Người đàn bà nơi cửa ô

| 28/05/2012 | 0 Comments

Âu Thiên Sơn  | Tạp Chí  Văn Hoá Phật Giáo 8

Phố cổ, cửa ô xưa…người đàn bà từ xa cũ đến đây, chìm vào cuộc sống đô thị, rơi vào sự quên lãng của ồn ào phố xá. Sự có mặt, sự vắng mặt, cái đi về âm lặng, gánh hàng rong và sự đơn chiếc của bà là một hình ảnh cô quả. Nhưng nơi trú ngụ của bà thật là đặc biệt, đặc biệt với phố cổ Hà Nội nay và Thăng Long xưa, với Ban quản lý di tích, với những người ít nhiều để tâm đến di sản kiến trúc. Cuộc sống của bà, thân phận của bà gắn trọn với một cửa ô duy nhất còn sót lại của Hà Nội: Ô Quan Chưởng!

nguoi-dan-ba-noi-cua-o

Tính ra thì bà cũng đã có hơn 30 năm”thâm niên”ở cái gầm cửa ô này rồi. Bà chẳng biết nó xây từ thời nào, uy mặc trong con mắt giới sử học thế nào và luân trầm cùng thời gian ra sao. Có lẻ bà cũng chẳng biết chiếc cửa ô cổ mặc này đã đi vào âm nhạc Văn Cao, Phú Quang trầm hùng và da diết đến mức nào…Chuyện bà biết rỏ và thiết thân hàng ngày với bà là những thứ trên gánh hàng rong mà mỗi sớm bà mang ra khu chợ trong phố cổ và đem về đây mỗi tối, trong căn hầm tù mù u mịt dưới vọng lâu cửa Ô Quan Chưởng này. Đời sống này bây giờ với bà nó đơn giản lắm. Cuộc sống cứ trôi đi như thế trên đôi quang gánh với những thứ lỉnh kỉnh như thế. Nhưng bà chẳng cảm thấy gì là đơn điệu và tẻ nhạt cả. Từ sáng sớm, đóng lại cái cửa”nhà mình”được ghép lại từ những mảnh gỗ mà người ta vứt đi sau khi làm giàn giáo cốp pha xây dựng, những bước chân bà cứ đều đặn bước đi trên con đường ngõ Thanh Hà ra khu chợ.Trong mỗi dấu chân ấy là những nỗi niềm gì của bà? Chẳng nhẽ bà lại không có ưu tư gì về cuộc sống trên cõi đời này ư? Chuyện cơm áo,những buồn vui, rồi làng quê con cháu…Thời gian của bà là những câu chuyện về mua bán những món hàng dân dã ở ngoài chợ, nào dưa cà mắm muối, nào rau cháo và những thứ lặt vặt khác. Tối đêm bà mới lại về”căn hộ”của mình ngay dưới chân cửa Ô Quan Chưởng, thắp lửa vào ngọn đèn dầu cho nó leo lét cháy, lấy cái cối giã trầu, nhai theo thói quen rồi buông mùng vào giấc ngủ. Cuộc sống tưởng như chẳng có chuyện gì đáng để nói cả, bình lặng, lầm lũi đến âm thầm như chính ánh sáng trong căn hầm này. Thế nhưng nó lại gợn lên một chút gì đó đượm xưa trong cái nhìn và xúc cảm của những người hoài cũ. Cuộc sống của bà, đuôi mắt bà, cái quệt trầu và bỏm bẻm nhai…như một cỗ sử giữa sôi động thành phố, lụi lầm và cô lẻ. Những dây phơi quần áo, mạng nhện và sự chật chội chiếc giường, lớp nylon hứng mưa ở trên, chai lọ, nồi chậu, chiếc quạt nan và cầu thang thông lên trời…Không tiện nghi điện nước gì sất, ở đây không thấy một dấu hiệu nào của vật dụng hiện đại. Nhưng chỉ cần mở cái cửa cũ kỷ kia thôi, dù chỉ là mở hé, là cả một sự ồn ào đương đại, náo nhiệt và sôi động. Nếu bà cứ ngồi giường mà nhìn ra đường như thế thì cái tuổi già ngoại thất thập của bà không biết có hoa mắt không chứ chúng tôi thì chói mắt lắm. Ngược sáng mà. Hay bà ở đây lâu đâm ra thành quen rồi. Quen với khoảng cách gần tiếng còi xe suốt đêm ngày, quen với sự cách biệt với những cài hiện đại của thời buổi, quen rồi từng bậc cầu thang đi lên phía trên Ô Quan Chưởng, quen từng viên gạch cỗ và lớp vữa mạch mà ông nhà đóng đanh vào để treo các thứ…Chí ít thì cũng hơn 30 năm rồi còn gì. Bà trông coi, quét dọn di tích cũng từ ấy năm…

Lầm lụi một kiếp người

Rỏ ràng bà là dân di cư tới đất Hà thành này. Quê bà là một ngôi làng ở Kim Động , Hưng Yên. Chẳng biết duyên do gì mà vợ chồng bà lại chọn cái cổng phụ bên trái Ô Quan Chưởng này (nhìn từ phía phố Hàng Chiếu) làm nơi cư trú. Chẳng phải vì lãng mạn, yêu vẽ đẹp cỗ tích với những nét rêu phong của cái cổng thành phong kiến và đầy uy mặc này. Thôi thì bước chân cũng đã mỏi, có chỗ”chui ra chui vào”là được, ở đây cũng tốt chứ sao! Nhỉnh hơn một mét vuông, tường dầy thế kia cơ mà, chỗ này mưa gió bão bùng cũng không ngại. Ô Quan Chưởng trở thành nơi” tạm trú” của ông bà từ đó. Thế rồi nó là nơi”thường trú” lúc nào không hay. Ngày thì bà đi bán hàng, ông đạp xích lô khắp các nẻo đường Hà Nội tối mịt mới trở về. Đồ đạc trong nhà bây giờ vẫn từng ấy thứ như thuở ông nhà còn sống, còn đạp xích lô. Ngày ông bà dắt dìu nhau lên đây, ở đây cũng có ý kiến ra vào. Họ bảo trông bà có nhiều nghi ngờ lắm, hành trạng thì bí ẩn, lối sống khép kín, có những dấu hiệu rất khó hiểu, đi từ khi trời chưa sáng, nhọ mặt người mới về, ai mà biết trong đôi quang gánh của bà có những gì, không chừng có cả những tài liệu mật cũng nên…Bí mật về bà là đề tài trong các câu chuyện của khu phố, nghe có vẻ ly kỳ lắm. Họ sợ bà là điệp viên nên liền báo với chánh quyền. Chánh quyền ra lệnh trục xuất, lập kế hoạch theo dõi bà…Đời bà thì có gì mà phải theo với chả dõi. Người đời cứ dèm pha, lời người đời cứ thị phi vậy thôi chứ bà cũng phải lo cho cái thân mình chứ, nơi ăn chốn ở rồi bát cơm manh áo…Cuộc sống của mình có ra gì đâu dám”ngó ngàng”xung quanh và cả những tự ti của người quê lên phố thị nữa chứ. Chánh quyền điều tra rồi cũng kết luận chẳng có vấn đề gì cả, chẳng có chỉ điểm cho máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội, không kích cầu Long Biên, chẳng phải gián điệp, phản động…nhưng chính quyền cũng yêu cầu bà không được sống ở đây. Thế là bà phải”sơ tán”đi nơi khác. Rồi mấy bữa sau người ta lại thấy bà quay trở về trong căn hầm chân cửa Ô Quan Chưởng sinh sống…Miết rồi người dân cũng hết ngờ vực nơi bà. Riết rồi bà cũng quen chốn này, không có ý định di dời đi đâu cả. Mà biết tìm đâu giữa nơi chẳng có ai thân thích và nhiều xô bồ này. Đất Hà Nội chứ đâu như ở quê. Người ta còn phải chen chúc nhau nơi gầm cầu, sống chui rúc dưới cầu thang, những ngôi chùa, còn khu xóm lều ổ chuột thì nhiều tệ nạn với bà ở đây chẳng phải chung đụng với ai. Cuộc sống của bà hầu như chẳng đổi thay, không tiện nghi, không cả điện nước, dường như không thể tối thiểu hơn được nữa. Trước còn có ông,bây giờ còn lại một thân một mình, lầm lũi sống, lầm lũi đi qua cuộc đời không người thân, không bạn bè…Thực ra thì bà cũng có cháu con đấy chứ. Anh con trai đã lấy vợ sinh con, thi thoảng cũng lên chơi, chưa được một lát đã lại về ngay, nó còn bận công việc của nó…Và bà đã sống “Robinson” giữa nơi tấp nập trong lòng đô hội, giữa một nơi không phải ốc đảo, hoang mạc mà nhộn nhịp đèn màu và đông vui phố xá. Cuộc sống này đi qua đời bà như thế và bà đi giữa đời sống này như thế, lầm lụi và tạm bợ nơi góc tối cửa ô này.

Ô Quan Chưởng đã thuộc về 1.000 năm Thăng Long. Cái cửa ô đẹp trầm uy như thế, lại chỉ còn độc nhất ở Hà thành, còn nguyên vẹn không sứt mẻ. Thời gian dường như chỉ càng làm tăng thêm vẻ cổ kính, nét mặc trầm của cửa ô. Hoàng thành đã không còn, đã trầm tích sâu trong lòng đất vả đã lại phát lộ, chỉ cái cửa ô này vẫn đứng với niềm kiêu hãnh của mình từ xa xưa. Trước kiêu hãnh cùng người xưa, nay kiêu hùng cùng đoàn quân tiến vào giải phóng, cùng hậu thế Thăng Long. Ở đó có người đàn bà sống kiếp lầm lụi…

Âu Thiên Sơn  | Tạp Chí  Văn Hoá Phật Giáo 8

(Visited 73 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Âu Thiên Sơn, Cuộc sống

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *