VỀ SỐ TIỀN MINH VƯƠNG BIẾU HÒA THƯỢNG THẠCH LIÊM   ĐỂ TRÙNG TU TRƯỜNG THỌ AM |   NGUYỄN ANH HUY  (Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 20)"/>

Về số tiền Minh Vương biếu HT. Thạch Liêm

| 21/10/2012 | 0 Comments

      VỀ SỐ TIỀN MINH VƯƠNG BIẾU HÒA THƯỢNG THẠCH LIÊM   ĐỂ TRÙNG TU TRƯỜNG THỌ AM |   NGUYỄN ANH HUY  (Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 20)

So tien Minh Vuong bieu HT Thach Liem

Thạch Liêm Thích Đại Sán (1633-1702) một Thiền sư ở Quảng Đông (Trung Quốc), năm 1695 đã được Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) mời sang Thuận Hóa hoằng dương Chính pháp. Sau một năm ở Đàng Trong (Việt Nam), Hòa thượng trở về Trung Quốc, nhân đó viết Hải ngoại kỷ sự. Quyển Nam du ký này đã được Ủy ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam – Viện Đại học Huế xuất bản năm 1963, trong đó , quyển V, trang 200-202, Hòa thượng đã viết:

“Ngày hôm sau, vương tiếp kiến mừng rỡ, ân cần cùng nhau thuật lại mối tình cưu nhớ. Vương hỏi rằng: “Nghe nói kinh các, nơi thường trú của lão hòa thượng, xây cất chưa xong phải chăng?”. Ta đáp rằng: “… Chỉ còn đại hùng bảo điện… chưa làm mà thôi” Vương hỏi: “Sở phí cừng bao nhiêu?”. Ta nói rằng: “Nếu làm trọn cả, phải tốn độ 7, 8 ngàn vàng (đồng?) nhưng nay vật liệu đã có chừng 3, 4 ngàn, chỉ thiếu 5 ngàn lượng nữa là xong việc”. Vương sốt sắng bảo rằng :“Lão hòa thượng qua đây, ta may được làm đệ tử nhưng tự thẹn chưa làm được gì để đền đáp công đức . Nay lương tiền xây cất đại điện, ta xin hoan hỷ đảm phụ. Sang năm, lúc lão hòa thượng trở về, xin tùy ý xây cất, hao tốn bao nhiêu ta chẳng tiếc”…”.

Phần cuối sách kể trên, có “Bài khảo cứu Hải ngoại kỷ sự” của GS. Cheng Ho, phần “ II Tiểu sử của Thích Đại Sán”trang 246, cho biết “ Vương Sĩ Trinh, Ngư Dương Sơn Nhân làm bộ sách Phân cam dư thoại, từng công kích gắt gao việc làm và nhân cách của Đại Sán. Bài ấy viết rằng: “Quảng Châu có yêu tăng tên Đại Sán, tên chữ Thạch Liêm… xuất thân rất bần tiện… tính sâu độc… hằng ngày hầu chực các nhà đương sự có thế lực… để dua my các quý nhân; càng được thân cận, chừng ấy không còn kiêng sợ chhi nữa… Năm Giáp Tý (1684) ta vâng sứ mạng đến tỉnh Việt, nghe chuyện, trong lòng rất ghét, sau nghe y buôn lậu qua An Nam, chở về hàng thuyền báu vật, như sừng dê, ngà voi, châu ngọc, san hô,,, trị giá hàng vạn, mà các quan địa phương chẳng ai làm khó dễ gì”.

Sự phê phán của Vương Sĩ Trinh, Ngư Dương Sôn Nhân, những người cùng thời với Thích Đại Sán, tất nhiên phải có lửa mới có khói, cho nên ngày nay cũng có nhiều độc giả cho rằng “ngũ thiên kim (5 ngàn lượng)” mà Minh Vương hoan hỷ với Thích Đại Sán để trùng tu am Trường Thọ (Quảng Đông ) tất nhiên phải là 5.000 lượng vàng, để rồi phụ họa thêm cho những nhận định của họ Vương và họ Ngư Dương. Ở đây, không bàn về đạo đức của một danh tăng, bởi đó là vấn đề rất nhiêu khê, mà chỉ bàn một khia cạnh nhỏ là số tiền “ngũ thiên kim” được hiểu và dịch thế nào cho đúng.

Luận về tiểu sử Thích Đại Sán, tr 252 sách trên GS Cheng Ching Ho viết tiếp : “…Đến như Đại Sán làm việc buôn lậu, thì sự hiềm nghi lại càng đậm đà tăng thêm. Cứ theo Hải Ngoại kỷ sự kỷ thuật lúc Đại Sán khởi hành từ Quảng Đông: Tăng chúng đi theo hơn 50 người, hành lý cũng nhiều, thuyền chủ nhìn nhau không biết sắp đặt cách nào, phải đem khách hàng chuyên lui Dương Thành (Quảng Đông), còn phải chia một nửa Tăng chúng, hành lý cho tháp tòng 2 thuyền đi sau” Đoạn văn ấy có thể chứng thực hàng hóa Đại Sản đưa qua Quảng Nam, vì mục đích tặng biếu hay buôn bán, quá nhiều một cách lạ lùng… Phúc Chu hưởng ứng…khẳng khái xuất ra 5.000 lượng bạc (Ngủ thiên kim) để cúng làm kinh phí kiến trúc Trường Thọ am đại điện…”

Ở trang 267, “Bài khảo cứu …” giáo sư viết tiếp “Lúc nói chuyện xây cất chùa Trường Thọ, Minh Vương khẳng khái phát nguyện 5.000 đồng, đảm phụ kinh phí kiến đại điện chùa ấy”.

Qua đó , ta thấy số tiền “ngũ thiên kim”đã được hiểu  rất nhiều cách : Khi thì 5.000 lượng vàng, khi thì 5.000 lượng bạc, khi thì chỉ 5.000 đồng !

Về sự việc này, Đại Nam liệt truyện tiền biên (Quốc sử quán triều Nguyễn, Cao Tự Thanh dịch, NXB KHXH , 1995 ) trang 262 chép không rõ lắm: “209. Hòa thượng Thạch Liêm cáo từ trở về Quảng Đông, chúa tặng cho rất hậu, lại ban cho gổ quý để xây chùa Trường Th …”.

Nếu “ngũ thiên kim” ấy chỉ là 5.000 đồng tiền, tức chỉ 8 quan 3 tiền 20 đồng, thì là một số tiền quá nhỏ không thể đủ để xây cất một đại điện được, cho nên đó phải là 5.000 lượng bạc hoặc 5.000 lượng vàng.

Xem lại một số đoạn khác trong Hải ngoại kỷ sự liên quan đến tiền tệ, như quyển V, trang 209, Thạch Liêm viết: “Lúc ta đang đau nằm tại Hội An, Quả Công hai ba lần xin cử Lưu Thanh làm chức cai phủ, quản lý hàng hóa ngoại quốc. Ta vô tình nghe lầm. làm như tiến cử, liền được quốc vương phê chuẩn. Theo lệ cũ, Lưu Thanh phải nạp bạc thuế một vạn lượng, hạn trong 10 ngày nạp đủ. Lưu cầm cái giấy có chữ quốc vương phê, chạy khắp nơi cưỡng bức dân chúng để vay mượn”. Sau khi biết được hành động của họ Lưu, vị hòa thượng đã viết thư cho chúa (trang 212, sđd) để đề nghị bãi chức như sau: “ ưu Thanh lại dùng 3.000 lượng vàng làm mồi, muốn cho lão tăng điên đảo thị phi, nói vô một lời với nhà vua để cho nó được việc, thế thì thiệt buồn cười quá. Sao nó chẳng nghĩ lão tăng được quốc vương thành tâm khẩn cầu qua đây để quy y, quốc vương cung dưỡng, mỗi việc đều long trọng chu đáo. Nếu lão tăng có việc công đức chưa hoàn thành, ắt quốc vương cũng hoan hỷ thành tựu, sá gì vật ô uế nhỏ mọn ấy. Thử xem lão tăng ở vương quốc gần một năm nay, chưa từng chịu lời của ai lo lót gửi gấm, để cầu quốc vương dụng tình bao giờ. Lúc đầu vì không biết nên tiến cử lầm…”.

Bàn luận đoạn trên , GS Cheng ChingHo , ở trang 269, viết : “ Đại Sán chưa kịp xét rõ, tiến cữ Thanh lên quốc vương, liền được quốc vương phê chuẩn và khiến chiếu theo lệ cũ, trong 10 ngày trình nạp đủ 1 vạn bạc”.

Nghiên cứu lại cách dùng vàng bạc thời ấy, ta thấy Đại Nam thực lục ( NXB Giáo Dục, Đà Nẵng, 2004) tập 1, trang 115 ,có viết : “Nhâm Ngọ, năm thứ 11( 1702 )… Mùa hạ , tháng 5,…sai bọn Hoàng Thần, Hưng Triệt đem quốc thư và cống phẩm (kỳ nam 5 cân  4 lạng, vàng sống 1 cân 13 lạng 5 đồng cân, ngà voi hai chiếc nặng 350 cân, mây song hoa 50 cây) sang Quảng Đông để cầu phong (Thần và Triệt người Quảng Đông nước Thanh, theo Hòa Thượng Thạch Liêm đến yết kiến, nhân đó chúa sai đi)…”

Tác giả Lê Thành Khôi trong sách Le Việt Nam, Histoire et Civillisation, Paris, les é ditions de minuit, 1955, phần “Tableau des poisds mesures et monaines”. ở trang 551-553 , cho biết tỷ lệ các đơn vị trọng lượng ngày xưa như sau:

1 cân = 16 lạng( cũng đọc là lượng ) = 604, 5 gram ; 1 lạng = 37, 783 gram

1 lạng =10 tiền =100 phân =1000 ly =10.000 hào = 100.000 ty = 1.000.000 hốt

Nếu “ ngũ thiên kim” là 5.000 lạng vàng, tức hơn 300 cân vàng ( so với vàng sống làm cống phẩm cầu phong là việc rất lớn mà chỉ chưa đầy 2 cân) là một tài sản quá lớn, e không phù hợp !

Hán Việt Tự điển của Thiều Chửu (NXB VHTT, 2005) trang 633: “Kim…2, vàng…3, tiền tiêu… nên tiền tệ gọi là kim. Tục gọi một lạng bạc là nhất kim”. Từ Hải, Từ Nguyên và Khang Hy tự điển cũng đều giải thích như thế.

Lại nữa, Lê Quý Đôn, trong Phủ Biên tạp lục trang 233 còn cho biết thêm “Ở Trung Quốc tiêu bạc nhiều, tiêu tiền it, đàn bà trẻ con ở dân gian có mua bán vật nhỏ đều dùng bạc, thường cầm cân tiểu ly để cân từng phân hào, thuế khóa cũng thu bằng bạc không thu tiền”.

Từ các chứng lý trên, tôi cho rằng: “ngũ thiên kim” mà Minh vương biếu Hòa thượng Thạch Liêm chính là 5.000 lượng bạc. Và qua đây, xin đề nghị khi tái bản Hải ngoại kỷ sự, cần đính chính các điểm nói về tiền tệ mà bản dịch không được thống nhất đã nêu trên.

NGUYỄN ANH HUY 

 

(Visited 143 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Nguyễn Anh Huy

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *