Đám cưới (tt)

| 28/02/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 26 | CAO HUY THUẦN  (Tiếp theo và hết)

Đám cướiSocrate hay thật! Không biết ông đã bao giờ yêu chưa mà thấu rõ ruột gan mình thế! Tình yêu là luôn luôn cảm thấy thiếu vì dục vọng không bao giờ vừa. Từ đó mà luôn luôn cảm thấy khổ, kể cả lúc đáng lẽ sướng, luôn luôn bức rức, dày vò, đói, khát, cấu xé, tức tối, hờn dỗi, ghen tuông, nghi kỵ … Cái mà mình muốn, mình chưa có; cái mà mình có, mình đánh mất: cuộc đời!

Hai nỗi khổ đó của đam mê thúc đẩy nhau tiến tới mãi, bởi vì đam mê là trốn mãi sự thật trước mắt. Nhưng khổ ấy làm giàu tiểu thuyết, càng khổ càng được tiểu thuyết tán dương là biết sống, dám sống, sống hết mình, chịu chơi. Và để được khổ, tiểu thuyết tưởng tượng ra trăm ngàn cản trở trong tình yêu, tình yêu mà không gặp cản trở thì văn chương hết nhựa. Cho nên:

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Đời mất vui khi vẹn câu thề
Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đậu …

Và nếu đã trót hẹn hò thì hãy làm thế này:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé.

Nhé! Cứ thế, cứ thế, hết cản trở này đến cản trở khác, cho đến cản trở tối hậu là cái chết, không giết người yêu thì tự tử, không tự tử một mình thì tự tử hai mình. Hãy nhìn văn chương Pháp – như một nhà bình luận đã nhận xét: hạnh phúc của hai người tình chỉ làm ta xúc cảm khi có bất hạnh nào đó đang rình mò họ. Nhớ nhung, hoài niệm làm ta rung động chứ không phải hiện tại, bởi vì hiện tại là chớp nhoáng, là huy hoàng trong giây lát, không diễn tả được.

Tình yêu hạnh phúc không có mặt trong văn học Tây phương; các ông thi sĩ ở châu Âu gặp nhau trên một điểm khiến họ khác với thi nhân trên thế giới, và đó là điểm diễn tả sâu xa nhất ám ảnh của con người Âu châu: hiểu biết qua đau khổ. Đó là bí ẩn của chuyện tình danh tiếng Tristan và Iseut, tình yêu-đam mê vừa chia sẻ lại vừa khước từ, ray rức trong hạnh phúc mà cả hai từ chối không chịu hưởng, để được chói lọi hào quang nơi cái chết tận cùng. Họ chọn đam mê thay vì hạnh phúc, thiếu hơn là có, cho nên họ chọn cái chết thay vì sự sống. Đó là bí quyết yêu của Tristan và Iseut, của Romeo và Juliet, của Manon Lescault, của Anna Karenina, của Bovary phu nhân.

Lạ thật, bao nhiêu cặp trong tiểu thuyết yêu nhau song phương mà vẫn khổ. Họ xác quyết “anh yêu em, em yêu anh” mà cứ khổ bên nhau. Thế thì phải có nguyên nhân. Nguyên nhân là thế: người này yêu người kia không phải vì người kia như thế trong thực tế, mà yêu qua hình ảnh của mình, trông đợi của mình, yêu vì mình, không phải vì người kia. Trong “yêu nhau” của họ, yêu thì nhiều nhưng nhau thì chẳng bao nhiêu. Cho nên Xuân Diệu phát ngôn nhân tuyên bố: “Yêu là chết ở trong lòng một ít / Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu / Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu”. Hai người, mỗi người là mỗi anh chàng Narcisse say sưa ngắm bóng mình nơi người kia; nơi người kia, mỗi người tìm ngây ngất cho chính mình. Họ cần người yêu để yêu, để đốt cháy lòng họ, và nếu nhớ nhau mà lửa nồng hơn thì họ thích xa nhau để nhớ hơn là gần nhau: gần nhau thì mất đi cái thiếu, thì còn gì là tình yêu.

Trong tiểu thuyết danh tiếng của Proust, A la recherche du temps perdu (“Đi tìm thời gian đã mất”), khi nàng Albertine đến, chàng mơ mộng những chuyện khác và chàng chán. Khi nàng đi, lập tức đam mê bùng cháy, chàng thấy thiếu và chàng khổ. “Nhiều khi, để chứng tỏ rằng chúng tôi yêu đương, hoặc ít ra để chứng tỏ chúng tôi sẽ yêu đương, phải có ngày chúng tôi từ biệt nhau”. Proust viết thêm: “Những thú vui mà nàng đem lại cho tôi sao mà tầm thường quá so sánh với châu báu của dục vọng mà tôi không thực hiện được vì có nàng”.

Tristan và Iseut yêu nhau, nghĩa là nhắm vào đoạn trường mà xông tới. Tìm đến khổ đau trong tình yêu, đó là bí ẩn sâu kín mà người phương Tây dấu tận đáy lòng, mỏ vàng mà ông Freud, ông Jung tha hồ khai thác (1). Có, thì buồn, thì chán, thì cứ muốn thiếu; dục vọng không bao giờ hết vì bao giờ cũng phải thiếu.

Có cách nào để thoát ra khỏi tình trạng ấy chăng? Socrate gợi ra hai lối thoát. Ông nhắc lại cho rõ: tình yêu là thiếu cái mình yêu và muốn có cái đó mãi. Làm sao có mãi được vì mình sẽ chết, và làm sao có được khi mình cứ thấy thiếu hoài? Cách thứ nhất: “sinh đẻ trong cái đẹp, hoặc do thể xác hoặc do tinh thần”. Ai cũng có nhu cầu sinh đẻ, nhu cầu nối dài cuộc đời của mình bằng một tác phẩm đẹp, tốt, bền vững, bất tận. Sinh đẻ do thể xác, khi một người đàn ông và một người đàn bà tạo ra một đứa con, một đời sống mới mà ai cũng mong là đẹp hơn, tốt hơn. Sinh đẻ bằng tinh thần, khi một người nghệ sĩ sáng tạo, một người anh hùng, một nhà chính trị để lại vinh quang. Bằng sinh đẻ, con người thực hiện ước mong bất tử mà ai cũng có do bản năng. Con vật cũng có bản năng đó: hãy xem chúng nó giao hợp với nhau nồng nhiệt như thế nào, và hãy xem chúng nó bảo vệ cho con dũng mãnh đến đâu, chết cũng không từ. Thân thể của chúng ta cũng vậy, thường xuyên tế bào sống thay thế tế bào chết, như cây thay lá mỗi mùa xuân.

Còn một cách thứ hai nữa, rốt ráo. Tình yêu là hướng thượng, là đi lên, đi lên mãi, đi lên cho đến tận cùng. Bắt đầu là yêu một thân thể đẹp, rồi yêu tất cả thân thể đẹp, rồi cái đẹp nói chung nơi tất cả thân thể ấy, rồi từ cái đẹp vật chất bước lên cái đẹp tinh thần, cái đẹp của đạo đức, của hành động, của tri thức, và cuối cùng, cái Đẹp tuyệt đối, vĩnh viễn, bất biến, cái Đẹp tự thân, hiện ảnh của tất cả những cái đẹp được cảm nhận. Đó là nơi hẹn hò đích thực với vĩnh cửu, vì sự khám phá ra cái Đẹp toàn hảo cũng là sự khám phá ra chân lý. Yêu cái Đẹp tận cùng sẽ dẫn đến yêu cái Chân.

Như vậy, phải chăng tình yêu chỉ dẫn đến một trong hai chỗ mà thôi: hoặc là đau khổ hoặc là thăng hoa? Sau Socrate, nhiều tôn giáo đã dạy con người như thế: phải thăng hoa tình yêu để hướng đến tình yêu một Đấng Tối Cao. Phải “chết” mình đi trong đời này để sống một đời mới: “chết” mình và “chết” cuộc đời này như là mình và cuộc đời đều là kẻ phạm tội, để được trả lại mình cho mình và cuộc đời cho cuộc đời như là đã được cứu rỗi.

Ấy là chuyện tôn giáo. Với Socrate, chúng ta có tự do hơn để cười đùa ngụy biện triết lý trong “Bữa Tiệc” đầy tiếng cười đùa của Platon: nếu tình yêu là thiếu, và nếu Đấng Tối Cao ấy là Tình Yêu, đó có phải là tình yêu không khi Ngài, theo định nghĩa, không thiếu gì cả, khi Ngài là toàn vẹn? Còn nếu Đấng Tối Cao không phải là Tình Yêu thì Ngài có mặt ở đấy để làm gì? Để trừng phạt? Để làm con người sợ? Có lẽ ta hãy để cho Socrate nghỉ ngơi sau bữa tiệc vì trời đã sáng và ông đã mệt. Cái Đẹp mà ông đưa ta đến, tha hồ chúng ta tưởng tượng. Có khi chỉ một giọt sương mai, chỉ một câu thơ thần cũng đủ làm ta ngây ngất đến chín tầng mây. Cám ơn ông đã soi đèn vào tận mặt Eros để chỉ cho ta thấy thần Ái Tình này không hẳn là thần, lại càng không phải là thần đẹp trai – hoặc đẹp gái – làm ta mê mẩn. Cám ơn ông đã kéo ta ra khỏi mê hồn trận của mơ mộng hão huyền biến hai thành một theo lời dụ dỗ đường mật của Aristophane. Cám ơn ông đã không ngại nói ra sự thật khó nói: tình yêu là thiếu, nghĩa là ước muốn, nghĩa là đam mê, nghĩa là dục vọng.

Nhưng cần gì phải thăng hoa tình yêu? Từ giã lĩnh vực triết lý của Platon để đi vào đời sống thường ngày, chẳng lẽ khi mình yêu ai, chẳng có chút chân thật nào trong tình cảm của mình? Chẳng lẽ tất cả đều là mê đắm, huyễn hoặc? Trong ưa thích, ham muốn, dục vọng của mình, chỉ toàn là chiếm đoạt, chẳng có chút nào là tặng trao? Vấn đề là từ cái điểm chân thật đó, tình yêu tạo ra một vầng hào quang giả chung quanh đối tượng của đam mê, rực rỡ áo vàng hoàng hậu, diễm ảo hoàng tử của lòng em, “lòng trinh bạch chưa hề thờ một chúa”…Tô điểm cho người, thật ra chỉ là tô điểm cho mình: mình nhìn người qua mơ tưởng từ đáy lòng, mình yêu mình qua hình bóng của ý trung nhân. Chừng nào sự chờ đợi được thỏa mãn, quan hệ giữa hai bên còn thắm, nhưng bao nhiêu lứa đôi trên đời này bỗng một ngày kia chẳng chợt thấy ý trung nhân nơi mày ngài của một người thứ ba? Có bao giờ người thứ ba không hiện ra với một vầng hào quang? Có bao giờ người thứ ba nói chuyện gạo cơm mắm muối lè nhè như người trước mắt? Hay ngủ ngáy khò khò như người bên cạnh?

Vấn đề thường ngày của lứa đôi không phải là thăng hoa tình yêu để cứu tình yêu: vấn đề là thấy và biết những vầng hào quang giả mà chính mình đã vẽ vời chung quanh một điểm sáng có thật nơi tình cảm chân thật lúc đầu. Đối với tình yêu cũng như đối với cuộc đời, xóa đi những vầng hào quang giả thì cái mà ta quen gọi là hạnh phúc sẽ tự đến, không ai mời. Cuộc đời là như vậy, đầy thất vọng và khổ đau, tình yêu cũng vậy thôi.

Nhưng cái gì làm ta đau buồn, đâu phải cuộc đời, đâu phải tình yêu? Chính ta, chính ta chờ đợi, chính ta ước mong một cái gì khác nơi cuộc đời vốn thế, tình yêu vốn thế, người khác vốn thế. Tất cả đều vốn thế, mà ta thì cứ muốn nó khác. Đó là trò chơi mà người thua cuộc là ta thôi, bởi vì ta cũng vốn thế, đâu có biết rằng người lứa đôi cũng chờ đợi ta một cái gì khác hơn? Ai cũng chờ đợi nơi nhau cái khác, mà cái khác đó vốn là không có, đó là ta đang sống chăng, hay đang bị sống?

Vậy thì phải trở lại làm chủ tình yêu, làm chủ cái điểm sáng chân thật lúc ban đầu bằng cách tỉnh táo sống với cuộc đời như thế, tình yêu như thế, người khác như thế. Như thật. Chỉ như vậy mình mới biết mở lòng ra để nhận những tương đối nơi người và để người kia nhận những khuyết điểm nơi mình: đám cưới là biết yêu và biết tha thứ cho nhau.

Nói “tha thứ” là vẫn còn mang ít nhiều tự cao tự đại về mình. Tình yêu thực sự là khi nào mình nghĩ đến người khác hơn nghĩ đến mình, nghĩ đến người khác trước mình, khi mình quên mình. Quên mình khó hơn là thăng hoa, vì thăng hoa cũng vẫn còn là mình, vẫn là mình đó thôi. Nhưng bước đầu của việc quên mình không khó, ai mới yêu nhau đều biết, đều làm: vui với, buồn với, khổ với. Biết sống với chữ với, tức là đi bước đầu trong việc quên mình.

Thói thường, vui với không khó, vì tiếng cười vốn dễ chia sẻ; khổ với mới khó, vì mấy ai chia chung được với nhau một giọt nước mắt, nhất là một giọt nước mắt thầm. Đám cưới là thách thức huy hoàng nhất trong đời; đó là lúc mà hai người dám nghĩ và dám hứa sẽ cùng nhau san sẻ mọi bất hạnh trong cuộc đời. Ai biết khổ với người khác thì biết yêu nhau là thế nào, khỏi cần chữ nghĩa, triết lý.

Bởi vậy, đám cưới là ngày vui nhất đời. Hãy mời thật nhiều bạn bè đến chứng kiến cùng ta một lễ thiêng liêng, không phải thiêng liêng nào với một đấng cao xa gì đó, mà thiêng liêng của một lời nguyện giữa hai người: con nguyện sống với, vui với, khổ với, bởi vì con biết rằng hạnh phúc không bao giờ đến với ai không biết quên mình. Đám cưới là ngày vui nhất trong đời, bởi vì gia đình chính là chỗ để học và để hành hai chữ vô ngã.

Chú thích :

( 1) Denis de Rougemont, L’amour et I’Occident, Pion, édition 1972, các trang 30, 36, 38, 39)

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 26 | CAO HUY THUẦN  (Tiếp theo và hết)

Đám cưới kỳ 1

(Visited 215 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Tản mạn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *