Có một nơi để nương về

| 09/03/2016 | 0 Comments

VÕ VĂN LÂN ■

co-mot-noi-de-nuong-ve

Hai vợ chồng trẻ, chồng công tác trong ngành kiểm toán, vợ là giáo viên. Ở những địa vị đó, họ có thể có cuộc sống sung túc nếu biết vận dụng. Thế nhưng, nếp sống khá đặc biệt của họ diễn ra một cách bình dị trong một gian nhà cấp bốn ở vùng ven thành phố. Ngoài thời gian tận tụy với công tác, anh chị tự làm lấy phần lớn vật dụng trong nhà, tận dụng lúc rảnh rỗi để làm việc nhà và giúp đỡ bà con bạn bè. Cần kiệm trong việc chi tiêu, hai vợ chồng chăm lo rèn luyện học tập và nuôi dạy con cái. Một người bạn doanh nhân muốn giúp họ đã gợi ý: “Hì hục làm gì cho khổ, chỉ cần anh gật đầu, mọi cái tôi sẽ lo”. Anh chỉ cười: “Dù có thiếu thốn chút ít, chúng tôi vẫn có thời gian chăm sóc gia đình, nghỉ ngơi, giải trí nên luôn ăn ngon, ngủ yên và sức khỏe tốt”. Khi được nhắc bảo nhiều lần, anh chân thành bày tỏ: “Lúc sinh thời ba tôi thường dạy rằng bất kỳ việc gì mình làm, dù kín đáo đến mức có thể thiên hạ không biết, pháp luật chẳng hay, thì luôn luôn điều ấy vẫn được Trời Phật thấu tỏ. Vả lại, ông bà xưa cũng bảo ‘nhân nào quả nấy, gieo gió gặt bão’. Sống thế nào chúng tôi thấy nhẹ nhàng , yên ổn”.

Quả thật, từ cổ đến kim, tự Đông sang Tây, mọi nỗ lực của con người nói chung đều nhằm mục tiêu có được cuộc sống sung sướng hạnh phúc. Thế nhưng ngày nay con người cứ mãi lo lắng, bận rộn, khổ đau. Ông giám đốc này bị huyết áp cao, tiểu đường, bà trưởng phòng nọ phát hiện có bệnh ung thư, một người quen đột quỵ do tai biến, ông chủ tịch kia chết vì tai nạn giao thông, anh em gia đình ấy tranh chấp nhà cửa kéo nhau ra tòa, đôi vợ chồng đó đám cưới chưa lâu đã ly dị, lại nữa,có khi cả một ngôi làng bị lũ lụt xóa sổ…Hạnh phúc chẳng thấy đâu mà chỉ thấy toàn phải đối phó với những lo toan, tất bật, khổ đau. Trước nếp sống giản dị của hai vợ chồng trẻ ấy, nhiều người không khỏi thắc mắc. Một ngày kia, bác sĩ V, đưa một bà y sĩ người Pháp, hoạt động cho một tổ chức từ thiện, đến thăm họ. hai vợ chồng ấy nói chuyện với bà y sĩ người Pháp những gì không biết mà sau đó bà y sĩ đã tìm đến một ngôi chùa để xin quy y Tam Bảo. Sau lễ truyền giới, bà vô cùng xúc động khi được mang một pháp danh và được bổn sư truyền giới nhắc nhở người đệ tử thực hiện tốt lời Phật dạy: ‘Điều ác phải tránh. Điều thiện nên làm. Giữ tâm trong sạch. Lời chư Phật dạy’. Khi được hỏi về cảm tưởng thì bà cho biết, truyền thống tôn giáo của bà không giúp bà giải tỏa được bế tắc trước những băn khoăn của đời sống bản thân và gia đình; cho tới khi đến đây, được tiếp xúc với nhiều người, nhất là qua đôi bạn trẻ ấy, nếp sống giản dị nhưng tỏ ra kỳ diệu đầy thảnh thơi đầy an lạc của họ đã thúc đẩy bà tìm đến đạo Phật, con đường mà bà cho là có khả năng làm mọi người biết sống gần gũi và thương yêu. Khi được hỏi thêm rằng bà quan tâm nhất đến điều gì ở đạo Phật thì bà đã không do dự trả lời rằng đó là Bát chánh đạo, tám con đường chân chính của đạo Phật có khả năng dẫn dắt con người đạt đến sự thật, nhờ đó con người được an vui, hạnh phúc.

Bà y sĩ người Pháp ấy cũng lý giải một cách khái quát, rằng ngày nay tuy kinh tế phát triển khiến đại bộ phận người dân ở các nước tiên tiến có một đời sống sung túc là điều không ai chối cãi; nhưng một vấn đề nổi cộm vẫn đối diện từng con người một là tình trạng bất an, lo lắng sợ hãi trước những mất mát, dịch bệnh, thiên tai, chết chóc… Hơn lúc nào hết, con người trong cuộc sống đầy đủ ấy vẫn thấy hoang mang, đau khổ, tuyệt vọng trước hiện trạng tiêu cực trên toàn thế giới với các diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp. Nào là bạo lực trong gia đình, nơi nhà trường, ngoài xã hội; nào là tệ nạn xì ke ma túy, băng đảng trộm cướp, khủng bố giết người. Lại còn thiên tai bão lũ, động đất, sóng thần ngày càng hung hãn gây tang tóc khổ đau đến mức báo động. Tất cả những hiện tượng ấy buộc con người phải xét lại tư duy cũ để nhận thức về tính mong manh, hư ảo của mạng sống, về sự vô thường của của cải vật chất, về tình trạng có đó rồi không đó của địa vị, chức quyền. Nguyên nhân của tình trạng này thì nhiều, chủ yếu bắt nguồn từ yếu tố tiềm ẩn khiến cho con người, nhất là người phương Tây, cảm thấy thiếu vắng chỗ tựa, thiếu vắng một nơi để nương về.

Quả đúng như những điều lý giải của bà y sĩ người Pháp ấy, ngày nay nhiều người đặt cuộc đời mình vào của cải vật chất, vào địa vị quyền hành. Sở hữu nhiều của cải, tài sản được xem là mục tiêu tối thượng, là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho hạnh phúc. Thật ra, xét trong xã hội nước ta, bên cạnh tầng lớp trung lưu nhỏ nhoi ở thành phố có cuộc sống vật chất dư thừa, đại bộ phận người lao động thành phố cũng như tuyệt đại đa số người dân vùng nông thôn vẫn phải từng ngày từng giờ vật lộn với cuộc sống thiếu thốn, đối mặt với thiên tai bão lũ…giành lấy từng chén cơm manh áo. Đa số người dân khốn khó ấy khổ đã đành, nhưng ngay cả người giàu có, tiền đầy ngân hàng, chức cao, quyền lớn..liệu mấy ai an vui hạnh phúc? Hay ngược lại cũng đang phải đối mặt với lo lắng, sợ hãi? Chẳng có gì khó để hiểu được tâm trạng của giới thượng lưu khi xã hội luôn có những biến đổi mãnh liệt như suy thoái kinh tế toàn cầu, các tập đoàn nhà băng lớn phá sản, thị trường chứng khoán trồi sụt, giá cả bất động sản lên xuống thất thường khiến giá trị của tài sản, tiền bạc mà họ đang có luôn luôn ở tình trạng bấp bênh, khiến có người mới tỉ phú hôm trước hôm sau đã trắng tay. Vả lại, thế gian ‘lòng tham vô đáy’, càng thu vén, tích lũy càng thấy thiếu trước sức ép của vòng xoáy tiêu dùng, hưởng thụ vật chất khiến con người lại tất bật hơn, hối hả hơn. Thế nên gian nan không từ, hiểm nguy không bỏ miễn đạt mục tiêu tích lũy càng nhiều càng tốt. Khát vọng quyền lực và tài sản đã đẩy con người vào mưu mô, thủ đoạn dối gạt lương tâm mà hậu quả là hận thù, thanh toán, khủng bố, bức tử…Thật ra việc mưu cầu tiền bạc, tạo dựng tài sản của cải, truy tìm địa vị quyền lực..mà không hội đủ tài đức luôn có cái giá phải trả là gian nan. ‘trầy vi tróc vảy’. Do đó con người ngày càng thừa tiền bạc, tiện nghi nhưng thiếu thì giờ mà lại dư nôn nóng vội vã. Họ ăn những thức ăn chế sẵn ngay tại nơi làm việc. Ngay trong lúc ngũ nghĩ thì đầu óc họ vẫn lởn vởn bao toan tính dự trù, đến nỗi họ quên gia đình vợ con đã đành, họ còn quên cả sức khỏe lẫn sinh mạng. Cho đến ngày một tai nạn giao thông hay một rủi ro bất ngờ, một cơn bệnh hiểm nghèo đột ngột (có gì bất ngờ, đột ngột?) phải bỏ mạng hay nằm một chỗ. Họ tuyệt vọng, quy cho số phận.

Tham vọng ấy, có khi khả năng một đời người không đáp ứng thì người ta lại kỳ vọng vào con cái. ‘Hy sinh đời bố để củng cố đời con’ Không ít người đã lấy câu ngạn ngữ ấy làm phương châm sống. Để đạt mục tiêu, không hiếm các bậc cha mẹ sẵn sàng tạo áp lực để con cái dấn thân vào đường lợi danh với bất cứ giá nào; vô tình đẩy con cái vào vòng tiêu cực, sống lối sống bon chen, đua đòi. Và hậu quả ‘gậy ông đập lưng ông’, khi có chức quyền địa vị do cha mẹ xoay xở để tích lũy được tiền của, con cái đâm ra xem nhẹ tình cảm gia đình, đánh mất đạo lý làm người. Bấy giờ, các vị quan nhờ xoay xở mà được ấy sẵn sàng đưa cha mẹ vào trung tâm nuôi dưỡng người già và cho là đã hoàn thành nghĩa vụ, đâu hiểu rằng thiếu sự gần gũi,thăm hỏi chăm sóc của con cái thì dù được cấp dưỡng đầy đủ đến mấy, người làm cha làm mẹ vẫn đau khổ tột cùng. Người phương Tây cũng đã từng thấm thía về thực trạng ấy. Họ quay sang tìm lối thoát ở Đông phương. Trong khi một số nước Á Đông, cái nôi của truyền thống văn hóa lâu đời, lại cố chạy theo vết xe đổ phương Tây!.

Không thể nương tựa vào con cái, người ta lại tìm đến tình bằng hữu, đồng nghiệp. Trong một xã hội mà vật chất trở thành nền tảng của mọi giá trị, mối quan hệ căn cứ trên tương quan ‘có đi có lại mới toại lòng nhau’ thì bằng hữu, bạn bè có thể nào là nơi nương tựa? Thiếu sự hiểu biết, tôn trọng và tương kính thì bạn bè, đồng nghiệp chỉ là phương tiện trao đổi. Những vụ lường gạt, bể biu, bể hụi xảy ra nhan nhản những năm qua đủ chứng tỏ!

Trong bối cảnh xã hội mà sức mạnh đồng tiền chi phối mọi giá trị, hạnh phúc vốn sẵn trong tầm tay mấy ai chịu nắm bắt. Con người mãi ‘thả mồi bắt bóng’, chỉ đuổi bắt cái bóng, hạnh phúc có thể nào trở thành hiện thực? Ngược lại, tiền của đến từ địa vị, quyền hành dễ trở thành động cơ đưa con người lao vào ăn chơi hưởng thụ, như một sự bù trừ cho những lo lắng, giúp khỏa lấp nỗi buồn phiền, tạo một chỗ trú ẩn trước căng thẳng. Nhưng lạc thú vật chất không thể đem lại hạnh phúc thật sự, có chăng lạc thú ấy chỉ là niềm vui mong manh, là sự thỏa mãn tạm bợ, là một cách tự đành lừa để nguôi khuây. Rốt cục chỉ còn dư vị đắng cay, nhàm chán đưa đến tật bệnh nguy hiểm, sự nghiệp đổ vỡ, tan nát gia đình, đánh mất niềm tin, dẫn đến tuyệt vọng tự tử, gây rối loạn xã hội.

Có người cho là khôn ngoan khi chọn những thú vui như trồng cây, chăm kiểng, nuôi chim, câu cá…tiêu khiển cho ‘qua ngày đoạn tháng’, hoặc thanh nhã hơn như tham gia các hoạt động nghệ thuật vẽ tranh, soạn nhạc, làm thơ, viết văn…nhưng thiếu nội hàm mang một ý nghĩa nhân văn, phải chăng đó là giải pháp nếu không là kinh doanh? Nếu thế, khi xảy ra dao động giá cả thị trường, thời tiết, mùa vụ…làm sao tránh khỏi bám víu, dính mắc trước buồn vui, được mất, nhất thời sinh tâm lo lắng, buồn phiền…để khi đó bệnh tật, khổ đau là tất yếu khó tránh. Thật vậy, thiếu nội dung tích cực, những thú vui gọi là tao nhã cũng chỉ là phương cách tạm hoãn chứ chưa thể là giải pháp khả dĩ giúp con người đủ khả năng đối mặt trước các vấn đề sống còn: sự nghiệp, tình yêu, lý tưởng, và nhất là các sự khổ của sinh già bệnh chết. Cũng thế, trong một xã hội bị chi phối bởi cơ chế thị trường, mọi giá trị bị đảo lộn, sinh hoạt văn học nghệ thuật không thể ra ngoài quy luật. Thị trường chữ nghĩa và nghệ thuật đã rộ lên nhiều loại hình sáng tác văn, thơ, phim ảnh…nhưng chỉ đủ cung ứng những tác phẩm không đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của công chúng và thiếu khả năng tồn tại, giỏi lắm chỉ có thể thỏa mãn thị hiếu nhất thời của một bộ phận.

Điều gì đã khiến đôi vợ chồng người bạn trẻ nói trên tự tin, trụ vững trước cám dỗ của tiền tài, không chạy theo cuộc sống đua đòi, ăn chơi, tiêu dùng,thể hiện nếp sống thảnh thơi, vững chãi, trong điều kiện của người có chức có quyền, mà không làm điều bất chánh? Chính là Bát chánh đạo với cái nhìn đúng đắn (chánh kiến), sự suy xét đúng đắn (chánh tư duy), lời nói phù hợp (chánh ngữ), có phương cách làm ăn chân chánh (chánh mạng), cân nhắc tác động hậu quả hành vi mình gây ra cho mình cho người (chành nghiệp) nỗ lực không mệt mỏi (chánh tinh tấn), nghĩ nhớ, quán xét điều thiện lành (chánh niệm), tập trung tư tưởng vào vấn đề chính đáng và đúng lẽ thật (chánh định)… đã được tu tập thuần thục. đôi vợ chồng người bạn trẻ nói trên đã hiểu rõ đấy chính là điều kiện tối quan trọng để nắm bắt thực tại, có khả năng hóa giải nỗi khổ đau của con người, tiếp cận vẻ đẹp và sự vi diệu của cuộc sống. Thực hành thuần thục Bát chánh đạo thì hành vi của mỗi người mang ý nghĩa tự lợi tự tha. Nếu không, mọi hành động dù trau chuốt bóng bẩy đến mấy cũng chỉ mang tính công thức sáo mòn dẫn đến tác hại nguy hiểm, thí dụ như trường hợp sách báo, phim ảnh đồi trụy, kích thích bạo động..vẫn là một trong những nguyên nhân lôi kéo vô số con người bị tha hóa, sa vào ăn chơi, rượu chè, cờ bạc trác táng, bạo động giết người. Những gì bà y sĩ người Pháp đã nêu không thể không làm chúng ta suy nghĩ và liên tưởng đến hiện trạng vẫn hằng ngày hằng giờ xảy ra quanh ta.

Trong thời đại ngày nay, tiện nghi vật chất được trang bị đến tận chân răng, kẽ tóc cho con người, nhưng cuộc sống vẫn còn trăm mối ngổn ngang, mạng sống con người khác nào chỉ mành treo chuông, đời người trong tích tắc, sớm còn tối mất, mọi thứ tiền tài, danh vọng, chức quyền có đó mất đó. Có lúc được dạy là trung tâm vạn hữu, con người tưởng mình làm chủ vũ trụ bao la đầy bí ẩn, con người thực sự nhỏ bé yếu đuối, bấy giờ con người đâm ra hoang mang tự hỏi, liệu mình có thể làm chủ được chính mình hay vẫn phải cần một chỗ tựa? Con đường tâm linh theo lời Phật dạy là quay về hải đảo tự thân. Không ai khác ngoài chính con người phải định hướng và chịu trách nhiệm về tư duy cũng như hành động của mình. Nhưng để có thể quay về với hải đảo tự thân, con người phải biết thực hành bát chánh đạo. Đó chính là quy chuẩn đạo đức cho xã hôi, là phương tiện vén mở bức màn bí mật cho những vấn đề vũ trụ nhân sinh mà khoa học chưa lý giải được, là sự gợi mở hướng tiếp cận thực tại giúp giải mã những gì con người không thấy được bằng mắt, nghe được bằng tai, đồng thời giúp con người cảm nhận ý nghĩa vi diệu của cuộc sống, để biết rằng chuyện cổ tích, trang huyền thoại, tình yêu, lòng vị tha…là có thực. Đó chính là nơi nương về cho bà y sĩ người pháp, cho đôi vợ chồng người bạn trẻ, cho tôi, và cho mọi người chẳng những hôm nay và mãi mãi mai sau. Đó chính là con đường tâm linh Phật giáo!■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 97

(Visited 132 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Tản mạn, Võ Văn Lân

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *