Xuất xứ và ý nghĩa của ngày Vu-lan báo hiếu

| 23/08/2014 | 3 Comments

Xin cho biết xuất xứ và ý nghĩa của ngày Vu-lan báo hiếu.

Một số độc giả ở TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Đà Nẵng

Hoi dap

Vu- lan có khi được gọi là Vu-lan-bồn, Ô-lam-bà-noa, là âm Hán Việt của Phạn từ Ullambana, một chuyển ngữ của Avalambana, có nghĩa là Bị treo ngược. Ngày Vu-lan là ngày Rằm tháng Bảy âm lịch, trong ngày này, người ta thường cử hành nghi thức siêu độ cho cha mẹ, người thân từ nhiều đời, cho các vong nhân không nơi nương tựa; qua đó, ý nghĩa biết ơn, báo ơn cha mẹ thường được nêu bật. Âm Bồn trong Vu-lan-bồn bị hiểu lầm là cái chậu Vu-lan, là đồ đựng lễ vật.

Đại sử thi Mahabharata (khá lâu trước thời kỳ Đức Phật) của Ấn Độ giáo có kể chuyện người con vao địa ngục cứu cha để ca ngợi đạo Hiếu. Ý niệm báo hiếu được Đức Phật thuyết giảng khá nhiều nơi, rải rác trong các kinh Tiểu Bộ (Nikaya), ví dụ về bổn phận của con cái đối với cha mẹ trong kinh Thiện Sinh (Singalovada) và về gương báo hiếu của tiền thân Ngài trong các truyện Bổn Sinh (Jataka)…

Ý nghĩa sâu đậm về chữ Hiếu được triển khai mạnh mẽ trong một số kinh điển Đại thừa. Đại chánh tân tu Đại tạng kinh tập 16 có đăng tải các kinh nói về biết ơn và đền ơn cha mẹ: Phật thuyết phụ mẫu nan bảo kinh do Pháp sư An Thế Cao (thế kỷ II) dịch, Phật thuyết Vu-lan bồn kinh do Tam tạng Trúc Pháp Hộ (thế kỷ III) dịch và hai kinh khuyết dịch được xem là đồng bản dị dịch của kinh Phật thuyết Vu-lan-bồn. Ngoài ra, trong kinh Tâm địa quán có phẩm Báo ân cũng có chủ đề về chữ Hiếu. Lại nữa, có đến 6,7chục dớ chú bằng Hán ngữ về kinh Phật thuyết Vu-lan-bồn.

Trong kinh Phật thuyết phụ mẫu ân nan báo, nhân việc Đức Phật cúi lạy một đống xương khô bên đường, Ngài dạy Tôn giả A-nan rằng đống xương này là tổ tông, cha mẹ nhiều đời trước của Ngài. Kế đến , Ngài nêu 10 ân đức của người mẹ đối với con, 5 trường hợp người con bất hiếu với cha mẹ, nhấn mạnh ân đức cha mẹ là vô cùng to lớn, không thể nào báo đáp trọn được. Sau cùng, Ngài nêu các phương cách báo hiếu như cung phụng vật chất, an ủi tinh thần, khuyến hóa cha mẹ thực hành thiện pháp; vì cha mẹ mà giữ giới, bố thí, thí ích cho mọi người và truyền bá đạo Hiếu. Phẩm Báo ân trong kinh Tâm địa quán ghi lại lời Đức Phật dạy về đạo Hiếu cho Bồ-tát Di-lặc. Phẩm này nêu 10 đức của người mẹ đối với con và đại ý có tương đồng với 10 ân đức ở kinh Phụ mẫu ân nan báo. Tiếp đó Đức Phật nhấn mạnh rằng nếu hiếu dưỡng cha mẹ cũng chính là chân thành cúng hiến Như Lai và nhắc nhở rằng báo ân, thi ích cho chúng sanh tức là báo ân cho cha mẹ trong các đời quá khứ và cũng là báo ân Phật.

Kinh đặc biệt nói về Vu-lan và là kinh quan trọng nhất về báo hiếu, báo ân là kinh Phật thuyết Vu-lan-bồn (thường gọi là kinh Vu-lan). Kinh nêu rõ nghi thức cúng dường Phật, chư Tăng nhân ngày Tự tứ, tức là ngày Rằm tháng Bảy âm lịch, thời điểm chư Tăng chấm dứt 3 tháng an cư kiết hạ, nhằm cầu an, cầu siêu cho cha mẹ đời hiện tại và bảy đời quá khứ cũng như cho mọi chúng sanh. Đặc biệt, phần duyên khởi của kinh là sự việc Tôn giả Mục-kiền-liên đắc thần thông, quán sát các cõi, thấy mẹ Ngài do ác nghiệp đang bị đọa làm quỷ đói; Ngài bèn đem cơm dâng mẹ nhưng mẹ Ngài không dùng được vì cơm hóa thành lửa. Quá thương xót mẹ, Ngài cầu cứu Đức Phật và được Phật dạy muốn cứu mẹ thì phải nhờ uy lực của chư Tăng qua việc chân thành thực hiện nghi thức cúng dường nói trên. Cuối cùng, mẹ của Tôn giả Mục-kiền-liên được thoát thân quỷ đói mà sinh lên cõi trời.

Các kinh nói trên, nhất là kinh Vu-lan được dịch và phổ biến đầu tiên ở Trung Quốc, phù hợp với giáo lý Khổng Mạnh và tín ngưỡng của nhân dân nên kinh rất được tôn trọng, nghi thức cúng dường Vu-lan phát triển mạnh mẽ, đa dạng cùng với những biến tấu rườm rà có khi mang tính chất mê tín dị đoan. Thế rồi kinh Vu-lan và nghi thức Vu-lan lan truyền ra các nước Phật giáo Đại thừa như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên…Ý nghĩa Vu-lan được phát triển dần dần và ngày Rằm tháng Bảy âm lịch trở thành ngày truyền thống thiêng liêng của nhiều dân tộc; ngày biết ơn, báo ơn cha mẹ, ngày xá tội vong nhân, ngàycúng dường cho quỷ thần, cho cô hồn không nơi nương tựa…

Cũng nên ghi nhận thêm: Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng kinh Vu-lan không phải do ngài Trúc Pháp Hộ dịch, và còn nhiều điểm tồn nghi xung quanh kinh này cũng như một số kinh Đại thừa khác. Nhưng rõ ràng kinh phù hợp với giáo lý Phật giáo và đã tạo nên một truyền thống rộng rãi, tốt đẹp về đạo Hiếu, về tình người và sự kính mộ Tam-bảo. Do đó, người Phật tử nên kính mộ, hành trì kinh và nỗ lực duy trì và phát huy truyền thống Vu-lan.

Bàng Ẩn.

(Visited 777 times, 1 visits today)

Tags:

Category: Bàng Ẩn, Hỏi Đáp

Comments (3)

Trackback URL | Comments RSS Feed

  1. Trần Trực Ngôn says:

    Tôi là Trần Trực Ngôn, một độc giả của website. Tôi có ý kiến với bài viết của tác giả CHúc Phú về vấn đề nguồn gốc của Kinh Vu Lan Bồn, một bộ kinh mà tôi cho là có nhiều điểm nghi vấn.
    1/ Nếu nói kinh Vu lan Bồn do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán thì hơi lạ. Bởi lẽ Lễ Vu Lan Bồn không thấy xuất hiện ở các nước theo Phật Giáo Nguyên Thủy, hay Mật Tông. Ở Tây Tạng có các đại dịch giả như Ngài Marpa, Ngài Atisha,… sao các Ngài không dịch bộ kinh này đem về Tây Tạng? Vì sao Ngài Trần Huyền Trang lặn lội đến Ấn Độ thỉnh kinh không đem về bộ kinh này? Tại sao chỉ có ở Trung Quốc mới thấy bộ kinh này quan trọng mà đem ra hành trì, còn các nơi khác thì không?
    Bây giờ tưởng tượng có một tổ kiến đen đặt ở điểm A, đàn kiến đen bò đến điểm B rồi đến điểm C để lấy thức ăn. Tuy nhiên, nếu tại điểm C không có kiến đen mà toàn kiến đỏ tức là chúng không đến từ điểm A mà đến từ một nguồn ngoại lai nào đó. Có khi điểm trung chuyển B cũng chẳng có.
    Chúc Phú hoàn toàn không nêu ra được nguồn gốc kinh điển tiếng Phạn của bộ kinh này. Ngoài ra tôi cũng không tìm được tài liệu nào ghi nhận ngài Trúc Pháp Hộ đã dịch bộ kinh này. Trong kinh cũng không thấy ghi người dịch. Nếu không giải thích được những điều này e rằng Phúc Chu “gắp lửa bỏ tay người”.
    2/ Tôi có một nghi vấn thế này. Nếu như đích thực kinh này do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán, tại sao tựa đề của nó “Vu Lan” lại mang nghĩa của Tây Vực, tức các nước thuộc vùng Trung Á ngày nay? Còn “Bồn” lại mang nghĩa của Đông Hạ? Lẽ nào Đức Phật thuyết kinh này ở Tây Vực, rồi chư Tăng đến Đông Hạ cúng dường? Vô lý!
    Một cách dịch kỳ quái mà một người đã dịch nhiều cuốn kinh như ngài Trúc Pháp Hộ ắt không phạm phải. Một là Ngài để nguyên tên tiếng Phạn của nó, hai là y nghĩa mà dịch, bỏ lời theo tiếng Hán. Tuy nhiên, trong từ điển Pali-English của tác giả Rhys Davids và William Stede khẳng định không có từ này trong Phạn Ngữ và các từ điển Pali.
    Vả lại, tôi không nghĩ Đức Phật, một bậc thầy ngôn ngữ lại sử dụng một thuật ngữ kỳ dị, đánh đố chúng sanh như thế này. Trong kinh Trung A Hàm, Đức Phật thuyết về nghĩa vụ cha mẹ và con cái với nhau rất giản dị:
    “1/ Cung cấp cho con cái không thiếu thốn
    2/ Tạo dựng nghề nghiệp chân chính cho con cái
    3/ Tìm nơi xứng đáng để dựng vợ gã chồng cho con cái
    4/ Cha mẹ có của cải vừa ý đều giao hết cho con cái xứng đáng
    Phận làm con sẽ có nghĩa vụ gì?
    1/ Tăng thêm của cái để nuôi dưỡng cha mẹ
    2/ Cáng đáng việc nhà, làm tròn bổn phận
    3/ Tự giác dâng những gì theo ý cha mẹ
    4/ Không tự ý làm mà cần hỏi ý của cha mẹ
    5/ Những vật riêng đều dâng hết cho cha mẹ
    Tronng đây không có nói nghĩa vụ con cái là cầu siêu cho cha mẹ. Cũng không nói chuyện cúng dường chư Tăng để lợi lạc cho cha mẹ. Vả lại, dịch theo nghĩa trong “Nhất thiết kinh âm nghĩa” , “cứu đảo huyền bồn “ là “cái bồn cứu khổ nỗi đau cùng cực”! Tôi không cách nào chấp nhận được ý nghĩa này từ lời một Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuyết. Đức Phật đã dạy Quy Y Phật không thờ Thiên, thần, quỷ, vật. Vậy mà Ngài lại có một bộ kinh nói về cái bồn có thể cứu chúng sanh? Trong khi một vị A la hán không làm được! Ngài cũng bảo rằng độ chúng sanh không có duyên là một trong 4 việc Ngài không làm được, vậy mà « cái bồn » làm được sao ? Ngày từ cái tựa đề đã bộc lộ một sự phỉ báng trầm trọng.
    Tiếp theo, « cái khổ treo ngược » là loại khổ gì ? Kinh Vu Lan cũng không thấy nói ai bị treo cả. Có phải là râu ông nọ cắm cằm bà kia hay không ? Chúc Phú càng trích dẫn càng thấy rõ cái ngụy tạo bất minh của bộ kinh này.
    3/ Đức Phật hoàn toàn không thuyết ngày Tự Tứ là ngày « người ta mua sắm thực phẩm, đặt cổ bàn linh đình, dâng cúng Phật tăng để cứu cái khổ treo ngược (đảo huyền) của người đã mất”. Đọc đến đây đã thấy sai trầm trọng theo Tứ Pháp Ấn nhà Phật.
    « Pavāraṇā thường được dịch là Tự tứ, và từ này đã được dùng phổ thông trong Phật giáo. Tuy nhiên, ý nghĩa chính thức và chủ yếu của từ Pavāraṇā có nghĩa là sự thỉnh cầu (pavāreti), sự yêu cầu hay nói cách khác là sự thỉnh tội, tức là thỉnh cầu chư Tăng chỉ lỗi, nhắc nhở, khuyên bảo bằng tâm từ do thấy, do nghe, do nghi để vị Tỳ khưu đương sự thấy lỗi của mình mà sửa sai và hoàn thiện bản thân.”
    Phật thuyết trong Luật Tạng, Đại Phẩm, Chương IV rằng:
    “Này các Tỳ khưu, đối với các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ta cho phép thỉnh cầu dựa trên ba tình huống là do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ. Bằng cách ấy, các ngươi sẽ có được sự hòa thuận lẫn nhau, có được sự thoát ra khỏi tội, và có được sự hiểu rõ thêm về Luật.”
    Đức Phật hoàn toàn không hề nói đến việc cúng dường linh đình hay cầu siêu. Có thể thấy nguồn trích của Chúc Phú là lệch lạc., tự viết theo ý mình.

    4/ Tôi cũng không khỏi buồn cười khi thấy sự bịa đặt trắng trợn của “Bồn” này mà Chúc Phú cho là “chuyện nhỏ”. Lại nói về việc phải cúng kiếng cầu siêu vào ngày Rằm Tháng Bảy, Tôi thấy đây không phải lời dạy Đức Phật, bởi lẽ
    “Trong Tăng Chi Bộ I, chương 3, phẩm Cát tường, phần Buổi sáng tốt đẹp, có ghi:
    “Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo: Các loài hữu tình nào, này các Tỳ kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ kheo, có một buổi sáng tốt đẹp.
    Các loài hữu tình nào, này các Tỳ kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ kheo, có một buổi trưa tốt đẹp.
    Các loài hữu tình nào, này các Tỳ kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện, các loài hữu tình ấy, này các Tỳ kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.”
    Như vậy, ngày nào, giây phút nào chúng ta có thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ý nghĩ điều thiện thì ngày đó, giây phút đó chính là ngày tốt, giờ tốt”.
    Thực vậy, từ cách đây hơn 2500 năm, Đức Phật đã khẳng định chân lý bất biến của luật Nhân Quả như vậy. Cũng như gieo thóc được gạo, gieo…cám thì chẳng được gì. Ngày mà ta gieo nhân Thiện Lành, gieo Bồ Đề Tâm thì ngày ấy ta được quả tốt. Ngày mà ta gieo nhân tà kiến, si mê, ngu muội thì dù ngày tốt tới đâu cũng chẳng có gì tốt đẹp đến với ta cả.”

    Chư Phật luôn giảng dạy chúng sanh theo luật tắc Nhân Quả. Như vậy không có chuyện chỉ có ngày rằm tháng Bảy mới là ngày lành được mười phương chư Phật gia hộ?! Còn các ngày khác trong năm chư Phật mười phương không gia hộ được? Bản Kinh này hạ thấp tấm lòng tư bi và tinh thần “Niết Bàn Tịch Tĩnh” của chư Phật mười phương của ba thời!
    Ngày này lại trùng hợp một cách đáng ngờ với ngày với Ngày Tết Trung Nguyên của người Hán. Tôi cũng không nghĩ Đức Phật quan trọng một ngày tháng đặc biệt trong năm như vậy với Tăng chúng bởi Ngài thuyết “Thế gian là vô thường”.
    Quả thật những tư liệu Chúc Phú trích dẫn ra hoàn toàn “gậy ông đập lưng ông” khi cho thấy rõ cái Tà Kiến ngụy tạo của kinh Vu Lan Bồn. Và cũng lạ rằng một người học Phật “đơn sơ gìn giữ Đạo” mà pháp danh là “Chúc Phú” theo kiểu thế gian? Tôi thấy là “Chúc Bần” thì có bởi lẽ những luận giải của ông ta cho thấy một sự khánh kiệt về Gia Tài Thất Thánh Tài nhà Phật. Những ai tin theo Tà Kiến của ông ta cũng sẽ “phá sản hàng loạt” như thế. Từ đây con nhận thấy rõ người tu cần phải trang bị Trạch Pháp Nhãn cẩn thận trước những Ngụy Kinh nguy hiểm này.
    “Nếu ngộ nhận về kinh điển nhà Phật, theo đó mà làm, sẽ không những không được gì mà còn hại cho thân căn huệ mạng cả ngàn kiếp sau”
    “Điều không phải Phật thuyết mà khẳng định là kim khẩu của Ngài; việc mà Phật không làm mà khẳng định là Phật huấn thị; quán niệm không phải của Phật mà khẳng định là chánh tư duy. Đây là tội đại vọng ngữ, lầ tội phỉ báng Phật pháp, gây ra nhân ác là đọa vào địa ngục vô gián. Điều này đã được Phật khuyến cáo trong nhiều kinh, trong đó có Đại Bát Niết Bàn, Thủ lăng nghiêm…, đề phòng kẻ đội lốt nhà sư, người tu Phật mà phá hoại đạo Phật.”
    Từ những lập luân trên, tôi cho rằng kinh Vu Lan Bồn là một Ngụy Kinh. Việc hành trì kinh này đưa đến Nhân phỉ báng Giáo Pháp nhà Phật. Đề nghị BBT trang mạng gỡ bỏ bài viết của tác giả Phúc Chu nhằm tránh gây hoang mang cho cộng đồng Phật Tử.
    Kính bút,
    Trần Trực Ngôn.

  2. Trần Trực Ngôn says:

    =

    Tôi đã hết sức bất ngờ khi được biết “Vu lan bồn” là một bộ ngụy kinh
    Nói về kinh “Vu Lan Bồn”, bản thân tôi đã hết sức bất ngờ khi được biết đây là một bộ ngụy kinh. Nhưng với lập luận chặt chẽ sắc bén từ Đáo Bỉ Ngạn tiên sinh, tôi đã thực sự “tâm phục khẩu phục”. “Vu Lan Bồn” đích thực là một nguy kinh dưới ánh sáng soi chiếu của Trạch Pháp Nhãn nhà Phật. Sự kiện này giúp tôi hiểu thêm vai trò của Trạch Pháp Nhãn, cũng như thực nghĩa của Hiếu Đạo theo lời Đức Phật và Thánh Chúng truyền dạy.
    Từ đây có thể thấy, không phải Tiến Sỹ, học giả nào, dù là trong đạo Phật, cũng có gia tài Tàm Quý. Không phải lời nào họ nói ra, niềm tin dân gian nào họ cổ súy cũng là chân lý.
    Cách đây khoảng 70 năm, thế giới đã oằn mình gánh chịu hậu quả nặng nề do trùm phát xít Adolf Hitler gây ra. Hắn ta có một câu nói như thế này: “Mọi lời nói dối, dù nhỏ hay lớn, khi nói ra thì mọi người sẽ đều tin nếu bạn nhắc lại nó đủ nhiều. Vấn đề mấu chốt là người ta có đủ can đảm để nói dối hay không mà thôi”.

    “Mọi lời nói dối, dù nhỏ hay lớn, khi nói ra thì mọi người sẽ đều tin nếu bạn nhắc lại nó đủ nhiều. Vấn đề mấu chốt là người ta có đủ can đảm để nói dối hay không mà thôi”. (Trùm phát xít Đức – Hitler)
    Và đó là cách trùm phát xít tẩy não hàng triệu người dân Đức thảm sát vô tội và người Do Thái, gây ra nạn diệt chủng tràn lan khắp nơi nơi. Hắn biết uy lực của lời nói dối tăng cườn từ ngày này qua tháng nọ sẽ khiến không còn mấy ai đi tìm sự thực nữa. Và đó cũng chính là cách mà các ngụy kinh, ngụy thư ác hại đến chúng sanh cõi Ta Bà. Nói theo ngôn ngữ của triết gia Heidegger (Đức): “tôi người trở thành “nô lệ” cho “đế quốc người ta “. Tức là tin theo một cách mù quáng những niềm tin vô lý, được rao giảng, được truyền từ một tầng lớp, một giáo phái, một hội nào đó. Ngôn ngữ nhà Phật gọi là “nô lệ tâm linh”.
    Dĩ nhiên, nếu được hỏi thì không ai trong chúng ta muốn bị “nô lệ” cả. Nhưng khi không có người chỉ cho ta cách thoát ra. Chúng ta vẫn dễ dàng trở thành “nô lệ” của những kẻ “phát xít tâm linh”, rao giảng những niềm tin, những ngụy kinh vô căn cứ. Đức Phật là một vị Thầy vĩ đại của cõi Ta Bà này. Ngài dạy pháp Giải Thoát chứ không dạy pháp “nô lệ”. Ngài tuyên thuyết chúng sanh “Duy Tuệ Thị Nghiệp” để chúng sanh biết sử dụng trí tuệ, tức Chánh Tư Duy mà nhìn thấu bản chất vấn đề. Trong kinh Kalama, Phật dạy rằng:
    “Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó thường nghe nhắc nhở đến luôn. Đừng tin tưởng điều gì mà điều đó là một tập tục đã qua cả ngàn xưa để lại. Đừng tin tưởng những giáo điều hay bất cứ một điều gì mà người ta thường nói đến nhiều quá. Đừng tin tưởng bất cứ điều gì, dù cho điều đó là bút tích của thánh nhân xưa để lại bảo ta phải tin. Đừng tin một điều gì dù điều đó ở dưới mãnh lực của ông thầy hay nhà truyền giáo. Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy”. (Kinh Kalama – Tăng chi bộ I).
    Tôi may mắn được làm đệ tử nhỏ của Đức Phật. Từ Ngài, tôi học được cách thức vận dụng trí tuệ, đào sâu Chánh Tư Duy, vận dụng Thánh Giáo Lượng để quán xét vấn đề. Từ bài viết của tác giả Đáo Bỉ Ngạn, lời khai thị của Hòa Thượng Tuyên Hóa, có thể thấy các Ngài đã vận dụng sắc bén Thánh Giáo Lượng làm rõ bản chất kinh Vu Lan Bồn.
    Cụ thể, kinh Vu Lan Bồn diễn tả sai lệch tâm thức một vị A La Hán đã “Lậu Tận Thông” mà còn đau khóc, luyến ái vì mẹ. Sai lệch hình ảnh một bậc đã “đơn sơ gìn giữ Đạo” mà lấy đâu ra vô số vật cúng dường. Sai lệch với tinh thần Tứ Y Cứ nhà Phật. Sai lệch dữ kiện lịch sử với 500 vị A La Hán. Gián tiếp tạo ra hình ảnh Đức Phật “nhất bên trọng, nhất bên khinh” khi giúp mẹ ngài Mục Kiên Liên, tôi cha mẹ các vị khác thì sao?…

    Thế mà hôm nay Chúc Phú vẫn cố sức cãi chày cãi cối rằng kinh này “có thực” bằng vô số dẫn chứng Đông Tây Kim Cổ. Nếu kinh này không “có thực” thì làm gì có lễ Vu Lan, làm gì có những Tà Kiến cúng kiếng thờ tự đi kèm. Ông Chúc Phú làm một việc “vẽ rắn thêm chân”. Cái độc giả cần biết là cái “ngụy tạo” của bộ kinh này. Không cần biết là ai ngụy tạo nhưng nó không phù hợp với tinh thần nhà Phật tức nó không phải chân kinh. Tôi thật lấy làm lạ sao có người học vị Tiến Sĩ mà không phân biệt được chữ “Ngụy” với chữ “Giả” mà lôi hết kiến thức Đông Tây ra chứng minh nó “có thực”. Đúng là nó “có thực” nhưng chỉ là có thực ở dạng vật chất, ở dạng câu chữ. Không có bất kỳ thực nghĩa tâm linh nhà Phật nào trong đó cả.

    Hoặc giả tôi hiểu rằng ông Chúc Phú cố gắng sử dụng liên hệ của kinh này với các kinh điển Nguyên Thủy, với các tiến sĩ danh tiếng abc để bảo chứng cho nó. Xin lỗi nhưng ví dụ vẹt và đại bàng đều cùng một nguồn gốc nhưng trong khi đại bàng oai dũng bay lên bầu trời giải thoát thì tôi vẹt chỉ biết ở trong phòng nhai đi nhai lại những điều ngu ngốc mà thôi.

    Khi còn tại thế, Đức Phật biết trước sẽ có nhiều trường hợp vị kỷ, bộ phái sẽ “chế tác” ra ngụy kinh (loại kinh văn không do Đức Phật tuyên thuyết) nên “chế định” bằng những nguyên tắc thẩm định như sau:
    1. Định nghĩa: Kinh là gì? Là những lời dạy của Thánh chúng (Phật, Bồ tát, A la hán, Thánh tăng, Thánh giả) được viết ra, ghi chép lại. Những ai không thuộc đối tượng trên không thể được gọi là kinh chẳng hạn Tiên, Thiên, A tu la, Quỷ thần, Người, Phàm tăng)
    2. Nguyên tắc thẩm định: Kinh được gọi là chính thống khi phản ánh được những nguyên lý Phật gia được nêu ra trong đạo Phật:
    1/ 3 yếu tính giác ngộ (yếu tố cốt lõi) XẢ LY, BỒ ĐỀ TÂM, TÁNH KHÔNG
    2/ Tứ pháp ấn: (1) Pháp vô ngã (2) Thọ thị bất tịnh (3) Tâm vô thường (4) Niết bàn tịch tĩnh. Có thể hiểu (1) và (2) là quán chiếu Tánh không (3) quán chiếu Xả ly (4) quán chiếu Bồ đề tâm”
    Đây chính là sự “bảo chứng” chắc chắn nhất về kinh điển mà Đức Phật tuyên thuyết. Những gì không đáp ứng được các tiêu chuẩn này không thể đem ra làm bảo chứng. Bất kể ông Chúc Phú có “copy+paste” lời hòa thượng, thượng tọa, tiến sỹ nào đi nữa. Phổ cập cho truyền thống vô minh, ra khỏi quỹ đạo Giải Thoát, chẳng khác gì bè lũ “phát xít tâm linh”, đang cố gắng biến người tu thành “nô lệ tâm linh” mà thôi.
    Tôi tin chắc rằng những kẻ “phát xít tâm linh” này rồi đây sẽ phải thất thủ trước những Thiện Tri Thức dũng cảm bước đi trên con đường của Đức Thế Tôn.

    Trần Trực Ngôn tôi cầu nguyện cho niềm tin mù quáng vào kinh Vu Lan Bồn của chúng sanh tan thành tro bụi trước ngọn đuốc Chánh Pháp Phật Đà. Cầu nguyện chư Kim Cang Hộ Pháp khiến cho những kẻ rao giảng ngụy kinh này và thực hành theo chịu quả báo do “nắm lấy đuôi tôi rắn” này.

    Kính bút,
    Trần Trực Ngôn.

  3. Ngọc Bích says:

    Tôi không đồng tình với nội dung bài viết này. Bản thân khi đọc bản kinh Vu Lan Bồn đã thấy rõ sự nguỵ tạo của kinh này. Mục Kiều Liên đã đắc Alahan cớ sao vẫn còn tình cảm luyến ái thế gian đến nỗi kêu khóc cầu cứu đức Phật cứu giúp mẹ mình? Đạo Phật là đạo vô duyên từ bi, chẳng phải đức Phật thương chúng sanh như con mình hay sao, tại sao Mục Kiều Liên không giải khổ cho các chúng sanh khác nữa mà chỉ lo cho mỗi mẹ của mình. Đức Phật đã từng đứng lại cúi lạy một đống xương khô chẳng phải vì Ngài cho rằng có thể đống xương đó từ vô thuỷ kiếp trước từng là cha mẹ của Ngài hay sao. Vì vậy các chúng sanh khác trong địa ngục cũng xứng đáng được Mục Kiều Liên cứu lắm chứ? Hơn nữa, sự kêu khóc của Mục Kiều Liên là trái với trạng thái Niết Bàn Tịch Tĩnh theo tinh thần Tứ Pháp Ấn của nhà Phật (chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, thọ thị bất tịnh, niết bàn tịch tĩnh) mà một vị đắc Alahan đạt được. Sự vô lý hiển hiện như vậy mà tác giả vẫn nhắm mắt tin bừa quả thật bó tay.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *