Trần Thánh Tông (1240-1291)

| 03/12/2014 | 0 Comments

Phước Cảnh | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 69Tran-Thanh-Tong

Ông là vị hoàng đế thứ hai của vương triều nhà Trần, một nhà lãnh đạo tài ba, nổi tiếng nhân từ độ lượng, là người đã trực tiếp tham gia lãnh đạo cả ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược. Về sau, ông đã nhường ngôi lại cho con và xuất gia, về sống tại phủ Thiên Trường, dốc lòng nghiên cứu kinh Phật. Trước tác của ông để lại không nhiều, tuy nhiên đó là những bài thơ được xếp vào hàng tuyệt bút, đặc biệt qua những bài thơ như Độc Phật sự đại minh lục hữu cảm, Chân tam chi dụng, Tử sinh… còn cho thấy ông là một nhà Phật học uyên thâm, một vị thượng sĩ xuất trần đại ngộ với những kiến giải rất thâm trầm về triết lý nhà Phật.

Trần Thánh Tông tên thật là Trần Hoàng, con thứ hai của hoàng đế Trần Thái Tông và là thân phụ của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Ông sinh năm 1240, lên ngôi năm 1258, đến năm 1278 ông nhường ngôi lại cho con và lên làm Thái thượng hoàng. Về sau ông đã xuất gia, lấy hiệu là Vô Nhị Thượng Nhân, về sống tại phủ Thiên Trường, thuộc hương Tức Mặc (Nam Định), dốc lòng nghiên cứu kinh Phật. Theo các bộ Quốc sử ghi lại, Trần Thánh Tông là một vị hoàng đế nhân từ độ lượng, sống chan hoà với mọi người trong hoàng tộc cũng như với tất cả quần thần. Ông thường nói với tả hữu: “Thiên hạ là của cha ông để lại, nên để cho mọi người cùng được hưởng vinh hoa phú quý”. Vì vậy, kể từ khi lên ngôi, ông không chỉ cho phép các vị trong hoàng thân quốc thích được ra vào nội viện, ăn cùng mâm ngủ cùng chiếu, không phân biệt cao thấp, mà còn cấp cho họ điền trang để khẩn điền lập ấp, nhờ đó mà mọi người trong hoàng tộc đều chung sống hoà kính, không có hiềm khích.

Về đối nội, Trần Thánh Tông đặc biệt quan tâm đến việc giáo hoá muôn dân, khuyến khích học hành, mở khoa thi để kén chọn hiền tài ra giúp nước. Chính vì vậy dưới triều đại của ông không chỉ có những ông hoàng hay chữ mà còn có nhiều người đỗ đạt, kiến thức uyên bác. Và chính bộ Đại Việt sử lược của Lê Văn Hưu, bộ Quốc sử đầu tiên của dân tộc ta đã được biên soạn dưới triều đại này (1272). Bên cạnh đó, Trần Thánh Tông còn rất quan tâm đến đời sống của người dân nghèo, ông chỉ dụ các vương hầu, phò mã thành lập những khu điền trang, chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc khắp nơi về lại cố hương làm ăn, chăm lo cuộc sống cho họ. Vì vậy, trong suốt 21 năm ông ở ngôi vua, mọi người dân đều được an cư lập nghiệp, chí thú làm ăn, do vậy mà đời sống được sung túc, no đủ.

Về đối ngoại, vì biết rõ dã tâm của Hốt Tất Liệt vẫn chưa từ bỏ ý đồ thôn tính Đại Việt, nên trong đường lối ngoại giao với nhà Nguyên, Trần Thánh Tông một mặt dùng kế sách ôn hoà, mềm dẻo nhưng rất kiên quyết, và mặt khác ông lại tích cực đôn đốc việc tích trữ lương thảo, thao luyện binh mã để sẵn sàng ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Và khi chiến tranh là điều không thể tránh khỏi, mặc dù đã ở ngôi Thái thượng hoàng nhưng ông vẫn cùng với con là Trần Nhân Tông trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên xâm lược vào các năm 1285 và 1288, và đã giành được những chiến thắng vang dội.

Trần Thánh Tông trước tác khá nhiều, với những tác phẩm như: Di hậu lục (Ghi chép để lại cho đời sau), Cơ cầu lục (Việc nối dõi cơ nghiệp), Thiền tông liễu ngộ ca (Bài ca giac ngộ thiền), Phóng ngưu (Thả trâu), Chỉ giá minh (Bài minh về sự cung kính)…, tuy nhiên những tác phẩm này hầu hết đã thất lạc, hiện chỉ còn 6 bài thơ được chép lại trong Việt âm thi tậpĐại Việt sử kí toàn thư. Dù chỉ với 6 bài thơ để lại, nhưng qua đó cũng đủ cho thấy một nhãn quan Phật học hết sức tinh tế của Vô Nhị Thượng Nhân, với những luận giải rất sâu sắc về chân tâm (Chân tâm chi dụng), về lẽ sắc không và tinh thần thoát tục (Độc Phật sự Đại minh lục hữu cảm), về bản tính giác ngộ (Hoạ Tuệ Trung Thượng Sĩ), và đặc biệt, với bài thơ Sinh tử ông còn cho thấy một phong thái hết sức tự tại của một bậc Thượng sĩ xuất trần đạt ngộ khi đối diện với vấn đề sống-chết:

“Sanh như trước sam
Tử như thoát khổ
Tự cổ cập kim
Cánh vô dị lộ
Bát tự đả khai phân phó liễu
Cánh vô dư sự khả trình quân”.

Dịch:

Sống như mặc áo
Chết như cởi truồng
Từ xưa đến nay
Một con đường ấy
Tám chữ mở toang đà nói hết
Chẳng còn gì nữa để trình ông.

Vô Nhị Thượng Nhân Trần Tông mất ngày 3 tháng 6 năm 1291 tại phủ Thiên Trường, hưởng thọ 51 tuổi, ở ngôi vua 21 năm, làm Thái thượng hoàng 13 năm. Ông là một trong những vị vua triết nhân của triều đại nhà Trần, là người có công rất lớn trong việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động. Ngày nay, khắp các tỉnh thành cả nước hiện đều có những con đường mang tên ông.■

(Visited 241 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Lịch Sử, Phước Cảnh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *