Vài suy nghĩ nhân đọc “Đời sống tình cảm của nhà chùa” (tiếp)

| 29/05/2014 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 54 | Lý Kim Hoa

VÀI SUY NGHĨ NHÂN ĐỌC BÀI “Đời sống tình cảm của nhà chùa” ( viết tiếp VHPG số 53)

doi-song-tinh-cam

2. Nghĩ về hai giới của phật

Bảy chúng của Phật được chia làm hai giới xuất gia và tại gia. Nhờ có chúng xuất gia mà đầu tiên thế giới có đủ Tam bảo: Phật, Pháp và Tăng. Xuất gia hay tại gia trước tiên chỉ là hình thức sinh hoạt, nhưng trong Phật pháp, Tăng giữ vai trò vô cùng quan trọng được coi là trưởng tử của Như Lai, thay Phật hoằng dương Phật pháp trong thời không có Phật. Công đức xuất gia thật vô biên vô lượng. Nhiều lần gtiảng dạy, Phật đã tán thán công đức này, cho dù chỉ xuất gia một ngày một đêm. Vì vậy có pháp tu Bát quan trai cho người tại gia tạo duyên với lối sống giải thoát. Các nước Phật giáo Nam tông có tục lệ xuất gia một số năm.

Lúc Phật ở nước Tì-xá-li có vương tử tên Tì-la-tiện-na hỏi Tôn giả A-nan giáo pháp nào của Phật nếu thực hành sẽ được nhiều lợi ích,… “ A- nan bạch Phật, Bạch Thế Tôn! Nếu có người hóa độ cho kẻ khác xuất gia, người xuất gia ấy tu tập hoàn thành mọi việc cần thiết thì được phúc đức như thế nào? Phật bảo: A- nan! Nếu ông sống đủ một trăm năm để hỏi Ta việc này, Ta cũng dùng trí tuệ vô tận đủ một trăm năm, trừ những lúc ăn uống, để vì ông giảng nói rộng về công đức của người ấy cũng không thể hết được” ( Kinh Phật Thuyết Xuất Gia Công Đức, Đại tạng kinh, trang 814).

Phật cũng cho A- nan biết công đức xuất gia dù chỉ một ngày một đêm như sau: “ A-nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Tì-la-tiện-na này nhờ chỗ gieo trồng thiện căn sinh ở nơi tôn quý thụ hưởng phúc lạc là vì quá khứ có hành thiện, hay chỉ nhờ vào công đức xuất gia một ngày một đêm nơi hiện tại mà thụ hưởng phúc báo nhiều vậy? Phật bảo: A-nan: Ông không cần quan sát nhân duyên quá khứ, chỉ đối với một ngày một đêm xuất gia thanh tịnh, thiện căn đạt được đủ để bảy lần qua lại phụ hường phúc báo hai mươi kiếp trong sáu tầng trời cõi Dục. Sau cùng sinh vào loài người cũng được thụ hưởng cảnh an lạc nhất” ( Kinh đã dẫn). Phật lại bảo A-nan: “ Nếu có người đủ trăm năm tận tâm cúng dường các A- la- hán nào y phục, thức ăn uống, thuốc thang, phòng ở, đồ nằm… cho đến sau khi các A-la- hán ấy nhập Niết- bàn, lại xây dựng tháp miếu dùng đủ châu báu hoa hương anh lạc cờ phướn lọng báu kỹ nhạc, treo giăng chuông báu, quét rưới nước thơm, dùng kệ tung tán thán cúng dường thì được rất nhiều công đức. Nếu có người vì nhằm giải thoát mà xuất gia thụ giới, dù chỉ một ngày một đêm hành trì tinh tiến thì công đức đườc mười sáu  phần, còn công đức nơi người trước chỉ bằng một phần. Do nhân duyên như vậy các thiện nam nên xuất gia tu trì tịnh giới” ( Kinh đã dẫn, Đại tang kinh, quyển 16, trang 815).

Xuất gia làm những gì mà được công đức to lớn như vậy? Hẳn không chỉ rời bỏ ngôi nhà thế tục cạo tóc nhuộm áo, ở chốn Già – lam; mặc dầu cô độc là cái đức của người tu hành là cái đức của người tu hạnh giải thoát. Đúng vậy, Tì – khưu ở A – luyện – nhã không ở nhà thuê, chùa chiền ở chốn tùng lâm không chen chúc nơi thị tứ và chư Tăng được gọi là chư sơn, danh tăng thường lấy tên núi làm tên mình. Nhất bát thiên gia phạn, núi rừng u tịch, cảnh thiền môn thanh thoát biết bao. Tô Đông Pha cũng cảm nhận điều đó:

Khê thanh tiện thị quan trương thiệt,
Sơn sắc vô phi thanh tịnh tâm
.

(Tiếng suối khe là tiếng lưỡi rộng dài,
Màu non nước là tâm hồn thanh tịnh.)

Ấy cảnh ấy người, thanh thoát là như vậy. Cảnh tịch tâm không là môi trường và cuộc sống tâm linh của người xuất gia. Nhưng sống như vậy rốt cuộc để làm gì, ích lợi cho ai. Nếu xuất gia chỉ là ra khỏi nhà thế tục thì thế gian này bao nhiêu kẻ bỏ nhà ra đi cũng là xuất gia? Nếu xuất gia chỉ là hình tướng thì trừ những người hói bẩm sinh, cạo đầu giờ đây đã trở thành mốt thời thượng, nhạc sĩ, nhạc công, diễn viên sân khấu, khách kinh doanh, nhà chính trị, quốc vương cho đến tân phát xít, chẳng thiếu chi người đầu không có tóc, cũng là xuất gia?

Dáng dấp nhà sư trong bộ ca – sa chống gậy trúc lần theo đường sỏi  nơi núi rừng trông như thần tiên thoát tục. Thế nhưng đâu phải chỉ có vậy. Có người đã nói: “Vị trước ca – sa hiềm đa sự, trước liễu ca – sa sự cánh đa” Chưa mặc được chiếc áo tu thì hiềm vì thế sự phiền nhiễu, mặc áo tu rồi mới thấy lại càng nhiều chuyện hơn. Có lẽ cũng không sai. Vì chưa xuất gia chỉ sống trong pháp thế gian, xuất gia rồi lại cộng thêm pháp xuất thế gian. Thế là “hai trong một”, bất tức nhưng cũng bất ly.

Đạo không phải đời, đời không phải đạo, nhưng đạo chẳng lìa đời, đời không xa đạo. Chẳng thế Tổ Huệ Năng đã nói:

Bỏ đời đi tìm đạo,
Như tìm sừng con thỏ.

Và sư núi Yên Tử đã bảo vua Trần rằng trong núi không có Phật để khuyên vua trở lại với việc triều chính.

Trong tinh thần đó Phật giáo luôn sát cánh với dân tộc trong vinh quang cũng như trong gian nguy. Thời kháng chiến chống thực dân có sư Cam ở Sơn Tây, có Bạch Xi tướng quân ở Quảng Bình, có đạo Lành ở Nam Bộ, có Võ Trứ ở Bình Định v.v. Thời chống chế độ độc tài năm 1963 ở miền Nam, Tăng Ni đổ dồn vào thành phố, không chỉ tụng kinh mà cũng “đòi hỏi năm nguyện vọng” không chỉ lần tràng niệm Phật mà cũng cùng sinh viên học sinh cầm loa hô khẩu hiệu.

Thế mà thấy cúng dường trai tăng có người đã bảo: Mấy ông đi tu sướng quá, ăn cơm còn bắt người ta lạy! Không vào ngồi trên đó nên không biết đấy. Hãy thử tưởng tượng trời nóng trên 34 độ C trong không khí đầy hơi người lại đèn nhang nghi ngút, người người ngồi kế nhau, trên người trong cùng là cái áo ba lỗ, tiếp đến một lớp áo bà ba hay vạt hò, rồi đến áo tràng, ngoài cùng là y ca – sa, trên cổ tròng một xâu chuỗi, miệng tụng niệm liên hồi. Ấm áp làm sao mà trong người mồ hôi cứ tươm ra, chảy xuống lưng xuống bụng, nhột nhạt như những con gì bò mà không còn tay đâu đưa lên gãi vì một tay bưng bát còn tay kia bắt ấn! Đã vậy khi ăn còn tác pháp quán tưởng, đại khái tự hỏi cái ăn này là người ta tốn hao nhiêu công sức mới có, ai đem đến cho ta ăn, mình có tư cách gì mà ăn, chớ nên tham thực cực thân, đây như thuốc chữa bệnh, vì không ăn thì chết mất, chết rồi làm sao tu, mà sống thì phải “tốt đời đẹp đạo”. Mấy cọng rau với chén tương chứ gì đâu mà dữ vậy! Nếu không công lực tu hành sớm muộn cũng bứt thôi.

Thấy một vài sư trẻ hay lân la chuyện trò với các nữ Phật tử ở ghế đá sân chùa, dưới bóng cây hay trong phòng riêng, Hòa Thượng TTT chùa GL khi dạy chúng đã nói: Các ông có biết các ông là ai không? Các ông là nhân thiên sư phạm, là đại Phật tuyên dương, nhưng cũng là sắc trung ngạ quỷ, phải tự giữ mình. Sắc trung ngạ quỷ là giống quỷ đói, nhưng không phải đói cơm khát nước mà đói khát sắc dục. Chỉ có Hòa thượng là người nhìn thấu cái thân phận và duyên nghiệp của sinh linh trong khi còn mang xác phàm mới bảo chúng như vậy. Thế giới có 36 loại cô hồn, trong đó có những kẻ tại gia đã đành mà xuất gia cũng không hiếm. Chẳng thế mà vị Gia trì khi cúng chẩn tế đã cất cao lời triệu thỉnh: Xuất trấn thượng sĩ phi tích cao tăng, tinh tú ngũ giới tịnh nhân, phạm hạnh Tì – khưu-– ni chúng… như thị truy y Thích tử chi lưu, nhất loại cô hồn đẳng chủng. Thế mới biết xuất gia đi tu rất khó, không phải ai đi tu cũng thành Phật Thánh liền.

(Còn tiếp 1 kỳ)

Lý Kim Hoa | VÀI SUY NGHĨ NHÂN ĐỌC BÀI “Đời sống tình cảm của nhà chùa

(Visited 170 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Lý Kim Hoa, Tản mạn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *