Hiểu để chung sống và phát triển

| 31/07/2013 | 0 Comments

Bên tách trà | NGUYỄN ĐẮC XUÂN (Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số  35)

                            ( Trò chuyện với TS NGUYỄN BÁ CHUNG)

LTS: Tiến sĩ Nguyễn Bá Chung là thành viên của Trung tâm William Joiner, một trung tâm văn hóa liên hệ thân thiết với VN trong vài năm gần đây. Nguyễn Bá Chung là học giả, nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học tại đại học Massachusetts Boston, ông là chiếc cầu nối cho nhiều mối quan hệ, giao lưu giữa trí thức, văn nghệ sĩ đương đại của Hoa Kỳ và Việt Nam. Ông là một Phật tử thuần thành. VHPG giới thiệu cuộc trò chuyện giữa nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân với ông tại Hoa Kỳ trong tháng Tư vừa qua.

hieu-de-chung-songNguyễn Đắc Xuân (NĐX):Trung tâm mang tên William Joiner, xin anh cho biết tiểu sử của quý danh ấy.

Nguyển Bá Chung (NBC): Đó là tên của một cựu binh Mỹ phục vụ ở Okinawa. Suốt thời gian ở đó ông được giao trách nhiệm khuân những thùng phuy chứa chất độc da cam từ trong kho ra sân bay  đưa lên phi cơ để chở qua rải ở VN. Sau chiến tranh, ông trở về làm Giám đốc cựu vụ ở Đại học Masssachusetts ở Boston. Với chức vụ đó, ông tận tình giúp đỡ các cựu binh Mỹ đã từng tham chiến ở VN. Ông hoạt động rất hăng say vì trong thời gian đó, các cựu binh Mỹ khi trở về thường không được đối xử tốt ở trong cộng đồng. Một thời gian sau, ông bị ung thư gan và mất. Người ta nghi ông b5 ung thư vì ảnh hưởng của chất độc da cam. Và, chính vì chương trình ông đã hết lòng giúp cho cựu binh Mỹ- tiểu bang Mass đã có điểm rất hay  là các cựu binh Mỹ đều có quyền đi học các đại học công của nhà nước  mà không phải trả tiền học phí. Từ trong các sinh viên khởi lên một phong trào nỗ lực giúp đỡ các cựu binh vượt qua các khó khăn mà họ gặp phải trong môi trường đại học. Trung tâm William Joiner (WJC) – nghiên cứu về chiến tranh và những hậu quả của chiến tranh ra đời trong bối cảnh đó. Với mục tiêu là nếu chúng ta thực sự hiểu hậu quả của chiến tranh thì chúng ta sẽ không muốn có một cuộc chiến tranh nào nữa. Vì vậy mà các ông Giám đốc trung tâm đầu tiên là những cựu binh chiến tranh VN – khởi đầu là Paul Atwood và Tom Lott đồng Giám đốc, rồi tới Paul Atwood và Paul Watanabe, rồi tới Kevin Bowen và David Hunt. Đến năm 1984, ông David Hunt trở về dạy sử toàn thời gian nên chỉ còn ông kevin Bowen làm Giám đốc từ đó đến bây giờ.

NĐX: Trung tâm thành lập năm  nào?

NBC: Năm 1982. Tháng 11/2007 này sẽ kỷ niệm 25 năm ngày thành lập.

NĐX: Xin anh cho biết những hoạt động chính của Trung tâm trong 25 năm qua gồm những gì?

NBC: Trung tâm là một bộ phận của Đại học công Massachusetts, có nhiệm vụ chính là đấu tranh bảo vệ quyền lợi của cựu binh cho tất cả các cuộc chiến tranh mà Mỹ có liên hệ.Tổ chức quan hệ với Quốc hội Mỹ ở Washington. Nếu có những luật lệ gì ảnh hưởng đến quyền lợi của cựu binh thì họ sẽ đánh giá, thẩm định, để vận động bổ túc  hay thay đổi. Hay họ đề xướng những chính sách mới. Chẳng hạn như cuộc chiến tranh Iraq bay giờ, thành phần tham chiến rất khác với các cuộc chiến tranh trước: gần một nửa là vệ binh của các tiểu bang. Họ là những người lớn tuổi đã có gia đình, công ăn việc làm, đứng đầu nhiều cơ sở làm ăn, v.v…Sự vắng mặt sau một năm ở Iraq về sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với công việc của họ. Các cuộc chiến tranh trước phần lớn là thanh niên. Đang có một số đề nghị để giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh vừa là chủ gia đình vừa là chủ các công ty mà phải vắng  mặt  một, hai năm. Ngoài vấn đề đối với Quốc hội có tính cách liên bang, Trung tâm cũng làm việc với Quốc hội của tiểu bang với mục đích tương tự. Họ cũng nghiên cứu các vấn đề có ảnh hường  lớn đối với cự binh, ví dụ như vấn đề sức khỏe, giáo dục v.v.. khi trở về hội nhập với xã hội…Đặc biệt là trung tâm này, những người thành lập Trung tâm là những người đã tham chiến ở VN thuộc các gia đình bình thường ở Mỹ chứ không phải gia đình giàu có. Khi tham chiến trở về, họ được hưởng quy chế đại học miễn phí. Sau khi tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ, một số trở thành những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi. Xuất phát từ bối cảnh đặc biệt đó, trung tâm này đã  vận dụng văn thơ, nghệ thuật v.v.. hỗ trợ cho mục tiêu của họ, tức là nêu lên những hậu quả tàn khốc của chiến tranh để nước Mỹ tránh rơi vào những hoàn cảnh như đã rơi vào ở VN.

NĐX: Xin anh dẫn chứng cho một số nhà thơ, nhà văn đã thành đạt như anh nói.

NBC: Họ phần lớn là những giáo sư Đại học, ví dụ như Kavin Bowen, vừa là giáo sư, vừa là nhà thơ, nhà văn đã có những giải thưởng  về văn học – Pushcart Prize, Massachusetts Cultural Council, National Foundation For the Arts v.v..Chẳng hạn Tim O`Brien, một trong những nhà văn số 1 của Mỹ viết về chiến tranh VN – “Những thứ học mang theo” (The Things They Carry), với giải văn chương quốc gia (National Book Award), giải Prix du Meilleur Livre Etranger, v.v.. hay Larry Heinemann, giải thưởng văn chương quốc gia của Mỹ với tác phẩm Pasco Story và gần đây nhất là cuốn tự truyện về Núi Bà Đen (Black Virgin Mountian) . Hoặc Yusef Komuyakaa, nhà thơ, giải thưởng Pulitzer. Hoặc Martin Espada, nhà thơ, giải thưởng American Book Award và được chọn vào danh sách chung kết của giải thưởng National Book Award. Hoặc  bà Grace Paley, thi bá của tiểu bang  NữuƯớc, thường được coi là “Người Mẹ của phong trào phản chiến VN” đồng thời cũng là người viết truyện ngắn nổi tiếng, Hoặc nhà thơ Bruce Weigle, giải thưởng American Academy of poets, Pushcart Prizes, Patterson Poetry Prize, tác giả cuốn “Vòng tròn của Hạnh” (The Circle of Hạnh) Người con gái VN ông nhận làm con nuôi từ lúc nhỏ. Hoặc nhà thơ Fred Marchant, sĩ quan quân cảnh đã từ chối không sang Vn phục vụ mà bị đưa ra tòa án quân sự, người dịch thơ Trần Đăng Khoa, với giải thường Washington Prize, hoặc nhà thơ nữ kiêm dịch giả Martha Collins, với các giải thưởng Pushcart Prizes, Alice Fay Di Castagnola award v.v..Hoặc nhà văn Lady Borton, với tác phẩm đặc sắc “Đằng sau nổi buồn”(After the Sorrow), đã dịch ra tiếng Việt và xuất bản trong nước mà ít người Vn nào mà không biết v.v..Còn nhiều người nữa mà ngay lúc này tôi không nhớ hết.

NĐX: WJC quan tâm đến hiện thực VN hoặc các cá nhân VN từ năm nào, thưa anh?

NBC: Ông Kevin Bowen và David Hunt có tham dự một cuộc viếng thăm Vn đầu tiên do ông John McCauliff – người tổ chức chương trình Đông Dương là một chương trình duy nhất hồi đó tạo sự hiểu biết nước Mỹ và các nước VN, Lào, Campuchia – dẫn một đoàn viếng thăm  Vn vào năm 1987 gồm những GS đại học, những người nghiên cứu về VN, và một số cựu binh hoạt động trước sự tàn phá đất nước VN sau chiến tranh, và đời sống hết sức khó khăn của người dân. Ông tự hỏi, với vị trí của ông, ông có thể làm gì giảm bớt hậu quả của chiến tranh và hàn gắn vết thương giữa hai dân tộc. Hồi đó anh gặp anh Hồ Quang Minh – một Việt kiều Thụy Sĩ đang làm phim ở VN, ông nhờ góp ý xem thử ông có thể làm được gì. Với vị trí một người làm thơ, một người viết văn, dù chưa có ai tài trợ dưới bất cứ hình thức nào, ông nghĩ ngay tới việc có thể trao đổi giữa các nhà văn nhà thơ Vn và các nhà văn nhà thơ Mỹ, để có thể hiểu biết sâu xa hơn về văn hóa, về lịch sử. Khi tham chiến ở VN, đa số các người Mỹ hoàn toàn chưa hiểu gì về nước Vn và con người VN cả. Ông nhờ Hồ Quang Minh giới thiệu nhà thơ Nguyễn Duy. Nhưng Nguyễn Duy đã từ chối  và đề nghị nên mời những người khác thích hợp hơn trong giai đoạn đó – hai nhà văn Ngụy Ngữ và Lê Lựu. Thật tình cờ, hai nhà văn đó đang làm phim với Hồ Quang Minh. Ngụy Ngữ với  Con thú tật nguyền, và Lê Lựu với Thời xa vắng. Đó là hai người khởi đầu của chương trình trao đổi văn học kéo dài từ năm 1988 cho tới bây giờ.tho-thien-Ly-Tran

NĐX: Từ năm 1988 đến nay, Trung tâm đã tài trợ được bao nhiêu người rồi thưa anh?

NBC: Tổng cộng có khoảng 5, 6 chục người. Có nhiều chương trình. Chương trình hồi đó là do Quỹ Ford tài trợ mời các nhà văn nhà thơ VN sang Mỹ. Nhưng tiền cho không nhiều lắm. Nếu thực hiện đúng theo quy định với thông số chi phí của Bộ Ngoại giao Mỹ thì đủ tiền cho một người thôi. Ở khách sạn một hai tuần là hết tiền là phải đi về thôi. Một chương trình như thế sẽ không tạo nên một sự hiểu biết nào cả. Một người VN sang đây ở khách sạn một hai tuền lễ rồi đi về thì không hiểu biết gì hết. Tôi chưa hề thấy một người, một gia đình nào bỏ công bỏ sức ra làm cái chuyện mả chính người VN cũng không làm nổi. Trong giai đoạn đầu với số tiền nhỏ như vậy, ông Kevin thay vì mời một người, ông mời từ 2 đến 4 người. Thay vì ở khách sạn, ông mời về ở chính ngôi nhà của ông ấy. Thêm nữa, không phải ở 5 , 3 ngày mà ở từ 3 đến 6 tuần lễ. Nấu ăn, mắm muối, hút thuốc lá ngột nhạt cả nhà. Những mùi vị ấy người Mỹ không quen. Tôi có ghé lại thăm họ thì thấy hằng ngày, chủ và khách gặp nhau chỉ cười thôi, không nói năng gì cả. Cứ như thế kéo dài  đến 5, 6 tuần lễ, thì quả là một sự chịu đựng  không thể tưởng tượng được đối với một gia đình người Mỹ. Thỉnh thoảng tôi tới thăm, và chỉ khi tôi tới thăm thì chủ và khách mới nói chuyện được với nhau.Tình trạng đó kéo dài tới 9, 10  năm. Trong giai đoạn đầu, nếu không có sự hy sinh, với một tấm lòng vô cùng yêu quý đối với dân tộc VN thì không một người nào, dù là người Vn đi chăng nữa, chứ không nói tới người Mỹ, có thể làm được công việc đó.

NĐX: Anh vào làm việc cho Trung tâm này năm nào?

NBC: Tôi sang Mỹ từ cuối năm 1971, theo học chương trình tiến sĩ văn  chương Mỹ ờ Đại học Brandeis thuộc thành phố Waltham, cách Boston nửa tiếng đồng hồ. Tôi dự định học xong tiến sĩ sẽ về dạy tại Đại học Văn khoa, nghiên cứu văn hóa tỷ giảo, tức là so sánh văn học Mỹ và VN để ruet1 ra những bài học mà mình có thể chắt lọc được từ văn minh, văn hóa Mỹ. Câu hỏi lớn nhất của tôi thời đó là tôi không hiểu tại sao nước VN tới 4.000 năm văn hiến mà trải qua quá nhiều đau khổ, còn nước Mỹ chỉ có 300 năm lại trở thành một cường quốc thế giới. Như vậy văn hóa họ có thể có cái gì đó để học có thể đạt được cái vị trí độc đáo như vậy. Nếu có cái gì đó thì phải thể hiện  trong văn học. Tìm hiểu văn hóa văn minh Mỹ để xem họ có cái gì mà mình không có, hầu rút ra làm bài học cho đất nước mình. Nhưng đến năm 1975, đất nước thống nhất thì tôi biết không  còn cơ hội nào để về VN thực hiện cái ý tưởng đó nữa. Là người Bắc di cư, tôi lại đi học văn chương đế quốc, ở chính ngay trên đất nước của đế quốc, thì triển vọng về VN dạy trong đại học quả là không tưởng. Đồng thời tôi không muốn dạy văn chương Mỹ cho sinh viên Mỹ, một chuyện đối với tôi thật là vô bổ. Tôi không cảm thấy có một chút lý thú gì cho vấn đề đó cả. Đang làm luận án, tôi bỏ ngang, không theo đuổi con đường khoa bảng nữa. Tôi quay qua làm điện toán trong 14 năm. Trong thời gian đó, Trung tâm  mời những nhà văn nhà thơ VN sang, họ rất cần một người tới giúp họ  thông dịch. Một mặt họ không có tiền để trả cho người đó, mặt khác cộng đồng VN không ai muốn dính vào chuyện đó. Nhưng tôi lại rất tò mò, những gì tôi hiểu được về chính sách của người Mỹ ở VN, sức mạnh quân sự rất ác liệt, tôi không thể hiểu được những người cách mạng VN làm sao có thể tồn tại được dưới những trận B52 rải thảm, bao nhiêu triệu tấn bom đạn pháo v.v..Tôi rất thắc mắc về những chuyện như thế. Thành ra khi nghe tin có nhiều người trong nước sang, tôi tò mò muốn gặp để tìm cho mình một số câu trả lời. Khi ông Kevin Bowen nhờ tôi thông dịch thì tôi đồng ý và đến làm việc với WJC, hoàn toàn với tư cách tự nguyện từ bnam8 1988. Đến năm 1996, tôi mới vào làm việc chính thức.

NĐX: Trong chừng ấy năm tháng, với 5, 60 người VN sang Mỹ, họ đã thu thập những gì về nước Mỹ mà họ đã giúp cho WJC, giúp cho người Mỹ hiểu được những gì về VN, thưa anh?

NBC: Công việc đầu tiên từ năm 1988 đến năm 1995 – khi không còn cấm vận nữa, thì Trung tâm đã làm được cái cầu nối hầu như duy nhất giữa VN và Mỹ. Họ làm được cái cầu nối ấy nhờ cách làm của WJC mà không có một tổ chức Mỹ nào làm cả. Đó là một tổ chức thuần túy  của những người yêu quý con người và lịch sử VN và tiếp đón những người VN sang như người bạn chứ không phải những người khách. Về lịch sử văn hóa VN, không phải người Mỹ không có những chuyên gia hiểu rất rõ.Nhưng vì vấn đề chính trị, những chuyên gia đó đã không được sử dụng, và vì vậy nó đã dẫn đến cuộc chiến tranh VN. Đối với đại đa số quần chúng Mỹ, thì dĩ nhiên hho5 không thể hiểu văn hóa lịch sử VN được.WJC đã có một đóng góp lớn trong tiến trình đặt viên đá đầu tiên của chính những cựu binh Mỹ. Qua những lần dịch thuật, các cuộc nói chuyện giữa các nhà thơ, nhà văn, Trung tâm đã đặt những viên đá đầu tiên tạo ra sự thông hiểu, giải thích một cách nhân bản văn hóa và lịch sử VN, với tư cách một dân tộc với một dân tộc chứ không phải một đế quốc với những nước của thế giới thứ 3. Về phương diện chính trị, đó là một giai đoạn rất phức tạp với chính sách cấm vận và phong tỏa kinh tế VN. Nếu không phải là những cựu binh đã từng  tham chiến ở Mỹ thì khó có thể có những tiếng nói ngược dòng như vậy.

(còn tiếp 1 kỳ)

Bên tách trà | NGUYỄN ĐẮC XUÂN

(Visited 73 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Giao Lưu, Nguyễn Đắc Xuân

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *