Thanh Tứ Tăng: Khôn Tàn

| 18/01/2014 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 47 |PHẠM HOÀNG QUÂN

“ Thanh sơ tứ họa tăng” là danh xưng khá quen thuộc  đối với những người yêu thích hội họa Trung Quốc. sự hiện diện của họ đã làm cho họa đàn thời kỳ cuối Minh đầu Thanh trở nên sinh động và hấp dẫn.

thanh-tu-tang-khon-tan“ Thanh sơ tứ họa tăng” không phải là tên gọi của một họa phái. Người đời tán dương và ngưỡng mộ “tứ tăng” chỉ vì họ có cùng cảnh ngộ, đều xuất gia trong tâm trạng u uẩn. Còn về nghệ thuật, mỗi người lại là một họa sĩ độc lập, lập ý khác thường, và mỗi người có một kiểu thức, bút pháp riêng biệt. “Thạch Đào sử khí tác bôn phóng/ Khôn Tàn hành bút tứ tuần tầng/ Tiệm danh cảnh tự vô nhân pháp/ Kim nhật truy lưu năng bất năng”(2)(Khí lực Thạch Đào như lao vút/ Hành bút Khôn Tàn ngất ngưỡng thay/ Thầy lão Tiệm Giang tìm đâu thấy/ Thích tử đời nay sao theo đây?).

Khôn Tàn (1612-1692), họ Lưu, tự là Giới Khâu (Khưu), hiệu Thc1h KHê, Bạch Thốc, Thiên Nhưỡng Tàn Đạo Giả, người huyện Vũ Lăng, tỉnh Hồ Nam (nay là huyện Thường Đức, Hà Nam), tuổi trẻ thông minh đỉnh ngộ, trước học theo lối cử nghiệp sau lại chuyển sang học họa và Phật học. Năm 30 tuổi, tham gia phản  Thanh phục Minh, việc bất thành, ông sống ẩn cư một thời gian ở Đào Nguyên,đến năm 40 tuổi thì xuất gia (3), đi chu du cùng các cao tăng và tham cứu thiền học. Năm 43 tuồi, ông đến Nam Kinh, trú ở các chùa Báo Ân tự, Thê Hà tự, Thiên Long tự, nơi ông trú lâu nhất cho đến hết đời là Ngưu Thủ tổ đường.thanh-tu-tang-khon-tan

Đương thời, ông là người phẩm hạnh cao thượng, thường kết giao với nhiều danh sĩ như học giả Cố Viêm Võ, Tiến Khiêm Ích, Trương Di…Trên học đàn, Khôn Tàn đạt nhiều thành tựu và lập riêng một phong cách, cùng các họa gia danh giá đương thời  như Củng Hiến, Trinh Chính Quỹ, Chu Lượng Công gây sự ảnh hưởng lớn khắp vùng Nam Kinh. Khôn Tàn có hiệu là Thạch Khê, Trình Chính Quỹ hiệu là Thanh Khê, thường được gọi là Nhị Khê; cũng có lúc gọi là Nhị Thạch(với Thạch Đào).

Trương Canh trong Quốc Triều Họa Chính Lục, mục  Khôn Tàn viết: “Thạch Khê giỏi về họa sơn thủy, cảnh sâu mà sáng lạ, xa vợi mà u mật,như nhiếp cảnh người  vào cảnh, bút mực hùng hồn cổ lệ, điểm màu cực tinh tế như bút pháp người đời Nguyên, loại bút pháp này từ lâu không còn  được thấy trong đời vậy!”. Các nhà bính họa sau này đều có chung nhận xét  như vậy. Phong cách Khôn Tàn khá gần với Hoàng Hạc Sơn Tiểu Vương Mông (một trong Nguyên tứ gia) (4) với bố cục chặt chẽ, không gian sâu, dùng mực tuy thưa rãi, so sài mà để lộ khí lực quán xuyến liên tục. Thuân pháp khi diễn tả núi đá, dùng lối rải mê theo tơ (5). Dù nhà tranh vách lá, hoặc cầu, hoặc bến, khách bộ hành, kẻ bơi thuyền…đều tinh tế ẩn ước và sống động.

Trong bức “Khê Sơn Nhâ Điếu Đồ”, Khôn Tàn tự đề một lời thoại “Đông Điền hỏi tôi rằng: Trên đời này, ai là người đạt đến chỗ thượng thừa ảo diệu trong môn họa”. Tôi đáp ngay rằng: có thể Kinh [Hạo], Quan [Đồng], Đổng [Kỳ Xương], Cự [Nhiên],4 người, mà đến được chân tâm pháp thì chỉ có Cự Nhiên mà thôi. Bậc thầy như Hòa thượng Cự Nhiên đã giăng ngang cái đẹp cho đời trước, bảo tôi làm sao  nối cái mạch đó cho đời sau được. Rồi lặng lẽ nghĩ  việc điểm màu”. Khôn Tàn không để lại họa luận, một số ghi chép chợt hứng như trên cho thấy ông có chịu ảnh hưởng của Cự Nhiên đời Bắc Tống. Tổng quan về tranh ông, nhiều nhà thưởng ngoạn đời sau còn nhận thấy rằng,việc bútthanh-tu-tang-khon-tan lực ông đạt đến chỗ hồn hậu của Nhất Phong Đạo Nhân Hoàng Công Vọng. Về kỹ xảo, Khôn Tàn sở đắc thủ pháp dùng bút tóc sử mực khô,vẽ núi và đá theo lối rắc mè theo tơ.

Trong “Tứ Tăng” ông là người để lại ít tác phẩm nhất, tranh cuộn thì có “Vân Động Lưu Tuyền Đô”, “Tầng Nham Hiệp Hác Đồ”,”Báo Ân Tự Đồ”, “Khê Sơn U Cư Đồ”, “Thương Thúy Lăng Thiên Đồ”..và loạt họa sách Thủy mặc sơn thủy vào năm Thuận Trị thứ 18, được xem là những giai phẩm tinh diệu.

Về đặc điểm tranh Khôn Tàn,có thề lấy lời bình của họa gia hiện đại Hoàng Tân Hồng để diễn tả: “ Trụy thạch khô đằng; Thụy sa lậu ngân; Năng đi  thư gia chỉ diệu. Thông vu họa pháp”. (Đá rơi trong dây mây khô, vết cát vương đường bút; khéo lấy cái tinh tế của thư gia mà quán thông phép vẽ).

Chú thích:

(1). Thạch Đào, Khôn Tàn, Bát Đại Sơn Nhân, Hoằng Nhân.

(2), Hoàng Tông Tinh Đề bạt sau cuộn tranh sơn thủy của Hoằng Nhân.

(3). Có thuyết nói rằng ông xuất gia năm 20 tuổi

(4) Triệu Mạnh Phủ, Ngô Trấn, Nghê Toản, Vương Mông

(5) “Phác ma giải pháp thuần”, một kỷ pháp trong hội họa thủy mặc vế phép vẽ đá núi.

thanh-tu-tang-khon-tanTài liệu tham khảo:

–         Khôn Tàn họa tập, Trung Quốc lịch đại đại sư  danh tác tùng thư. Giang Tô Mỹ thuật xuất bản  xã, 1997.

–         Trung Quốc hội họa thông sử, Vương Bá Mẫn, Tam Liên thư điếm, Bắc Kinh , 2000.

–         Trung Quốc hội họa, Dương Chấn Quốc, Thượng Hải nhân dân mỹ thuật xuất bản xã, 2001

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 47 |PHẠM HOÀNG QUÂN

(Visited 111 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Nghiên Cứu, Phạm Hoàng Quân, Sưu Tầm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *