cai quản đội tượng binh của quân Tây Sơn, sau đi tu tại chùa Bộc là người cho tạc tượngvua Quang Trung…”

Đến nay, chưa có kết luận ý kiến nào đúng.

Chùa Bộc không những có những di vật độc đáo, đặc sắc như hệ thống tượng, bia đá…mà còn là một di tích gắn với phong trào giải phóng dân tộc. trước năm 1945, ông Trường Chinh cùng nhiều cán bộ đã từng về chùa họp bí mật, xây dựng phong trào. Những năm 1943-1944, Thiền sư Thanh Chính-vị trụ trì chùa Bộc đã tạo mọi điều kiện để Xứ ủy viên Bắc kỳ Văn Tiến Dũng dưới vỏ bọc là sư ông Đàm, thường mượn áo cà sa từ chùa này đi hoạt động.

Chùa đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử ngày 13 tháng 1 năm 1964■

(Visited 134 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Nguyễn Lâm, Sưu Tầm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *