Phạm Quý Thích (1760 – 1825)

| 03/11/2014 | 2 Comments

Phước Cảnh | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 65

Pham-Quy-ThichÔng là bạn thâm giao với đại thi hào Nguyễn Du, là người đầu tiên đã viết lời tổng vịnh và cho khắc in Truyện Kiều, đem Truyện Kiều truyền dạy cho học trò của mình. Ông có biệt hiệu là Thảo Đường cư sĩ, là người để lại khá nhiều bài thơ hay về các ngôi danh lam cổ tự của vùng đất Thăng Long, và chính ông đã chấp bút viết bài văn bia tuyệt tác tại chùa Trần Quốc (Hồ Tây, Hà Nội) năm 1815, khi ngôi quốc tự này được trùng tu lại dưới thời Gia Long.

Phạm Quý Thích tự Dữ Đạo, hiệu Lập Trai, biệt hiệu Thảo Đường cư sĩ, người xã Hoa Đường, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), về sau gia đình chuyển lên sinh sống tại phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, kinh thành Thăng Long.

Ông đỗ tiến sĩ năm 20 tuổi tại khoa thi năm Kỷ Mão (1779) dưới thời Lê – Trịnh, ra làm quan với chức Thiêm sai tri công phiên. Sau khi nhà Lê sụp đổ, ông lui về ở ẩn, mang tâm trạng hoài Lê, không chịu hợp tác với nhà Tây Sơn. Đến đầu đời Nguyễn, ông bị Gia Long cho triệu ra làm quan, giao ngữ chức Thị trung học sĩ, tước Thích An hầu; và có thời gian được gọi về kinh phụ trách việc chép sử. Khi Minh Mạng lên ngôi, lấy cớ tuổi già sức yếu, ông cáo bệnh hồi hưu.

Phạm Qúy Thích là người có cốt cách thanh cao, không màng danh lợi, địa vị ở chốn quang trường, suốt một đời chỉ dồn hết tâm huyết vào việc dạy học, làm thơ. Học trò theo học với ông rất đông, về sau có nhiều người đỗ đạt hiển vinh và ra làm quan như Nguyễn Văn Lý (đỗ tiến sĩ năm Minh Mạng thứ 13), Nguyễn Văn Siêu (đỗ phó bảng năm Minh Mạng thứ 16); hoặc có người tuy chọn lối sống ẩn dật như Chu Doãn Trí, nhưng về văn chương chữ nghĩa và cốt cách kẻ sĩ của ông thì chính các nhà khoa bảng bấy giờ cũng phải nể phục, ca ngợi hết lời và ví ông như Đỗ Phủ, Đào Tiềm. Đặc biệt, với Nguyễn Văn Siêu, một con người có chí khí và tri thức uyên bác, văn phong cao nhã, được kẻ sĩ người đời xưng tụng là “thần Siêu”. Sự hiển đạt của những người học trò chính là kết quả của một đời tâm huyết mà Phạm Qúy Thích đã dày công vun bồi.

Là bạn thâm giao với đại thi hào Nguyễn Du, Phạm Quý Thích quả là người có “biệt nhỡn liên tài” khi hạ bút viết những dòng nhận xét thật tinh tế trong “Tổng vịnh Truyện Kiều” rằng: “Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có được bút lực ấy”. Việc phát hiện, cho khắc bản in và tự tay để tựa Truyền Kiều, với mong muốn kiệt tác văn chương này được phổ biến rộng rải và lưu luyến lại cho hậu thế mai sau, có thể nói công lao của Phạm Quý Thích quả là không nhỏ.

Trước tác của Phạm Quý Thích chủ yếu bằng chữ Hán, gồm nhiều thể loại: thơ, văn, truyện ký, bi ký, biên khảo, và hiện được lưu lại qua các tác phẩm “Thảo Đường thi nguyên tập”, “Lập Trai văn tập”, “Thiên Nam long thủ liệt truyện”, “Chu dịch vấn đáp toát yếu”… Thơ văn của Phạm Quý Thích thường mang tâm trạng hoài cổ, đề tài chủ yếu là vịnh sử, vịnh cảnh thiên nhiên, cảnh chùa, và những ngôi cổ tự quanh vùng đất Thăng Long mà ông đã từng đặt chân đến và đề vịnh như chùa Diên Lộc, chùa Phúc Khánh, chùa Sài Nguyên, chùa Duyên Phúc, chùa Tiên Tích…

Phạm Quý Thích không chỉ am tường Nho học mà còn rất tinh thông về Phật học, đặc biệt  ông rất có ý thức về việc giữ gìn các giá trị truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc, điều này được thể hiện rất rõ qua hầu hết các tác phẩm của ông. Trong bài văn bia chùa Trấn Quốc, viết năm 1815, Phạm Qúy Thích cho rằng, các bậc cao nhân hiền triết từ ngàn xưa đã có cái nhìn thông suốt khi cho xây dựng ngôi chùa này để làm nơi quy hướng tâm linh của người dân, ngôi quốc tự này do vậy có một vai trò hết sức to lớn trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc mà hậu thế phải có trách nhiệm giữ gìn: “Những danh thắng của cố đô vì loạn lạc bị đổ nát cũng nhiều. Đổ nát mà không xây dựng lại thì chẳng lẽ mai một đi ư?… Huống chi, lên cao ngắm cảnh, mây nước mênh mang, nước hồ ánh trong suốt, khiến lòng người không hư; tiếng chuông chùa giục tỉnh mộng trần tục, khiến cho ý thức phân biệt giữa ngoại cảnh và cái ta tiêu tan hết!… Đây chẳng phải là nơi tao nhân mặc khách thường lui tới viếng thăm, những bậc cao nhân hiền triết đã có cái nhìn thông suốt đấy sao!…”

Thảo Đường cư sĩ Phạm Quý Thích mất ngày 29 tháng 3 năm Ất Dậu (1825) tại nhà riêng ở phường Báo Thiên, kinh thành Thăng Long, hưởng thọ 66 tuổi. Khắp các tỉnh thành cả nước, hiện đều có những con đường mang tên ông.

(Visited 319 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Nhân Vật, Phước Cảnh

Comments (2)

Trackback URL | Comments RSS Feed

  1. Nguyen Caroline says:

    Xin cảm ơn Ông Bà đã viết những điều tốt đẹp về Ông Phạm Quý Thích, vì là ÔNG TỔ ĐỜI THỨ 6 trong GIÒNG HỌ PHẠM của tôi, bao nhiêu thời gian trôi qua, hàng con hàng cháu hàng chít trong nhiều đời ” kéo đến hiện đời thứ 15″, sống rải rác nhiều phương, tuy chưa bao giờ gặp Ông mà qua lời văn tả, thì có cảm nhận là quen quen.
    Thật tuyệt vời!
    Nam mô A-Di-Đà Phật

  2. Nguyen Trí Cam says:

    Ngày mẹ tôi chưa qua đời, bà có nói đến “cụ tổ” có bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám.. mẹ tôi họ Phạm và cụ cố ngoại tôi là Phạm Văn Khôi, ông ngoại là Phạm Quý Công Húy Đa Vĩ Phạm Văn Minh.. Họ hàng thì lưu lạc tứ phương, chẳng ai biết ai nhưng sau này tôi có sưu tập một số thông tin về cụ như :Phạm Quý Thích : Người xã Hoa Đường, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, có nhà ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, đỗ tiến sĩ năm 20 tuổi, khoa Kỷ Hợi (1779), đổ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ). Đồng khoa với Phạm Nguyễn Du người xã Đặng Điền, huyện Châu Phúc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, đổ Hoàng giáp năm 40 tuổi, làm quan Viện Hiệu thảo kiêm Quốc sử toản tu. Ông nguyên tên cũ là Vi Khiên. Khoa thi Kỷ Hợi 1760 -1825 có dựng bia tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. TS khoa kỷ hợi 1779.
    TB. Mẹ tôi nói ngoài cụ Phạm Quý Thích còn có một cụ nữa được lập bia ở QTG– hồi đó tôi không “quan tâm” nên không hỏi bà cụ là ai !

Leave a Reply to Nguyen Trí Cam Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *