BIỂN của John Banville

| 17/05/2015 | 0 Comments

NGUYỄN THẾ ĐĂNGbien-John-Banville

Đạo Phật không hứa hẹn, không lý luận để giả định, mà chỉ khuyến khích con người hãy thể nghiệm sâu hơn và rộng hơn cuộc đời mình, thế giới của mình để tìm ra ở đó “viên ngọc như ý” của mình và của tất cả, giải quyết cho toàn bộ những vấn nạn của mình và của mọi người.

Biển, đó là nơi nhân vật Max Morden tìm về, nơi ông đã sống thời thiếu niên với nhiều kỷ niệm và cũng là nơi chốn để nhớ lại cái chết của vợ ông đúng một năm trước đó. Biển là không gian thời gian để sống và để nhớ của con người, nhưng biển cũng là sự quên lãng tối hậu:

“Nhưng những cái đầu tiên ấy đã biến mất trong những nếp gấp của dĩ vãng mỗi ngày một nhạt nhòa” (trang 173).

“Vậy mà, dù tôi đã thất vọng đến mấy, chính cái người đàn bà phàm trần ấy của bà mới là cái vẫn còn tỏa sáng giữa những bóng ma đen ngòm của dĩ vãng… Trong ký ức tôi, bà vẫn là hiện thân của chính bà. Tức là cái phàm trần hơn, cái người đàn bà nằm nghiêng trên triền cỏ trong những ký ức của tôi, hoặc cái nhúm xương tro mà đất còn lưu giữ từ tất cả những gì đã từng là bà hiện hữu. Chắc chắn là bà cũng vẫn tồn tại trong ký ức của nhiều người khác ở khắp nơi, nhưng phiên bản của họ sẽ khác với phiên bản của tôi, và cũng khác hẳn nhau nữa. Cho nên người ta ai cũng phân thân và sống rải rác trong tâm trí của rất nhiều người. Nhưng không mãi mãi, không thể thế được, vì nó không bất tử. Chúng ta chỉ mang theo người chết cho đến lúc mình cũng chết, sau đó chính chúng ta cũng được những người khác mang theo một lúc nữa, rồi họ cũng chết, cứ thế hết thế hệ này đến thế hệ khác không biết đến bao giờ”. (146 – 147).

Biển cũng là nơi chôn giấu hai đứa trẻ sinh đôi, trong đó có Chloe, như một mối tình đầu của Max: ‘Thế rồi rất bình thản, hai đứa đứng dậy và lội ra biển… chậm rãi bơi đi, đầu nhấp nhô trên mặt biển đang cương lên nhợt nhạt xa dần xa dần… Một sánh nước bắn lên, trắng hơn hết thảy xung quanh, rồi không còn gì nữa, thế giới dửng dưng đã khép lại”. (294)

Biển là tất cả những mất mát: “Một cái gì đó đang tan ra và chảy tuột đi qua những kẽ ngón tay tôi. Quá khứ, tôi muốn nói cái quá khứ có thực ấy, cũng chẳng có mấy nghĩa lý như ta giả đò là vậy”. (192)

Cả tương lai cũng là nỗi tiếc nhớ: “Thành thử cái mà tôi tưởng tượng ra cho tương lai thì trong thực tế lại chỉ có thể là hình ảnh của một quá khứ tưởng tượng, nếu thực tế là có thật. Có thể nói tôi đã mường tượng ra tương lai thì ít mà tiếc nhớ nó thì nhiều, bởi lẽ những gì tôi tưởng là sẽ đến thì thực tế đã lại quá vãng mất rồi”. (120)

Biển là nơi ra đi và biến mất. Max nghĩ: “vậy mà người ta vẫn cứ ra đi và biến mất. Đó mới là cái bí ẩn lớn hơn, có thể là lớn nhất. Chao ôi, cả tôi nữa, tôi cũng sẽ ra đi vào một lúc nào đó và thành ra như thế tôi chưa từng bao giờ tồn tại, chỉ có điều người ta sống lâu đã thành thói quen nên chẳng bao giờ sẵn sàng để chết, đúng như ông bác sĩ Browne đã nói vậy”.

Trong đó có sự chống chọi với cái chết do căn bệnh ung thư của Anna, vợ Max: “Nó giống như một điều bí mật vừa được tiết lộ cho chúng tôi một cách bẩn thỉu, nhơ nhuốc đến nỗi chúng tôi sẽ khó lòng chịu đựng nhau được nữa nhưng cũng chẳng biết thế nào mà thoát được nhau, ai cũng biết là người kia cũng đã biết cái điều nhơ bẩn ấy, rồi lại càng ràng buộc với nhau bởi chính cái biết thông đồng ấy. Từ hôm đó trở đi tất cả sẽ tan rã dần. Cũng chẳng còn cách nào khác để sống chung với sự chết” (33).

Đôi khi sự chống chọi ấy biến thành tàn ác, như khi Anne đem máy ảnh vào bệnh viện chụp những hình ảnh dị dạng vì bệnh tật và cái chết (220 – 223): “Chúng là hồ sơ của em’, nàng nói. ‘Lời lên án của em’. ‘Nhưng lên án cái gì chứ?, giọng tôi bất lực. Nàng nhún vai, ‘Ô, tất cả mọi thứ. Tất cả mọi thứ”. (223). Một tính cách vừa bạo dục (sadisme) vừa khổ dục (masochisme).

Sự phản kháng chống chọi với cái chết, với Hư vô (Nihil, theo cách hiểu của Tây phương là không có gì cả) đã làm nên ý nghĩa của con người trước đời sống và cũng đồng thời trước Hư vô. Với Camus, đó là con người nổi loạn (L’homme révolté, 1951), và cuộc sống là một việc làm vô ích (Le Mythe de Sysiphe, 1940). Nhưng chống chọi, phản kháng với Hư vô chỉ làm cho Hư vô thêm ám ảnh, chỉ làm cho hư vô trở thành một cực đoan tuyệt đối của thực tại, và đó là hư vô chủ nghĩa (nihilisme).

Trong cuộc sống, sự sai lầm đầu tiên tưởng chừng như rất nhỏ đã dẫn đến một quan điểm gây khổ đau lâu dài. Câu nói trong lần đầu tập đọc của Max là: Hãy biết chính mình”, một câu nói của minh triết Hy Lạp. Với Anne thì khác: “ tại sao anh không cứ là chính mình đi? Nàng thường nói với tôi thế trong những ngày đầu chung sống – nàng nói cứ là chính mình, chứ không phải biết mình là ai đâu nhé” ( 262). Chính cái “ cứ là chính mình” này khi đứng trước cái chết đã gây ra sự chống chọi vô vọng và khổ đau gấp bội.

Ai mà chẳng phải từng phút đối diện với biển cả đời mình? Biển cả của Banville là nỗi nhớ không thể sống sót trước sự quên mất toàn triệt của thời gian: “Có lẽ toàn bộ cuộc đời cũng chỉ là một cuộc chuẩn bị lâu dài để từ bỏ nó mà thôi” (122). Chính vì sự thất bại, thua cuộc trước biển cả thời gian và cái chết nên mặc dầu cảnh vật và con người được diễn tả bằng những câu rất đẹp “như những bức tranh cổ điển phương Tây” (lời của dịch giả Trịnh Lữ), thì tất cả hầu hết hiện ra trong một nỗi buồn, đôi khi pha niềm phẫn hận, tan vỡ, xấu xí. Chẳng hạn: “Claire rụt đầu như con rùa vào sâu trong cái mai áo khoác của nó, đá văng đôi giày đi” (79). “Những tia nắng cuối cùng đâm qua ô cửa sổ trước mặt chúng tôi và rơi xuống như những mảnh kính vỡ trong một tòa nhà đang cháy” (191).

Trang cuối, nhân vật Max đi ra biển, đối diện với biển. Và hai câu chót là: “Và quá là đã chẳng có gì xảy ra hết, chỉ là một thoáng hư vô, một cái nhún vai dửng dưng của thế giới vĩ đại. Một y tá ra tìm tôi, và tôi trở gót theo cô ta vào trong, như đang bước vào lòng biển cả”.

  1. Chúng ta ai cũng là người trong cuộc, ai cũng có biển của mình, ai cũng có “còn một chút gì để nhớ để quên” (lời thơ do Phạm Duy phổ nhạc). “Biển dâu” là hai từ thường được xuất hiện trong thơ Nguyễn Du và Bùi Giáng.

Dịch giả Trịnh Lữ trong Lời Người Dịch sau cuốn sách, “khi lần đầu đọc The Sea, bỗng nhớ lại một con sâu nho, trên giàn nho cạnh hầm trú ẩn công cộng thời Hà Nội đang bị Mỹ ném bom”, và khi dịch “tôi cũng vẫn bị con sâu nho thuở thiếu thời ám ảnh”… “Thấy biển trong bước đi của con sâu nho, tôi mới hiểu tại sao ta có thể thấy toàn bộ thế giới trong mảy bụi và ngược lại” (320). “Đúng thế, sinh lão bệnh tử là biển đời của chúng sinh, và cuốn tiểu thuyết này đã cho tôi chiêm nghiệm cả bốn thứ đó, cái tứ khổ mà Phật đã vạch ra, một cách đường bệ, im ắng, giản dị, tất yếu, trong vắt, xanh mướt, căng mọng, xa lạ mà thật gần gũi, như con sâu nho đang đi trong nắng trước giờ báo động ngày nào” (325).

Khổng Tử đã từng đứng trước biển của mình. Đứng trên bờ sông, ông nói: “chảy trôi mãi thế ru, ngày đêm không nghỉ”.

Và Heraclite cũng thế:”Thời gian là một đứa trẻ chơi cờ” (câu 79)

Biển của Holderlin trong bài Andenken (Rememberance, Ký Ức), của Tagore (Gitanjali, 60), S.J.Perse (Amers), Pablo Neruda (Hai mươi bài thơ và một bài ca tuyệt vọng), của Marquez (Biển của một thời đã mất)…

Ở bài cuối, có một câu giới thiệu của Adan, Phillips, trong London Repiew of Books:

“Với Biển, Banville đã viết nên một cuốn tiểu thuyết cực kỳ cuốn hút về những câu chuyện kỳ lạ của nỗi buồn và những tấn kịch vô cớ của ký ức. Sự vỡ mộng với ký ức hiện diện khắp nơi trong Biển là lời chứng thực cho một thực tế rằng, với những ai mà Thượng đế vắng mặt thì kỷ niệm đã trở thành nguồn cứu rỗi.

Ai cũng phải có một thái độ, một cách chọn lựa, một quan kiến về biển, vực thẳm của thời gian và ký ức. Biển là đại dương của niềm vui hay nỗi buồn tùy thuộc vào việc thấu hiểu nó, biển đời của mỗi chúng ta và tất cả mọi sự.

Với Jean Paul Sartre, biển là Hư vô, thế nên trong tác phẩm triết học Hữu Thể và Hư Vô (L’Être et le Néant), ông đã kết thúc bằng một câu rất ‘cung oán ngâm khúc’ về phận người: “Con người là một đam mê vô ích”.

Biển là Hữu thể hay là Hư vô?
“Tóm lại, tại sao có hiện hữu thay vì không có gì cả (Hư vô)?” (Heidegger).

  1. Biển là một khái niệm thân quen với Phật giáo: biển sinh tử, biển Niết bàn… trong kinh luận được nói đến rất nhiều, ở đây chỉ nêu sơ lược vài ý:

a.Biển đời, nghĩa là biển của tất cả thời gian và không gian (theo kinh nói là Như Lai tạng, nói theo hiện đại là Thực Tại) thì vốn trong sáng, bình an và do đó phúc lạc. Nhưng tâm thức con người luôn luôn nổi sóng vì những phiền não của nó, tham muốn rượt đuổi tương lai, tiếc nuối quá khứ, thành thử nó chỉ thể nghiệm đời sống như là những sóng xao động có đó mất đó chứ không thể nghiệm được biển, cũng là tự tâm của nó:

Ví như sóng biển cảsach-bien-John-Banville
Đều do gió mạnh thổi
Sóng lớn khắp biển rộng
Không khi nào ngưng dứt
Biển tạng thức thường trụ
Gió cảnh vật nổi lên
Lớp lớp các sóng thức
Ào ạt mà chuyển sinh

(Kinh Lăng Già)

Thấy ra tất cả sóng đều là nước, tất cả bèn yên, đó gọi là “Biển Đại tịch diệt của Như Lai”, hay “Hải Ấn tam muội”, hay “Đại dương không chứa xác chết” (Kinh Na Tiên Tỳ kheo), trong đó không còn vấn đề còn hay mất, nhớ hay quên, vô thường hay thường… Như vậy gọi là tịnh hóa hay chuyển hóa biển tạng thức A Lại Da thành biển Như Lai tạng.

b.Cuộc đời mỗi chúng ta như một bọt sóng, một hạt nước. Bọt sóng hay hạt nước đều là nước, nghĩa là nó được chứa trong đại dương và ngược lại, đại dương cũng được chứa trong mỗi bọt sóng hay hạt nước. Thế nhưng vì không biết (vô minh), chúng ta cứ nghĩ và sống như là bọt sóng tách lìa đại dương, tự tạo ra một thế giới “mình và cái của mình”. Từ khi ý thức phân biệt làm tách lìa cuộc đời chúng ta với Thực Tại, bèncó khổ đau, sinh lão bệnh tử. Nhìn thấy đúng sự thật (chánh kiến) rằng bọt sóng cũng là đại dương, không hề tách lìa khỏi đại dương, do đó không có đau khổ đau sinh lão bệnh tử (không những của riêng chúng ta mà của cả người khác và không có sự sinh trụ dị diệt của thế giới).

Thượng sĩ Tuệ Trung đời Trần nói:

Bọt trong biển cả uổng chìm nổi…
Biển cả ngại gì bọt nước xao.

c. Tất cả kinh nghiệm giác quan, ý thức, vô thức, siêu thức đều khởi lên và trở về Biển Tạng thức A – lại – da của mỗi chúng ta. Sở dĩ chúng hành hạ chúng ta vì Biển Tạng thức ấy bị nhiễm ô. Tịnh hóa Tạng thức, hay chuyển thức thành trí, đó là chuyển cuộc đời sinh tử thành Niết Bàn. Tám thức (A – lại – da, ý, ý thức và năm thức giác quan) chuyển thành bốn trí:

Đại viên cảnh trí (trí như tấm gương lớn), đây là toàn thể biển lặng trong (Hải Ấn tam muội).
Bình đẳng tánh trí: thấy tất cả bình đẳng một vị (một vị nước biển).
Diệu quán sát trí: tất cả sóng đều là nước mà vẫn giữ nguyên hình tướng sóng.
Thành sở tác trí: mỗi sự vật đều tự thành tựu chính nó như là Chân Như.

d. Với người sống bằng lòng tin và sùng mộ, chúng ta có “Biển Đại nguyện của Phật A Di Đà”. Cuộc đời chúng ta là một bọt biển trong Biển Đại Nguyện đó.

  1. Một lời kết mở: Con người hiện đại đã được trang bị nhiều kỹ năng để sống với thế giới vật lý và một số kỹ năng để sống với xã hội, thế giới con người. Những kỹ năng ấy vẫn tỏ ra cạn cợt, bề ngoài. Đã thế, hầu như con người không được trang bị kỹ năng gì để sống với “cái bên kia, cái vượt lên, cái đàng sau” (nghĩa chữ méta của Tây phương, chẳng hạn métaphysique, siêu hình học; métalangage, siêu ngôn ngữ). Con người còn hiểu biết ít hơn nữa về chính mình, mà hướng tiến hóa của Tây phương kể từ thời Socrate là theo hướng đó. Sự kém hiểu biết ấy của thế giới Tây phương, người đang dẫn đầu nhân loại, đã gây ra những khủng hoảng tự nền tảng trong mối tương quan giữa mình với thiên nhiên và với người khác. Con người đang tàn phá thế giới vật lý của mình (địa cầu nóng lên), đang làm bất ổn thế giới con người (chiến tranh từ gia đình đến xã hội và những quốc gia). Con người cần được trang bị những kỹ năng sâu xa hơn, những hiểu biết sâu rộng hơn, để có thể nhìn thấy “cái đàng sau, cái vượt lên, cái bên kia” (méta) của hai thế giới đó, vật lý và con người, để tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình.

Đạo Phật không hứa hẹn, không lý luận để giả định, mà chỉ khuyến khích con người hãy thể nghiệm sâu hơn và rộng hơn cuộc đời mình, thế giới của mình để tìm ra ở đó “viên ngọc như ý” của mình và của tất cả, giải quyết cho toàn bộ những vấn nạn của mình và của mọi người.■

Biển (The Sea), tác giả John Banville giải Booker 2005, Trịnh Lữ dịch 2006, NXB Văn Học.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 54

(Visited 276 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Đọc sách, Nguyễn Thế Đăng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *