Cuộc đời người ta

| 20/02/2013 | 0 Comments

| NGUYỄN ĐĂNG TRUNGCuộc đời người ta

Sự sống thay đổi trong từng khoảnh khắc, nhưng khi Đông qua Xuân lại, vào lúc giao thừa ai cũng thấy lòng mình bồi hồi xao xuyến. Đó là lúc nhiều người bâng khuâng nhớ lại những chặng đường đã qua và những kỷ niệm trong cuộc đời mình…
Ảnh:Lê Hồng Linh

Sự sống thay đổi trong từng khoảnh khắc, nhưng khi Đông qua Xuân lại, vào lúc giao thừa ai cũng thấy lòng mình bồi hồi xao xuyến. Đó là lúc nhiều người bâng khuâng nhớ lại những chặng đường đã qua và những kỷ niệm trong cuộc đời mình…

Cuộc đời. Người Việt có ai mà không biết đến hai chữ “cuộc đời”. Còn nếu được yêu cầu dịch ra tiếng nói của các dân tộc khác thì dường như đây là công việc đơn giản nhất đối với bất kỳ người phiên dịch nào, vì có con người nào trên trái đất này lại không có ý niệm về sự sống trong đời. Và do đó chẳng mấy ai bận tâm khi  chuyển ngay hai chữ “cuộc đời”qua tiếng Pháp là “lavie”, sang tiếng Anh là”life”, tiếng Nga là “zhizn” …Thế nhưng, dịch như thế thì chỉ mới chuyển được một nửa ý nghĩa của cuộc đời. Còn chữ “cuộc “thì sao?

Cuộc là sự việc có nhiều thành phần tham gia, diễn ra theo một quá trình nhất định. “Đời” là khoảng thời gian sống của một sinh vật.

Bản chất của mọi thế giới chỉ là cái biết. Cái biết tương đối diễn biến theo một tiến trình vô tận, qua từng “cuộc” có sự sống ,mà các “cuộc” kế tiếp nhau được phân cách bởi cái chết. Mỗi “cuộc” có sự sống như thế được gọi là một đời (kappa-kiếp): “đời đời-kiếp kiếp”. Đây là nhận thức của người Việt. Ông cha chúng ta ngày xưa đã gửi gắm nhận thức của mình khi cấu thành hai chữ “cuộc đời” để cho các thế hệ mai sau hiểu rằng “đời người không chỉ sống có một lần”. Tiếc thay, ngày nay không còn mấy ai quan tâm đến điều đó!

Ta đã bước vào cuộc đời này như thế nào? Xin hãy nhớ lại…

Ánh sáng chói lòa, âm thanh dữ dội, cái đau đến tột độ và niềm khao khát mãnh liệt lẫn trong nỗi khiếp sợ hãi không cùng (đứa bé sơ sinh vừa mở mắt đã  lập tức nhắm nghiền lại, thét lên tiếng khóc chào đời). Ánh sáng ấy, vùng âm thanh ấy, cái đau ấy, lúc hiện lên lúc biến mất (đứa bé sơ sinh lúc thức lúc ngủ) với cường độ giảm dần; nhưng nỗi khao khát cứ mỗi lúc một mạnh hơn, nó thôi thúc và làm khổ còn hơn cả sự đau đớn.

Có những hình bóng lờ mờ trôi giạt. Hễ chúng xuất hiện thì bao giờ cũng có những âm thanh vang động đi kèm. Rồi một cái bóng vụt lớn lên che khuất mọi hình bóng khác. Một cảm giác đau đớn rát bỏng rồi êm dịu ngay. Một luồng chảy sung sướng làm cho nỗi thèm khát vơi đi (đứa bé sơ sinh úp mặt vào bầu vú mẹ và uống dòng sữa đầu tiên).

Sự việc đó lặp lại nhiều lần. Nó khao khát mãnh liệt không xác định ban đầu trở thành sự thèm muốn hướng vào cảm giác chạm xúc êm dịu và luồng chảy sung sướng vừa mới biết. Nhưng không phải lúc nào cũng có chúng. Thèm muốn mà không được thỏa mãn thì khổ .Nhiều khi khổ đến mức dường như không chịu đựng nổi (đứa bé sơ sinh khóc khi đói).

Có những hình ảnh cử động và những hình ảnh không cử động. Có hình ảnh xuất hiện kèm theo âm thanh rền vang (đứa bé nhìn và nghe người khác nói chuyện). Có những hình ảnh chạm vào nhau mà không có cái đau nhưng cũng có những hình ảnh mà khi đụng vào hình ảnh khác thì cảm giác đau đớn lập tức xuất hiện và xuất hiện ngay tại nơi đó (đứa bé bắt đầu nhận ra hai tay của nó đang quờ quạng,trước mắt và cảm giác đau khi đụng vào vật khác). Hình ảnh mà có cái đau thì dường như có thể cử động theo ý muốn, và quả thật là nó cử động theo ý muốn. Cái đau không còn lẫn trong vùng rộng lớn nữa mà chỉ ở những nơi rất gần. Mà ở đâu có cái đau hay cảm giác dễ chịu thì hình ảnh của nó ở nơi ấy có thể chuyển động theo ý muốn (đứa bé bắt đầu nhận ra và ý thức về thân thể của mình).

Ý niệm về cái ta xuất hiện lúc nào không hay, nhưng đây là ta, là thân xác ta.Và trong những âm thanh do ta phát ra (đứa bé bắt đầu có ý niệm về “cái tôi” của mình).

Thế là ta đã biết rằng có một cái ta riêng biệt. Mọi thứ khác không phải là ta. Ta nhận ra chúng bằng cách phân biệt và xác định chúng bằng âm thanh (đứa bé bắt đầu học nói).

Và cứ thế, ta lớn lên. Ta biết ta là con người đang sống, giữa những người khác, trong một cái mà mọi người gọi là thế giới. Vì ta là người Việt nên ta được cha mẹ dạy rằng, đừng nói là “những người khác”, mà hãy gọi những người khác là  “người ta”.

Khoa học ngày nay hiểu rõ về cơ chế vận hành và năng lực của các giác quan. Khi các giác quan truyền đạt không trung thực các kích thích bên ngoài thì mọi đối tượng mà con người cảm nhận đều chỉ tồn tại trong các giác quan và đều không thật.

Như vậy, với từng cá thể có cái biết, những gì được thấy là “thân xác vật chất của mình”và “thân xác vật chất của người khác” cùng đều là các hình thái như nhau trong phần được biết của chính mình. Khi cái được thấy là thân xác vật chất của người khác lại là của chính mình, thì mọi tư tưởng, tình cảm, lời nói, hành động của “những người khác”mà mình cảm nhận được cũng đều thuộc về phần được biết của chính mình. Khi tất cả đã “là chính mình”và “của chính mình”thì  không còn có gì là ngoài “cái tôi” thì thực chất không có gì là chủ thể hay khách thể.

Khi đã không có cái gì bên ngoài cái chính mình, không có khách thể thì “cái tôi” trở nên vô nghĩa,tức là không có “cái tôi”. Mặt khác, tất cả mọi thứ lại là kết quả của một sự vận động truyền đạt không trung thực, do đó ngay ý niệm về “cái tôi” cũng không thật. “Cái tôi”mà không thật thì cũng có nghĩa là không có “cái tôi”.

Không có “cái tôi” là kết luận hợp lý nhất có thể được suy ra từ nhận thức khoa học về tình trạng truyền đạt không trung thực của các giác quan. Nội dung của kết luận này đã được Đức Phật trình giảng từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước, bằng cách đưa ra các dẫn dụ trong bảy lần phản biện với ông Anan, được ghi lại trong kinh Lăng Nghiêm. Vô ngã ( anatta) có nghĩa là không có “cái tôi”.

Ta là người Việt. Ta không phải là người Hán. Do đó ta không gọi những người khác là “tha nhân”.

Vì thế, khi cần cứu giúp, cũng như mọi người Việt khác, ta kêu lên “Bớ người ta!”. Chẳng có người Việt nào lại kêu “Bớ người khác!”. Khi yêu một người nào đó, ta sẵn sàng đổi cách xưng hô: “Người ta đã yêu mình tha thiết thế, nỡ lòng nào mình không đáp lại?”.

Trong cuộc đời, “người ta” có quan hệ rất chặt chẽ với mình, đem lại cho mình các cảm giác sướng,khổ, vui, buồn…; khiến mình mừng, giận, yêu, ghét…Nhưng đã là người của ta, người thuộc về ta, lẽ nào mình lại sinh lòng thù hận, mình lại vận hành tranh đoạt mà không đối xử tử tế. Lẽ nào “mình” tranh chấp cùng “ta”?

Ông cha chúng ta ngày xưa đã gửi gắm nhận thức của mình khi cấu thành hai chữ “người ta” để cho các thế hệ mai sau hiểu mà cư xử cho đúng trong đời. Tiếc thay, ngày nay không còn mấy ai quan tâm đến điều đó.

Vì thế mới khổ nhiều sướng ít. Thấy người đau khổ, ta buột miệng cảm thán: “Tội nghiệp!”. Ông cha ta thuở xưa cấu tạo từ này để chuyển tải nội dung của một nhận định: “Đau khổ đó là do động lực nội sinh (kamma-nghiệp) từ các vận hành xấu ác trong quá khứ”. Còn có bao nhiêu người Việt chúng ta còn hiểu ý nghĩa đó khi đang cảm thán?

Ai cũng biết có nhiều ngôn từ tiếng Việt có gốc từ các thuật ngữ Phật học, như:Bụt (Buddha:Phật), giác ngộ (bodhi:giác), giải phóng (gần nghĩa với giải thoát), trí tuệ (panna:tuệ),  hằng hà sa số ([nhiều như] số cát sông Hằng), lục tặc (sáu loại giặc, vốn để chỉ tác hại của sáu loại kích thích xấu ở sáu gốc giác quan, được dùng để chỉ trẻ con nghịch ngợm), danh lam ( arama-lam:chùa,tu việ)v.v…Nhưng thiết nghĩ, nếu người Việt Nam ta, ai cũng nhớ đến ý nghĩa của ba từ tiếng Việt kể trên,thì xã hội này chắc sẽ tốt đẹp hơn nhiều lắm.■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 12

(Visited 57 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Nguyễn Đăng Trung, Tản mạn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *