Việc chế tác và truyền bá chữ Quốc ngữ

| 12/09/2015 | 0 Comments

Văn Hóa | Hà Thúc Hoantruyen-ba-quoc-ngu1.Về mục đích của việc chế tác chữ Quốc ngữ, chúng ta có thể khẳng định như tác giả sách Việt Nam văn học sử giản ước tân biên:

“Việc dùng mẫu tự La-tinh để ghép vần và hoạch tả tiếng nói người Việt Nam là sáng kiến và cũng là trong nhu cầu của các nhà truyền giáo Âu châu tìm sang giảng đạo ở nước ta từ trước thế kỷ mười bảy. Việc ấy trước nước ta, họ đã làm ở Nhật,ở Tàu là những nước mà cũng như ở ta họ đã vấp phải một thứ văn tự bản xứ cổ truyền họ thấy vừa xa lạ, khó khăn vừa bất tiện, nên tìm cách thay thế bằng chữ La- tinh quen thuộc của họ” (1).

2.Về lịch sử hình thành của chữ Quốc ngữ, chúng ta có thể chia thành ba giai đoạn dưới đây:

 a. Trước A. de Rhodes, một ít chữ Quốc ngữ chưa có dấu bắt đầu xuất hiện trong bức thư của giáo sĩ người Ý là Buzomi và sau đó nhiều chữ Quốc ngữ chưa có dấu đã được sử dụng trong cuốn điều trần về xứ Đàng Trong của một giáo sĩ người Ý khác là Cristophoro Borri. Cách phiên âm của chữ Quốc ngữ giai đoạn sơ khai này chịu ảnh hưởng của tiếng Ý. Ví dụ: xin viết là scin, con nhỏ viết là con gnoo, v.v..
b.Vào nửa đầu của thế kỷ XVII, trong nhiều năm truyền giáo không liên tục ở nước ta, A. de Rhodes viết sách Phép giảng tám ngày bằng chữ Quốc ngữ có chữ La-tinh đối chiếu và soạn quyển Tự điển Việt-Bồ-La. Quyển sách và quyển tự điển này được in ở La Mã năm 1651. Trong bài tựa quyển tự điển,  A. de Rhodes có nhắc đến ba vị giáo sĩ đã góp công trong việc tạo thành tác phẩm của ông. Đó là Francisco de Pina (người dạy tiếng Việt cho ông), Gaspar de Amaral (tác giả một tập từ điển Việt-Bồ) và Antonio de Barbosa (tác giả một tập từ điển Bồ-Việt). So với ngày nay, tuy chữ Quốc ngữ trong sách và từ điển của A. de Rhodes đã có dấu nhưng vẫn còn nhiều khác biệt. Có nhiều phụ âm đơn nay viết khác. Ví dụ: bua (vua), dìn (nhìn), v.v. Có nhiều phụ âm đôi nay đã biến mất. Ví dụ: blúc blắc (lúc lắc), con tlâu (con trâu), v.v.Có nhiều vần nay đã đổi khác. Ví dụ: muấn (muốn), cũ (cung),v.v.

c. Sau A. de Rhodes, giáo sĩ Pigneau de Béhaine nhuận sắc lại quyển Tự điển Việt-Bồ-La. Công trình này bị thiêu hủy trong một trận hỏa hoạn nhưng không mất hẳn vì sau đó được giáo sĩ Taberd xây dựng lại và hoàn thành hai quyển tự điển Annam-LatinhLatinh-Annam, in tại Ấn Độ vào năm 1838. Hình thức chữ Quốc ngữ trong hai quyển tự điển này nói chung là giống ngày nay. Hai quyển tự điển này, một thời gian sau đã được hai giáo sĩ Thereul và Leserteur bổ sung một số từ ngữ lưu hành ở ngoài Bắc và cho tái bản lần đầu tại nước ta vào năm 1877 (2).

3. Như vậy, không phải chỉ mấy năm thuộc nửa đầu thế kỷ XVII với A.de Rhodes mà phải trải qua gần ba trăm năm từ đầu thế kỷ XVII (1617 với Francisco de Pina) đến gần cuối thế kỷ XIX (1877 với Thereul và Leserteur), cùng sự góp sức của hàng chục giáo sĩ phương Tây và khá đông người bản xứ có học thức, lại trải qua năm quyển từ điển, chữ Quốc ngữ mới có được hình thức như hiện nay. Cái công trình tập thể được xây dựng trong suốt ba trăm năm ấy cũng chỉ có phạm vi hoạt động hạn hẹp là các nhà thờ Thiên Chúa giáo. Lý do là vì giới trí thức Việt Nam mà đại diện tiêu biểu là Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) (3) chỉ quý trọng chữ của thánh hiền là chữ Nho có nhiều ý nghĩa và chữ của dân tộc là chữ Nôm đầy tính sáng tạo. Đối với các Nho sĩ ngày trước, chữ Quốc ngữ chỉ là những nét vẽ cong queo, ngoằn ngoèo, vô nghĩa được du nhập cùng một lần với tàu chiến và súng đạn của kẻ thù đến từ phương Tây. Chính quyền bảo hộ của người Pháp cũng không có mấy cảm tình với chữ Quốc ngữ. Với mục đích chiếm cứ và đồng hóa, người Pháp làm mọi cách để dần thay thế chữ Nho bằng chữ Pháp trong nhiệm vụ, chức năng của một thứ văn tự chính thức (4).

4.Cũng cần phải nói thêm rằng gần ba trăm năm sau khi chữ Việt sử dụng ký tự La-tinh đã được chế tác, nền văn học chữ Nôm vẫn tiếp tục phát triển rực rỡ trong suốt thế kỷ thứ XIX với những Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát.. Ngay đến thời suy vong của văn Nôm vì chính sách đồng hóa của thực dân, chữ Nôm không còn chuyên chở được nỗi niềm của Nguyễn Đình Chiểu qua những bài văn tế và các tác phẩm Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu…Tính đại chúng của Truyện Kiều, Truyện Hoa Tiên, những bài hát nói của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, những bài văn tế như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc…được xác lập trước khi chữ Việt viết theo ký tự La-tinh được phổ biến, đã khẳng định văn Nôm không khó tiếp thu như lập luận của một số người.

5.Vì thế, nếu không có những điều kiện đặc thù ở Việt Nam xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, và đầu thế kỷ XX, Việt ngữ La-tinh cũng sẽ rơi vào lãng quên như Hoa ngữ La-tinh ở Trung Quốc và Nhật ngữ La-tinh ở Nhật Bản, không thể trở thành Quốc ngữ như hiện nay. Thật vậy, báo chí đã là một yếu tố văn hóa quan trọng trong việc truyền bá chữ Việt viết theo ký tự La-tinh và chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam là tờ Gia Định báo (1865) có sử dụng chữ Việt viết theo ký tự La-tinh, ban đầu chỉ được phát hành với tính cách một thứ công báo của chính quyền thực dân Pháp, nhưng đến khi có sự đóng góp thường xuyên của những người Việt Nam theo tân học thì tờ báo này mới bước đầu có tác dụng trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ ra công chúng. Sau đó, ở miền Nam có những tờ như Phan Yến báo (1868), Nông cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh tân văn (1907)…Tuy nhiên, phải đợi đến lúc Đông Dương tạp chí (1913) và Nam Phong tạp chí (1917) xuất hiện, chữ Quốc ngữ mới bước đầu được phổ biến một cách sâu rộng trong giới trí thức Việt Nam. Một yếu tố văn hóa khác đã mang lại sức sống mãnh liệt cho chữ Quốc ngữ là dòng văn học chữ Quốc ngữ hình thành và phát triển tốt đẹp vào thập niên 30 của thế kỷ XX với sự xuất hiện của Tự lực văn đoàn, dẫn tới cả một phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ khi trí thức Việt Nam nhận định rằng cần phải sử dụng phương tiện của phương Tây để chống phương Tây. Lúc ấy,chữ Nôm đã bị bóp chết, việc sử dụng ký tự La-tinh để phát triển chữ Việt là một giải pháp hợp lý vì người Việt có thể lợi dụng những phương tiện có sẵn đang được chính quyền thực dân sử dụng với mục đích đồng hóa dân tộc mình.

6. Tóm lại, việc chế tác và truyền bá chữ Quốc ngữ dưới hình thức dùng ký tự La-tinh là một công trình tập thể kéo dài nhiều thế kỷ trong đó Alexandre de Rhodes chỉ dự phần. Không những thế, chính ông cha ta đã có những đóng góp vô cùng quan trọng để tiếng Việt dùng ký tự La-tinh có được diện mạo như ngày nay. Mặt khác, ý định chế tác chữ Việt viết theo ký tự La-tinh không nhằm trao cho người Việt một công cụ phát triển văn hóa Việt mà chỉ để áp đặt một nền văn hóa còn quá nhiều khác biệt lúc bấy giờ. Và như vậy, mặc dù chúng ta vẫn công nhận những cố gắng của các giáo sĩ phương Tây đã đi tiên phong trong việc áp dụng mẫu tự La-tinh để âm tiếng Việt, người Việt cũng không hề nợ nần ai đến mức phải đền ơn đáp nghĩa về hệ thống chữ Quốc ngữ mà dân tộc Việt đang sử dụng.■

Tài liệu tham khảo:

  1. Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1965, tr. 58.
  2. Phạm Thế Ngũ, sđd , tr. 59-tr. 62.
  3. Ngoài những bài văn tế thể hiện sâu sắc và thống thiết lòng yêu nước, nho sĩ Nguyễn Đình Chiểu đã chống thực dân Pháp quyết liệt qua những việc làm thường ngày như không dùng xà phòng, không dùng chữ Quốc ngữ v.v..
  4. Trên giấy khai sinh làm năm 1915 của mẹ tôi, chỉ có hai thứ chữ là chữ Hán và chữ Pháp.

Tạp Chí Văn hoá Phật Giáo số 88

(Visited 271 times, 1 visits today)

Tags: , , , , ,

Category: Hà Thúc Hoan, Sưu Tầm, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *