Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 70"/>

Lý Nhân Tông (1066 – 1127)

| 31/12/2014 | 0 Comments

PHƯỚC CẢNHLy-Nhan-Tong

Ông là vị hoàng đế thứ tư của vương triều nhà Lý, là người đã kiên trì áp dụng tinh thần Từ bi của Đức Phật vào trong đường lối trị nước một cách nhân văn, được hậu thế xưng tụng là vị hoàng đế “sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân”.

Với việc cho xây dựng trường Quốc Tử Giám (năm 1076) và định ra quy chế thi cử để đào tạo và tuyển dụng nhân tài, ông được xem là người đầu tiên đặt nền móng khai sinh ra nền giáo dục đại học của nước nhà. Riêng với cư dân đồng bằng Bắc Bộ, cho đến hôm nay, ông vẫn được ca ngợi là người đầu tiên đã có những quyết sách đúng đắn đối với việc trị thủy sông Hồng, khi cho đắp tuyến đê Cơ Xá (vào năm 1108) để bảo vệ kinh thành Thăng Long và các vùng lân cận khỏi bị ngập úng trong mùa  mưa lũ, như tình trạng đã xảy ra trong đầu tháng 11 vừa qua.

Lý Nhân Tông tên thật là Lý Càn Đức, sinh năm Bính ngọ (1066), là con trưởng của hoàng đế Lý Thánh Tông và nguyên phi Ỷ Lan – một phụ nữ tài hoa, đức hạnh của xứ Kinh Bắc. Ông được lập làm Thái tử từ rất sớm, chỉ một ngày sau khi chào đời, và đến năm 1072, vua Lý Thánh Tông băng hà, ông đã chính thức lên ngôi ngôi hoàng đế khi mới tròn 7 tuổi, lấy hiệu là Lý Nhân Tông.

Từ nhỏ, Lý Nhân Tông đã tỏ rõ tư chất của một bậc đế vương, trí tuệ tinh anh, uy phong đĩnh đạc, và rất có trí cầu tiến. Lớn lên, ông đã am tường nhiều môn võ nghệ, tinh thông âm nhạc, hiểu sâu tam giáo, đặc biệt là về giáo lý Phật giáo. Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét về ông rằng: “ Vua trán dô, mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến thần giúp, người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bình, là vua giỏi của triều Lý”.

Về đường lối trị nước, ngoài việc định lại quan chế, chia văn võ thành chín phẩm tư trung ương đến địa phương; cho mở khoa thi “Minh kinh bác học” (năm 1075) và xây dựng trường Quốc Tử Giám (năm 1076) để đào tạo và tuyển dụng người hiền tài vào bộ máy lãnh đạo quốc gia. Lý Nhân Tông còn xuống chiếu “Cầu lời nói thẳng” để huy động trí tuệ của toàn dân, lắng nghe tâm tư nghuyện vọng của trăm họ để hoạch định những kế sách trị nước phù hợp.

Dưới triều đại của ông Đại Việt đã thật sự trở thành một quốc gia hùng mạnh, bên trong có Thái phi Ỷ Lan, người phụ nữ tài năng xuất chúng cùng vua buông rèm nhiếp chính, bên ngoài có Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt gìn giữ biên cương, bên cạnh đó còn có sự phò tá đắc lực của Thái sư Lý Đạo Thành, Hàn lâm học sĩ Mạc Hiển Tích, nhờ đó Đại Việt đã nhiều lần bẻ gãy được ý đồ xâm lăng của nhà Tống, đặc biệt là trận chiến lịch sử trên sông Như Nguyệt vào năm Bính Thìn (1076).

Tuy ở ngôi hoàng đế nhưng Lý Nhân Tông thường sống gần gũi với người dân, chăm lo nâng đỡ người nghèo khổ, những thân phận tôi đòi, già nua, góa bụa. Ông thường đích thân đi thị sát công việc đồng áng của người dân, khuyến hóa dân chí thú làm ăn, cổ vũ phát triển các ngành nghề thủ công chủ lực như: nghề làm giấy, nghề sơn, nghề đóng thuyền, nghề gốm, điêu khắc, hội họa…; bên cạnh đó, cứ mỗi tháng, quân lính triều đình thường được luân phiên phái về các địa phương để giúp đỡ nhân dân trong việc sản xuất, nhờ đó dưới triều đại của ông, mọi nguồn lực kinh tế đều được phát triển dồi dào, cuộc sống người dân được sung túc no đủ, Lý Nhân Tông còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề trị thủy để phát triển nông nghiệp, ra nhiều sắc lệnh cấm giết trâu bò, chặt phá cây cối bừa bãi vào mùa Xuân. Chính những sắc lệnh này, một mặt vừa đảm bảo nguồn lực sản xuất để phát triển kinh tế, bởi “con trâu là đầu cơ nghiệp”, mặt khác lại có tính giáo dục, khơi gợi từ tâm trong mỗi con người, kêu gọi người dân không chỉ chung sống từ hòa với nhau mà còn phải biết thương yêu đến cả loài vật và môi trường sống xung quanh mình.

Lý Nhân Tông là người rất am tường về âm luật và nhạc lễ, hầu hết những ca khúc cung đình thời bấy giờ đều do vua chế tác. Không những thế, trong bia ký tháp Sùng Thiện Diên Linh còn cho biết: “Vua ta tinh tường âm nhạc nước ngoài, chuyển nắm được đầu mối cốt yếu của mọi nghệ thuật”. Những hình ảnh về dàn nhạc dân tộc được chạm khắc trên bệ đá chùa Phật Tích hiện còn, chính là sự minh họa khá sinh động về sự tích hợp đa văn hóa các làn điệu ca vũ nước ngoài trong những ca khúc cung đình được chế tác dưới thời Lý Nhân Tông.

Đặc biệt, Lý Nhân Tông là người rất say mê nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Ông thường gần gũi và tham vấn Phật pháp với Quốc sư Thông Biện, Thiền sư Minh Không, Đại sư Mẫn Giác. Đặc biệt, riêng với Đại sư Mãn Giác, ông và Thái phi Ỷ Lan còn dựng chùa Giác Nguyên bên cạnh cung Cảnh Hưng thỉnh sư về trụ trì để hôm sớm được thỉnh vấn về giáo lý. Hiện ông còn để lại ba bài thơ truy tán công đức của Thiền sư Vạn Hạnh, Thiền sư Sùng Phạm và Thiền sư Giác Hải.

Lý Nhân Tông còn là tấm gương giản dị, sống kiệm ước, và ngay trước lúc qua đời, ông vẫn còn để lại di chiếu căn dặn quần thần không được tổ chức tang lễ linh đình, vì sợ làm tổn phí tài sản và công sức của trăm họ. Ông mất vào tháng Chạp năm Đinh Mùi (1127), hưởng thọ 62 tuổi, trị vì 56 năm, là vị vua nhà Lý ở ngôi lâu nhất. Hiện một số tỉnh thành trong nước, như Thanh Hóa, Đà Nẵng…, đều có những con đường mang tên ông, như một lời tưởng niệm đối với vị vua đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự phồn vinh một thời của dân tộc. Thế nhưng, riêng tại thủ đô Hà Nội, nơi ông đã để lại nhiều tâm huyết nhất, với những di chỉ văn hóa, giáo dục cũng như các công trình phục vụ cho dân sinh đến nay vẫn còn, lại tuyệt nhiên không có một con đường nào được mang tên ông.■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 70

(Visited 195 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Lịch Sử, Phước Cảnh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *