Những gì trong gia sản văn hóa Việt Nam (tt)

| 03/05/2013 | 0 Comments

(tiếp theo Tạp Chí  Văn Hoá Phật Giáo  số 2 và hết)
Hòa thượng Thích Nhất Hạnh

 Khi tôi dạy cho các người Cơ Đốc giáo tôi đã không làm như những vị giáo sĩ ngày xưa tới Việt Nam khuyên người ta theo đạo của họ và đừng thờ cúng tổ tiên. Ở Tây phương chúng tôi đã làm hoàn toàn ngược lại những điều mà các giáo sĩ Thiên chúa giáo đã từng làm ở Việt Nam trong những thế kỷ trước, Chúng tôi khuyên họ trở về truyền thống tâm linh của họ, chấp nhận tổ tiên tâm linh và huyết thống của họ. Tại vì chúng tôi biết rằng con người mất gốc là con người không bao giờ có được hạnh phúc…

Tôi đã nói với người thanh niên Âu châu: anh nhìn lại mà coi, anh thử đặt câu hỏi tại sao cha của anh có nhiều khổ đau, nhiều hận thù, có nhiều bạo động, nhiều tuyệt vọng, cha anh có muốn như vậy không hay bởi vì cha anh đã là nạn nhân của một xã hội, một gia đình trong đó người ta không chế tác được chất liệu hiểu và thương, chất liệu bao dung, nuôi dưỡng. Nếu cha của anh may mắn gặp được một người bạn hay một người thầy có đời sống tâm linh dồi dào và người đó chỉ dẫn cho cha anh phương pháp nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau trong cha anh thì cha anh đã chuyển hóa rồi và cha anh đã không trao truyền những tiêu cực đó cho anh. Nếu cha anh chưa có điều may mắn đó thì anh phải biết nhìn cha anh với con mắt xót thương: tội nghiệp cho cha, cha chưa bao giờ có cơ hội, chưa bao giờ được ai giúp đỡ. Ông nội, bà nội đã làm khổ cha, không có khả năng để giúp cha. Bạn bè của cha cũng chưa có cơ hội để giúp cha. Riêng mình, mình đã có cơ hội tiếp xúc với những bậc đạo sư, những người anh, người chị, những người bạn có chiều hướng tâm linh tốt giúp cho mình nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những khổ đau trong đời sống.

Năm 20 tuổi, vua Trần Thái Tông đã ôm ấp niềm đau đó nhưng đã may mắn gặp được Viên Chứng quốc sư trên núi Yên Tử và đã được Viên Chứng quốc sư khai sinh ra đời sống tâm linh cho vua. Từ đó trở về sau, vua đã có một con đường tu học, một chiều hướng tâm linh trong đời sống của mình, đời sống của một vị vua, một nhà chính trị. Vua đã có cơ hội nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa niềm đau đó và vì vậy vua đã tạo được sự đoàn kết trong dòng họ, trong triều đình và quốc dân và để thành công là một vị vua lớn. Chúng ta cũng vậy, nếu cha chúng ta chưa có cơ hội là vì cha của chúng ta chưa gặp may mắn. Điều đó không đáng để chúng ta giận và thù hận cha mình mà chúng ta phải phát ra lòng đại bi với cha mình. Mình phải thực tập cho được và sau khi mình thực tập thành công rồi, mình phải hòa giải với cha trong từng tế bào cơ thể thì mình có thê giúp cha mình hóa giải và trị liệu những nỗi khổ niềm đó đó một cách rất dễ dàng.

Những người thành niên như vậy đã nghe lời tôi, đã tu tập và đã chuyển hóa, đã trở về giúp cho những thân phụ và thân mẫu của họ. Khi giúp được những thanh niên như vậy chuyển hóa được khổ đau, trở về hòa giải được với cha, với mẹ của họ thì niềm vui, hạnh phúc của mình rất lớn. Cái hạnh phúc đó không nằm ở uy quyền, tiền bạc, danh vọng hay sắc dục mà ở chỗ mình thấy cuộc đời của mình có ý nghĩa, mình giúp được cho rất nhiều người chuyển hóa được nỗi khổ niềm đau và hòa giải được với người thương của họ.

Khi chúng ta nghiên cứu văn hóa Việt Nam, chúng ta thấy được rằng giáo lý đạo Phật đã đi đôi một cách tuyệt hảo với truyền thống thờ cúng tổ tiên có mặt tại đất nước này trước khi Phật giáo du nhập. Truyền thống thờ cúng tổ tiên đã có trên hai ngàn năm. Phật giáo du nhập Việt Nam vào thế kỷ đầu của kỷ nguyên Tây lịch và đến đến thế kỷ thứ ba, chúng ta có một vị thiền sư lỗi lạc là thiền sư Khương Tăng Hội. Giữa thế kỷ thứ ba, vị thiền sư Việt Nam này đã sang Trung Quốc để giảng dạy đạo Thiền, thiền sư đã làm điều đó trước khi tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Quốc đến 300 trăm. Ở Việt Nam chúng ta, nếu biết lịch sử, thay vì thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma trong các thiền viện thì chúng ta phải thờ tổ Khương Tăng Hội. Bởi vì tổ Khương Tăng Hội chính là người sáng lập thiền tông Việt Nam và chính là người đã đem thiền sang dạy ở Trung Quốc, và bởi tuổi của tổ Tăng Hội lớn hơn tuổi của tổ Bồ Đề Đạt Ma đến 300 năm.

Câu nói của bà mẹ Việt Nam chưa bao giờ từng học chữ, học triết: ‘con ơi, mỗi khi qua bên nớ con nhớ mẹ, con chỉ cần đưa bàn tay lên con nhìn thì con sẽ đỡ nhớ.’ Câu nói đó chứa đựng tuệ giác của Phật giáo và của truyền thống thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam.

Trong Phật giáo, chúng ta có hệ thống văn học Bát-nhã và Trung quán. Nếu chúng ta đặt vấn đề hạt bắp sinh ra cây bắp thì hạt bắp và cây bắp đó là một thực thể hay hai thực thể khác nhau? Chúng ta nói một cũng không đúng, nói hai cũng không đúng. Chúng ta biết rất rõ cây bắp từ hạt bắp sinh khởi, cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp. Nhưng chúng ta nói cây bắp là hạt bắp thì có cái gì đó còn lấn cấn, nói cây bắp là một thực thể hoàn toàn khác với hạt bắp cũng không đúng. Trong triết học Trung quán có giáo lý gọi là phi nhất, phi dị, không phải một, không phải khác. Đó là sự thực, chúng ta thấy qua sự liên hệ giữa hạt bắp và cây bắp. Cây bắp với hạt bắp không phải là một mà cũng không phải là hai thực thể khác nhau. Đứa con với người cha cũng vậy. Đứa con là từ người cha mà được sinh ra, nhưng nói đứa con với người cha là một người thì không đúng, mà nói là hai người khác nhau cũng không đúng. Đó là giáo lý thậm thâm vi diệu của Trung quán.

Khi chúng ta nhìn một đám mây thì chúng ta nghĩ rằng đám mây đó có sinh có diệt. Và trong đầu chúng ta nghĩ rằng sinh là từ chỗ không có gì trở nên có, và diệt có nghĩa là đang là cái gì đó trở thành không có cái gì cả. Nhưng nếu chúng ta quán chiếu đám mây thì chúng ta sẽ thấy rằng đám mây không thể từ chỗ không trở thành có được. Trước khi là đám mây, thì đám mây là nước sông, nước hồ, nước ao, nước biển và sức nóng của mặt trời. Trong tiền kiếp của nó, đám mây đã từng là nước, đã là hơi nóng. Vì vậy, đám mây không phải được sinh ra mà chẳng qua là một sự tiếp nối của nước sông, nước hồ, nước ao, nước biển và sức nóng của mặt trời. Cũng như tờ giấy này, nó không phải từ không mà sinh có, trước khi mang cái tướng của tờ giấy thì nó là cây rừng, vì vậy nó là sự tiếp nối của cây rừng. Tự tánh của đám mây là vô sinh, đám mây chưa bao giờ được sinh ra. Giờ phút mà chúng ta gọi là giờ sinh của đám mây chẳng qua là giờ phút của sự tiếp nối dưới một hình thái khác. Khi đám mây biến thành mưa thì không có nghĩa là đám mây chết. Vì chết là từ có trở thành không. Đám mây không chết, mà chỉ có thể trở thành tuyết, thành mưa, băng đá mà thôi. Nếu chúng ta có con mắt vô tướng, con mắt của Trung quán, khi nhìn đám mây chúng ta sẽ thấy cơn mưa trong đó… Đó là một sự thật rất khoa học.

Một nhà khoa học Pháp nói rằng không có cái gì sinh cũng không có cái gì diệt. Ông ta đã dùng những chữ đúng như trong Tâm kinh Bát-nhã: thị chư pháp bất sinh bất diệt. Tự tính của vạn hữu là vô sinh bất diệt, không phải một mà cũng không phải hai cái khác nhau. Khi nhìn vào đứa con và nhìn cho kỹ thì sẽ đứa con là sự tiếp nối của người cha. Nếu đứa con có cơ hội để tu tập, để chuyển hóa thì những nỗi khổ niềm đau mà người cha trao truyền lại cho đứa con có thể chuyển hóa được, thì đó là một người con có hiếu. Tại vì người con đó đã chuyển hóa được nỗi khổ niềm đau mà ngày xưa cha mình chưa chuyển hóa được. Và khi đã chuyển hóa được rồi thì mình không còn truyền trao những nỗi khổ niềm đau lại cho thế hệ tương lai nữa.

Chúng ta hãy tưởng tượng một ngọn đồi trên đó có 5000 thiền sinh người Âu châu hay Hoa Kỳ đang thực tập lạy. Ở Tây phương, chúng tôi thực tập thiền lạy, trong khi chúng tôi gọi là địa xúc, chúng tôi dùng chữ này thay cho chữ lạy, tiếng Anh là touching the earth, khi năm vóc (đầu, 2 tay và 2 chân) chạm với đất thì mình có cơ hội tiếp xúc được với tất cả tổ tiên của mình. Khi mình ở trong tư thế ngũ thể đầu địa, năm vóc sát đất thì mình quán chiếu trở lại, thấy trong dòng máu của mình đang luân lưu sự có mặt của các thế hệ tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Chúng ta có những tổ tiên huyết thống rất hào hùng nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng có những tổ tiên huyết thống rất kém cỏi. Chúng ta có Lý Thường Kiệt, có Trần Hưng Đạo, và chúng ta cũng có Trần Ích Tắc… Họ có mặt trong từng tế bào của cơ thể ta. Dầu hào hùng như Trần Hưng Đạo hay yếu kém như Trần Ích Tắc, chúng ta phải chấp nhận đều là tổ tiên của chúng ta. Tại vì, chúng ta là ai? Chính trong tự thân chúng ta cũng còn những yếu kém, những lên xuống, trồi sụt, chúng ta là ai mà dám không chấp nhận tổ tiên của chúng ta. Thấy được điều đó, chúng ta sẽ chấp nhận các tổ tiên không những những vị hào hùng mà cả những vị còn yếu kém, và tự nhiên trong lòng mình, sau khi đã chấp nhận rồi sẽ có niệm bình an. Cha mẹ mình cũng là tổ tiên, là thế hệ tổ tiên trẻ nhất. Nếu cha mẹ mình có những yếu kém, bạo động và có những buồn đau, đã làm khổ mình, nhưng mình không thể nào từ khước đó không phải là cha mẹ mình, là tổ tiên của mình. Chúng ta quán chiếu cho kỹ, sẽ thấy rằng cha mẹ của mình đã không có cơ hội, không có sự may mắn cho nên đã không có được một đời sống tâm linh đủ để hướng dẫn cho những vị đó trị liệu, chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau. Đến thế hệ mình, mình phải làm tốt hơn cha mẹ mình để có thể chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau mà mình đã tiếp nhận và mình trở lui độ cho cha, độ cho mẹ mình. Những người thanh niên khi lạy xuống, họ thấy được điều đó.

Chúng tôi có pháp môn thiền lạy, 3 cái lạy và 5 cái lạy. Tất cả những pháp môn mà chúng tôi đem ra để giáo dục, hướng dẫn cho những thanh niên đó tu học hoàn toàn được lấy từ gia sản văn hóa của Việt Nam.

Ở Tây phương có những người thuộc truyền thống Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo… không cảm thấy thoải mái trong truyền thống của họ, họ bỏ nhà thờ, bỏ giáo đường, họ giận các vị linh mục, giận các vị mục sư, họ phủ nhận những vị đó là tổ tiên tâm linh của họ; trong khi đó các thế hệ cha anh của họ đều hành trì và công nhận các vị đó là tổ tiên tâm linh của mình, nhưng đến thế hệ thanh niên bây giờ thì họ giận cha, giận mẹ, giận linh mục, mục sư… và thề không trở lại nhà thờ nữa. Tại vì những người đó không có khả năng hiểu thế hệ thanh niên, ép họ làm những điều mà họ không hiểu, không muốn làm. Cũng như có những thanh niên Việt Nam bị mẹ ép đi chùa, khi đến chùa nghe tụng kinh tiếng Phạn, âm Hán Việt, họ chẳng hiểu gì cả, họ lạy cái lạy này tiếp sau cái lạy khác… như thế một lúc sau họ chán đi chùa. Họ cảm thấy không dính líu gì đến ông thầy, đến sư cô trong chùa, cảm thấy đó không phải là khung cảnh của họ. Ở Tây phương cũng vậy, có những giáo đường ở đó có cách học hỏi và cách thực tập nghi lễ không còn phù hợp với người trẻ bây giờ. Người trẻ khi bị bắt ép làm theo những điều đó, họ cảm thấy rất đau khổ, rất thù hận, vì những nhà lãnh đạo tâm linh không có khả năng làm mới, đổi mới, hiện đại hóa cách dạy dỗ và thực tập. Một truyền thống nếu không có khả năng tự làm mới mình thì sẽ đánh mất con cháu. Đạo Phật cũng vậy thôi. Nếu quý vị là Phật tử, là những vị giáo thọ, trú trì thì quý vị biết rằng nếu quý vị không hiện đại hóa đạo Phật, nếu quý vị không cung cấp thứ giáo lý và cách hành trì phù hợp với tinh thần và tâm lý của những người trẻ thì những người trẻ sẽ cảm thấy lạc lỏng, xa lạ mỗi khi họ đến chùa. Vì vậy cho nên nhu yếu hiện đại hóa Phật giáo, hiện đại hóa Phật pháp, hiện đại hóa nền sinh hoạt tâm linh của mình là rất quan trọng. Chúng ta phải giảng dạy như thế nào để người trẻ thấy được sự giảng dạy đó đang đáp ứng những đau khổ, những bức xúc, những tuyệt vọng của họ. Chúng ta phải cung cấp cho họ những phương pháp tu học có khả năng tháo gỡ, chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau của họ thì họ mới cảm thấy là họ thuộc về gia đình tâm linh này mà thôi. Vấn đề đó không phải chỉ là vấn đề của Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo mà cũng là vấn đề của Phật giáo. Phật giáo ở Trung Quốc, Đại Hàn, Việt Nam rất cần những nỗ lực để hiện đại hóa, nếu không thì sẽ không có tương lai và con cháu chúng ta sẽ rất bơ vơ. Trong truyền thống tâm linh này có rất nhiều châu báu nhưng nếu chúng ta không chỉ bày được cho thế hệ trẻ những châu báu đó, mà dùng những hình thức học hỏi và thực tập quá xưa cũ thì chúng ta không thể nào khai thị cho người trẻ thấy rằng đây là một truyền thống rất sâu sắc, rất nhiệm mầu mà cha ông chúng ta qua không biết bao nhiêu thế hệ đã nương tựa, học hỏi và đã thành công trong sự nghiệp của họ, sự nghiệp xã hội cũng như sự nghiệp chính trị.

Xin các vị thượng tọa, các vị sư trưởng lắng nghe những người trẻ, và làm thế nào để cung cấp cho những người trẻ, những người trí thức các giáo lý và thực tập đáp ứng lại được nhu cầu đích thực của họ trong thời đại mới, nghĩa là phải hiện đại hóa đạo Phật.

Khi chúng tôi khai thị cho những người trẻ Tây phương, có hàng ngàn, hàng chục ngàn, hàng triệu người trẻ Tây phương đi như những con ma đói vì không thấy liên hệ gì với truyền thống tâm linh và truyền thống huyết thống của họ. Sử dụng những yếu tố của nền văn hóa Việt Nam, trong đó có đạo Phật, chúng tôi đã hướng dẫn cho họ, đã đưa họ trở về với truyền thống của họ để họ chấp nhận những tổ tiên của họ, dẫu tổ tiên của họ có những yếu kém, còn những khiếm khuyết về giới hạnh, đạo đức. Và có như vậy mới có được cơ hội làm mới, đổi mới cái truyền thống của họ mà thôi.

Trong gia đình tâm linh của mình, thỉnh thoảng chúng ta thấy có những vị lãnh đạo tâm linh giới hạnh rất nghiêm minh, đạo đức rất cao viễn, nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy có những ông thầy, sư cô phạm giới, nhưng như vậy không đủ để chúng ta nản chí. Chúng ta thấy rằng những vị đó chưa có may mắn gặp được minh sư, gặp được đoàn thể tu học có khả năng bảo hộ, nâng đỡ và che chở cho nên họ mới lâm vào tình trạng phá giới hoặc chạy theo danh lợi. Điều đó cho thấy rằng những vị đó thiếu may mắn chứ không phải truyền thống của chúng ta thiếu châu báu. Từ ngàn xưa cho đến bây giờ, truyền thống của chúng ta đã sản xuất không biết bao nhiêu là bậc cao tăng đã từng làm quốc sư cho các vị vua lớn, đã từng cứu nước cứu dân ra khỏi tình trạng hiểm nghèo. Trong quá khứ chúng ta đã làm được như thế, tại sao trong hiện tại và trong tương lai chúng ta không đóng vai trò đó được. Vì vậy cho nên chúng ta phải khuyên những người trẻ đó trở về chấp nhận những tổ tiên tâm linh của mình. Nếu những tổ tiên tâm linh của mình còn yếu kém thì ta phải đủ sức giúp các vị đó vượt thoát tình trạng khó khăn và yếu kém của họ. Khi chấp nhận được như thế rồi, trong lòng sẽ có một sự bình an rất lớn.

Đứng về phương diện tổ tiên huyết thống cũng vậy. Chúng ta có những vị rất hào hùng, rất đạo đức và rất trí tuệ, nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng có những vị tổ tiên huyết thống không xứng đáng đã phản nước, phản dân nhưng dầu sao, họ cũng là tổ tiên của chúng ta, họ đã không có cơ hội, không có may mắn nên đã không tiếp nhận được một nền giáo dục thích hợp, họ không có bạn hiền thầy giỏi nên đã cư xử như vậy. Họ là những người đáng thương hơn là đáng ghét và đáng trừng phạt. Khi người thanh niên thấy được như vậy thì những nỗi buồn, cơn giận của họ sẽ dịu lại và bắt đầu chấp nhận được những vị tổ tiên huyết thống hay tâm linh còn yếu kém của họ. Tại vì chính họ trong lòng vẫn còn những yếu kém, trồi sụt.

Khi tôi dạy cho các người Cơ Đốc giáo tôi đã không làm như những vị giáo sĩ ngày xưa tới Việt Nam khuyên người ta theo đạo của họ và đừng thờ cúng tổ tiên. Ở Tây phương chúng tôi đã làm hoàn toàn ngược lại những điều mà các giáo sĩ Thiên chúa giáo đã từng làm ở Việt Nam trong những thế kỷ trước, Chúng tôi khuyên họ trở về truyền thống tâm linh của họ, chấp nhận tổ tiên tâm linh và huyết thống của họ. Tại vì chúng tôi biết rằng con người mất gốc là con người không bao giờ có được hạnh phúc. Vì vậy chứng tỏ đạo Phật có một lượng bao dung rất lớn, như thế làm cho họ càng kính phục, càng thương mến đạo Phật nhiều hơn. Lượng bao dung của đạo Phật không kỳ thị, không xúi người ta bỏ nguồn gốc của họ, mà trái lại còn xui họ trở về cắm rễ vào trong truyền thống đó. Các vị cứ thực tập đạo Phật đi, và sự thành công của quý vị sẽ giúp quý vị trở lại xây dựng truyền thống để cho những người trẻ không tiếp tục bỏ truyền thống đó mà đi và trở thành những con ma đói.

Có những người trong chúng ta đã từng làm cha, làm mẹ, làm thầy. Làm cha, làm mẹ, chúng ta từng thấy có những con rất dễ thương, đức độ, ngoan ngoãn, tài ba, xứng đáng là sự tiếp nối tổ tiên mình. Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng có những đứa con rất khó dạy, cứng đầu giống như không phải là con của mình, không phải là cháu của tổ tiên mình, mình có khuynh hướng muốn từ chối những người con như thế, mình đau khổ với những đứa con như vậy. Các thầy, các sư cô, quý sư trưởng cũng có những người đệ tử rất ngoan ngoãn, tu hành rất nghiêm túc. Nhưng thỉnh thoảng các thầy, các sư cô, các sư trưởng cũng có những người đệ tử “khó chịu”, cứng đầu, có những khiếm khuyết, không xứng đáng làm con cháu, làm đệ tử của mình. Khi quán chiếu, chúng ta thấy rằng chính tổ tiên tâm linh cũng như tổ tiên huyết thống của mình cũng có những vị có khiếm khuyết, cũng như chính mình đây khi làm cha, làm mẹ, hay làm thầy chúng ta cũng có những khiếm, những yếu đuối. Vậy mình là ai mà không chấp nhận những khiếm khuyết, những yếu đuối trong những đứa con, hay đệ tử mình mình. Khi thấy được như thế rồi thì chúng ta dễ dàng chấp nhận những đứa con, hay đệ tử khó thương của mình một cách rất dễ dàng và trong mình sẽ có một sự bình an. Tại vì chưa chấp nhận thì chúng ta sẽ đau khổ, chấp nhận được rồi thì chúng ta sẽ có một niềm bình an rất lớn.

Đối với các vị sư trưởng cũng vậy, với những đệ tử từng làm mình đau khổ đó, nếu nhìn cho kỹ mình sẽ thấy rằng họ đã nhận những hạt giống từ phía nội, ngoại, từ xã hội, có những trồi sụt, có những khó khăn, lao đao. Đối với những người đệ tử như thế, mình phải cho họ nhiều thì giờ, nhiều thương yêu và chăm sóc hơn. Còn với những đệ tử giỏi thì chúng ta đâu cần phí nhiều thì giờ và nhiều công phu. Khi thấy được như vậy rồi thì chúng ta dễ dàng chấp nhận những người đệ tử còn yếu kém, còn lao đao và còn lên xuống. Khi chấp nhận rồi thì trong lòng mình sẽ có một niềm bình an rất lớn.

Khi lạy cái lạy đầu tiên, mục đích là để mình nhìn thấy cho rõ tất cả các vị tổ tiên tâm linh và huyết thống trong con người mình, tất cả thế hệ con cháu có mặt trong từng tế bào của mình. Khi mình chấp nhận được tổ tiên và con cháu trong mình thì niệm yêu thương dâng lên tràn ngập và mình sẽ có một sự bình an rất lớn, mình buông bỏ những hận thù, những tuyệt vọng. Lúc đứng dậy, mình là một con người mới. Đó gọi là thiền lạy. Chúng ta cứ tưởng tượng 5000 người Hoa Kỳ cùng lạy xuống như vậy với sự hướng dẫn của một thầy hay một sư cô người Việt Nam. Có nhiều người sau khi lạy ba cái lạy đã trở thành một con người khác, trở thành một con người có hiểu và thương. (Nếu có thì giờ, xin quý vị đọc những dẫn giải về thực tập ba cái lạy, năm cái lạy trong cuốn Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000, nhà xuất bản Tôn Giáo, 2004).

Những pháp môn mà chúng tôi cung cấp cho người Tây phương này chúng tôi hoàn toàn rút ra từ gia tài văn hóa Việt Nam.

Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Thế Tôn có dạy rằng cái một được làm cái tất cả và cái tất cả được làm bằng cái một. Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất. Giáo lý đó, trong một hạt bụi chứa đựng cả tam thiên đại thiên thế giới, ngày nay đã được khoa học chứng minh là một sự thật. David Bohm, nhà vật lý học nguyên tử có nói một câu gần giống với ý trong kinh Hoa Nghiêm: một điện tử được tất cả các điện tử khác làm ra, one electron is made of the orther electrons. Khoa học bây giờ có khả năng lấy ra một tế bào của cơ thể con người, từ một tế bào thôi và làm ra một cơ thể trọn vẹn, điều đó gọi là sinh hóa thân, sinh sản vô tính (clonning). Họ lấy một cái trứng trong noãn sào của người đàn bà, rồi nạo sạch tất cả nội dung của cái trứng đó, không còn một dấu vết nào của gia tài di truyền, chỉ mượn cái vỏ của tế bào thôi, sau đó họ lấy một tế bào của bất kỳ thuộc bộ phận nào đó, hoặc là gan, hoặc bắp chân, một tế bào của thân thể, của hình hài của một người đàn ông hay đàn bà rồi bỏ đói cái tế bào đó trong vòng 2-3 ngày, cái tế bào đó trở thành một tế bào mầm, nó là một tế bào chuyên môn, tế bào có một phận sự đặc biệt trong cơ thể con người (như tế bào gan thì làm chức năng của gan, tế bào não có chức năng của não…) nhưng khi bỏ đói nó thì nó trở thành một tế bào mầm, có khả năng sinh hóa trở lại. Các nhà khoa học lấy tế bào đó, cho một dòng điện chạy qua để nó khép lại, rồi họ gơi vào tử cung của người đàn bà để được nuôi dưỡng. Khi cái thai đó lớn lên, đứa bé được sinh ra giống hoàn toàn nguyên bản của con người mà họ lấy tế bào đó ra, gọi là một sinh hóa thân, clonning. Nếu lấy 100 tế bào ra thì sẽ có 100 con người y hệt con người nguyên bản. Hiện bây giờ luật pháp trên thế giới cấm điều này, nhưng đứng về phương diện kỹ thuật thì các nhà khoa học đã, đang và sẽ làm như vậy. Họ đang thực hiện với các loài thú vật. Điều đó có nghĩa là trong mỗi tế bào chứa đựng tất cả gia tài huyết thống, tâm linh, tất cả gia tài di truyền của tất cả thế hệ tổ tiên, cái một chứa đựng cái tất cả, the one contains the all. Đó là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm đã được khoa học chứng minh.

Có một vị thiền sư đời Lý nói rằng trời đất có thể đặt gọn vào trong một hạt cải. Đó là một hình ảnh của thi ca để nói lên một sự thật: cái tất cả có thể tìm thấy trong cái một, trong cái một ta có thể tìm thấy đủ các tư liệu về cái tất cả, những dữ liệu (data) của cái tất cả nằm trong cái một. Vì vậy cho nên chúng tôi đã nói rằng đạo Phật và truyền thống thờ cúng tổ tiên của Việt Nam đã đi đôi với nhau trong hai ngàn năm, cái này làm giàu cho cái kia, cái kia làm giàu cho cái này, và giờ đây đạo Phật và truyền thống thờ cúng tổ tiên Việt Nam đã đi đôi với nhau rất tuyệt hảo, nó là phương pháp thực tập giúp cho chúng ta nhận diện được gốc rễ của chính mình để chấm dứt tình trạng và thân phận của những con ma đói. Xã hội Tây phương đã sản xuất ra hàng triệu con ma đói. Xã hội của Việt Nam hôm nay cũng đã bắt đầu sản xuất ra những con ma đói. Những người thanh niên đi trong cuộc đời và không biết mình thuộc về truyền thống nào, không thấy gốc rễ trong gia đình, không thấy liên hệ giữa mình với cha mẹ, tổ tiên ông bà…

Hiên nay, nhà nước đang có chính sách khuyến khích việc thành lập những gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa, khu phố văn hóa, làng văn hóa… trong đó không có tệ nạn xã hội như là tội phạm, đĩ điếm, ma túy, cờ bạc… những tệ nạn xã hội sinh ra trong một nền kinh tế đang phát triển, không thể tránh được. Chúng ta có thể làm được gì để xây dựng những gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa, khu phố văn hóa…? Chúng ta có thể kiểm soát, trừng phạt nhưng đó không phải là giải pháp gốc. Sở dĩ người thanh niên đi ra ngoài và sa và hầm hố của ma túy, tội ác, sắc dục… là tại họ không cảm thấy hạnh phúc trong gia đình, không có niềm tin nơi hạnh phúc gia đình. Hạnh phúc gia đình đối với họ là điều chưa bao giờ từng có. Cha mẹ làm khổ nhau. Cha con trong truyền thông được với nhau, không nhìn được mặt nhau. Do đó người thanh niên không muốn trở về gia đình, tại vì không khí của gia đình là không khí của nặng nề, bảo thủ, địa ngục. Vậy thì các thầy, các sư cô, các bậc phụ huynh đã nắm được tư tưởng, giáo lý và sự thực tập để có thể giúp con người cắm rễ lại, tìm lại được gốc rễ của mình nhằm giúp người thanh niên đó thiết lập lại được truyền thông với cha, với mẹ; giúp vợ thiết lập lại được truyền thông với chồng, dựng lại tình thân và đem hạnh phúc trở lại trong gia đình, chỉ khi đó chúng ta mới thực sự bài trừ được tệ đoan của xã hội như đĩ điếm, ma túy, băng đảng, tội phạm… Vì vậy pháp luật không đủ để giải quyết các tệ nạn xã hội mà phải có đạo đức. Ai là người nắm giữ giềng mối đạo đức? Các bậc phụ huynh, các nhà làm giáo dục, các nhà nghệ sĩ… phải có nhiệm vụ giáo dục, giúp cho các gia đình trong thôn xóm, trong khu phố, làm thế nào để con với cha có thể hòa giải với nhau được, làm thế nào để sự truyền thông giữa cha và con được phục hồi, vợ chồng có thể trở về, hòa giải với nhau và biết làm cho nhau hạnh phúc.

Tôi đã làm việc với người trẻ trong bốn mươi năm, những người trẻ thường nói với nhau rằng cái quý giá nhất mà cha mẹ để lại cho con cái là hạnh phúc của chính cha mẹ. Nếu cha mẹ có hạnh phúc, biết chăm sóc cho nhau thì đó là gia tài lớn nhất mà con cháu có thể tiếp thu. Nếu cha mẹ làm khổ nhau mỗi ngày thì cha mẹ không có gì để trao truyền lại cho con cháu. Chúng ta, những vị xuất gia, những người tại gia, những nhà giáo dục, những nhà chính trị, nhà kinh tế, những nhà nghệ sĩ… có thể đóng góp gì vào công việc phục hồi hạnh phúc gia đình, phục hồi được sự truyền thông giữa vợ chồng và cha con. Đó là công tác căn bản để chúng ta có thể thành công thực sự trong việc xây dựng những gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa, khu phố văn hóa, làng văn hóa. Và vai trò của Phật giáo cũng như vai trò của các nhà giáo dục, các văn nghệ sĩ… là rất quan trọng.

Trong gia sản văn hóa Việt Nam, chúng ta có đủ các yếu tố để có thể làm được việc đó.

Trong bốn mươi năm lưu lạc ở xứ người, khi rời quê hương vào năm 1966, chúng tôi không nghĩ mình sang Tây phương để truyền bá Phật pháp, mà chỉ muốn ở bên đó chừng ba tháng để kêu gọi thế giới góp vào một tay vào việc làm ngưng lại cuộc chiến tranh thảm khốc ở Việt Nam. Nhưng thời thế xảy ra như vậy, chúng tôi đã không thể về nước trong ba mươi chín năm, và cố nhiên là phải làm đủ mọi cách để có thể cống hiến được những gì mình có thể cống hiến được cho thế giới Tây phương. Chúng tôi đã tu tập, đã sử dụng những yếu tố của nền văn hóa Việt Nam để giúp cho người Tây phương. Đạo Phật cũng vậy, truyền thống thờ cúng tổ tiên cũng vậy, chúng ta phải nhào nặn và chế tác trở lại, làm thế nào để những sản phẩm đó của Việt Nam có thể được xuất khẩu và được chấp nhận, fit for exportation, chứ chúng ta không thể xuất cảng một cách bừa bải. Trong bốn mươi năm, chúng tôi đã làm việc của một tòa đại sứ văn hóa của một đất nước. Chúng tôi đã cống hiến đạo Phật, chúng tôi đã cống hiến sự thực tập thờ cúng tổ tiên. Cố nhiên có những điều khác nữa. Nhưng hai yếu tố đó là những nội dung mà chúng tôi muốn chia sẻ với quý vị hôm nay. Chúng tôi đã tinh luyện, chế biến những yếu tố đó của nền văn hóa dân tộc để cho người thanh niên Tây phương có thể hiểu, chấp nhận và thực tập để chuyển hóa nỗi khổ niềm đau, tháo gỡ những khó khăn, trở về với gia đình, trở về với truyền thống tâm linh của họ, thiết lập lại truyền thông và xây dựng lại hạnh phúc. Và chúng tôi đã thành công.

Trong chuyến về thăm Việt Nam lần này, chúng tôi có một niềm tin rất lớn, nếu những pháp môn đó hữu hiệu đối với người thanh niên, trí thức Tây phương thì tại sao không hữu hiệu đối với người thanh niên và trí thức Việt Nam. Tại vì những pháp môn này hoàn toàn có gốc rễ trong nền văn hóa Việt Nam.

( Lược ghi theo bài thuyết giảng tại trung tâm Festival Huế, ngày 10.3.2005, do Trung tâm Văn Hóa Phật Giáo Liễu Quán tổ chức)

 

(Visited 64 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Giao Lưu, Sưu Tầm, Thích Nhất Hạnh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *