Hạnh phúc tiến hóa luận

| 23/10/2014 | 0 Comments

hanh-phuc-tien-hoa-luanJOSEPH GOLDSTEIN

Người ta cho biết rằng sau khi đạt Đại giác ngộ, Đức Phật đã được khuyến thỉnh giảng pháp vì thấy mọi chúng sinh đều tìm cầu hạnh phúc nhưng do vô minh và các chúng sinh ấy cứ làm những việc đem lại cho họ những sự đau khổ. Điều ấy đã khơi gợi lòng từ bi vô lượng của Ngài để chỉ ra con đường đưa tới sự giải thoát.

Đức Phật đã nói về những loại hạnh phúc khác nhau kết hợp với nhiều giai đoạn khác đặc biệt trong việc khai mở con đường tỉnh thức. Khi chúng ta tiến sâu hơn vào tiến trình khai mở ấy, niềm hạnh phúc của từng giai đoạn mang chúng ta ngày càng đến gần hơn niềm hạnh phúc tối thượng, niềm hạnh phúc của trạng thái niết – bàn, của sự giải thoát.

Đâu là nguyên nhân và điều kiện nâng cao từng nấc hạnh phúc ấy? Niềm vui ấy xuất hiện như thế nào? Những sự kiện và hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta hoàn toàn không xảy đến một  cách ngẫu nhiên; đúng hơn, chúng là kết quả của những nguyên nhân và điều kiện nào đó. Khi chúng ta hiểu được những điều kiện thiết yếu cho một điều gì đó xảy ra, chúng ta bắt đầu nắm được số phận của mình trong tay.

Loại hạnh phúc đầu tiên là thứ hạnh phúc quen thuộc nhất với chúng ta – niềm hạnh phúc của khoái lạc do cảm giác mang lại. Đó là loài hạnh phúc mà chúng ta trải nghiệm nhờ việc có mặt trong một môi trường thú vị, nhờ có những người bạn tốt, nhờ thưởng thức những hình ảnh tươi đẹp, những âm thanh dìu dặt, những vị ngon ngọt, những mùi thơm, và có được những cảm giác dễ chịu nơi thân thể. Mặc dù những khoái cảm ấy không trường tồn và chỉ thoáng qua, trong những khoảnh khắc mà chúng ta đang trải nghiệm chúng, chúng vẫn đem lại cho ta những đê mê.

Theo Đức Phật, mỗi loại hạnh phúc khác nhau đều được tạo ra hay được quy định bởi một mức độ thanh tịnh khác nhau. Mức độ làm sinh khởi những hạnh phúc cảm giác là sự thanh tịnh của hạnh kiểm, đôi khi được coi là sự thanh tịnh của hành vi. Sự thanh tịnh của hạnh kiểm là đường lối căn bản cho việc thừa hưởng một mối quan hệ chân thực với chính mình, với người khác, và với thế giới này. Nó có hai khía cạnh, khía cạnh thứ nhất là việc nuôi dưỡng lòng cao thượng – sự hiểu hiện của mình không tham và sự không dính mắc. Chính lòng tham hay sự quyến luyến là điều buộc chặt chúng ta vào bánh xe luân hồi, cái vòng tuần hoàn của sự sống và cái chết. Với từng hành động bố thí, chúng ta làmyếu đi cái năng lực của sự bám víu. Đức Phật đã từng nói rằng nếu chúng ta biết được như Ngài từ biết về hoa trái của sự bố thí, hẳn là chúng ta sẽ không bỏ qua bất kỳ một bữa ăn nào mà không chia sẻ nó, thật là vô lượng cái sức mạnh của hạnh bố thí.

Đức Phật đã nói tới ba mức độ của lòng cao thượng. Ngài gọi mức độ thứ nhất là sự bố thí theo kiểu ăn mày – chúng ta cho đi những thứ tồi tàn nhất mà mình có, những thứ mà chúng ta không còn cần đến, những đồ bỏ đi. Ngay cả trong trường hợp ấy, chúng t vẫn còn do dự: “Ta có nên cho nó đi không? Hay là ta không nên cho? Biết đâu mai này có lúc ta còn cần đến?”. Mức độ kế tiếp là sự trao tặng một cách thân tình – chúng ta cho đi những gì chúng ta thường sử dụng cho chính mình, và chúng ta cho đi một cách thoải mái và tự nhiên, với nhiều niềm vui hơn trong tâm thức. Mức độ cao nhất của lòng cao thượng là sự ban phát theo kiểu vua chúa. Tâm thức ta thấy thanh thản trong việc cho đi những thứ gì tốt đẹp nhất mà ta có, trao tặng những thứ mà ta thấy có giá trị cao nhất. Đó chính là mức độ hoàn thiện của lòng cao thượng.

Lòng cao thượng có nhiều hình thức – chúng ta có thể cống hiến thời giờ, năng lực, của cải vật chất, và lòng yêu thương. Tất cả đều là những biểu hiện của sự chu đáo, lòng từ ái, tính tương liên, và đức hy sinh – cái năng lực của việc từ bỏ sự bám víu. Vẻ đẹp của lòng cao thượng nằm ở chỗ nó không chỉ mang lại cho chúng ta niềm hạnh phúc trong những khoảnh khắc – chúng ta cảm thấy hân hoan khi trao tặng – mà nó còn là nguyên nhân để hạnh phúc xuất hiện trong tương lai.

Khía cạnh khác của sự thanh tịnh về mặt hạnh kiểm là giới đức, mà  tiếng Pàli gọi là sila. Trong giáo pháp của Đức Phật, có năm điều phải giữ gìn mà hàng cư sĩ tuân theo: không giết hại, không trộm cắp, không buông thả trong sinh hoạt tình dục, không sử dụng lời nói xấu xa – nói dối hay nói lời thô bỉ – và không sử dụng các chất gây nghiện có thể làm mê mờ hay lừa dối tâm thức. Nguyên lý nền tảng của giới đức là sự không làm hại – không hại mình, không hại người và không làm tổn hại môi sinh.

Hệt như lòng cao thượng đòi hỏi sự hành trì, sự thành tâm giữ giới đức cũng vậy. Việc hành trì những giới đức ấy một cách có ý thức nuôi dưỡng sự tỉnh thức và kiềm hãm chúng ta khỏi việc hành xử theo những mô thức quen thuộc của tình trạng bị quy định của chúng ta. Các giới đức có tác dụng như một điểm quy chiếu, mang lại cho chúng ta một sự hiểu biết rõ rệt rằng hành vi của chúng ta là hiền thiện hay không hiền thiện. Chúng ta không phải là một tập hợp những điều răn, – “các vị không nên làm những điều này” và “các vị cần làm những điều kia” – mà đúng hơn là chúng ta là những kim chỉ nam để thăm dò các hành động của chúng ta tác động đến tâm thức của chúng ta như thế nào: Điều gì xảy ra khi chúng ta mâu thuẫn với cuộc đời này? Điều gì xảy ra khi chúng ta sống hòa hợp với mọi người và với chính mình? Trong nền giáo lý truyền thống của Đức Phật, giới hạnh là nền tảng của thiền định, và thiền định là cơ sở của tuệ giác. Khi tâm thức ở trong tình trạng vọng động, đó là lúc rất khó tập trung. Năng lực của đức hạnh là một sự kiên định và thanh thản cho tâm thức. Và khi chúng ta ở trong trạng thái hòa hợp với chính mìh, chúng ta mang lại những quà tặng tuyệt vời cho người khác – quà tặng của sự tin cậy. Chúng ta đang nói với cuộc đời của mình, với những  hành động của mình, “Các bạn không cần phải sợ tôi”. Chỉ cần tưởng tượng xem thế giới này sẽ được chuyển hóa đến như thế nào nếu mọi người đều tuân thủ chỉ một giới luật: không giết hại.

Niềm vui mà chúng ta trải nghiệm được khi chúng ta hành trì lòng cao thượng và giới luật đem lại loại hạnh phúc thứ hai, hạnh phúc của thiền định. Đức Phật gọi điều ấy là sự thanh tịnh tâm thức. Khi tâm thức được kiên định và hướng thẳng tới một mục đích, có một loại bình an nội tại và một sự tĩnh lặng sâu thẳm còn trọn vẻn hơn là niềm hạnh phúc có được bởi khoái lạc cảm giác. Chúng ta hưởng thụ những khoái lạc do cảm giác mang lại, nhưng đến một mức nào đó, chúng ta có thể nghe hạc hay ăn thức ăn ngon trong bao lâu? Ngược lại, niềm hạnh phúc đến với sự tĩnh lặng của tâm trí luôn luôn tươi mới. Nó luôn tiếp cho chúng ta nhiều sinh lực.

Có nhiều kỹ thuật để phát triển thiền định. Chúng ta có thể tập chú vào hơi thở, vào âm thanh, vào ánh sáng, vào một câu thần chú, vào một hình ảnh, hay vào việc bước đi. Chúng ta có thể thực hành lòng bi mẫn hay lòng từ ái. Mỗi người chúng ta đều có thể tìm thấy một cách mà đối với mình là có lợi nhất để tăng cường trạng thái hướng thẳng tới một mục đích, trạng thái bình tĩnh tự chủ. Chúng ta học được cách làm yên lặng mọi đối thoại nội tâm. Khi sự tập trung tư tưởng trở nên mạnh mẽ hơn, chúng ta thực sự bắt đầu việc sống trong một nơi chốn có sự bình yên nội tâm lớn lao hơn. Đó chính là suối nguồn của niềm hạnh phúc lớn, niềm vui lớn.

Niềm hạnh phúc của thiền định làm cho việc tiến đến bậc hạnh phúc kế tiếp là một điều hiện thực, hạnh phúc của việc bắt đầu có được cái nhìn thấu suốt. Khi tâm thức tịch tịnh, chúng ta có thể sử dụng cái tâm thức tịch tịnh ấy của chúng ta vào việc phục vụ cho sự tỉnh thức và đến với sự hiểu biết sâu sắc về việc ta là ai và cuộc đời này hướng đến điều gì. Tuệ giác phơi mở theo một đường lối rất trật tự. Khi chúng ta ngồi yên và chú tâm vào sự trải nghiệm của mình, mức độ đầu tiên mà chúng ta tiến đến là cái nhìn thấu suốt về phương diện tâm lý. Chúng ta nhìn thấy tất cả những khía cạnh khác biệt của mình – khía cạnh đáng yêu, khía cạnh tham lam, khía cạnh phê phán, khía cạnh giận dữ, khía cạnh thanh bình. Chúng ta thấy tất cả mọi bộ phận của chính mình đã được phơi mở – tính ghen tương, nỗi sợ hãi, lòng căm thù, sự đê tiện.

Thường thì khi chúng ta phơi bày lần đầu tiên cho sự trải nghiệm về việc mình là ai, chúng ta chẳng ưa gì điều đó. Khuynh hướng là trở nên tự phê phán. Thông qua năng lực của thiền định và sự tỉnh thức, chúng ta học được cách tin cậy thật tự nhiên vào nhận thức đơn giản về điều đang xảy ra. Chúng ta trở nên bớt phê phán. Chúng ta bắt đầu đạt tới cái nhìn thấu suốt vào bản thể của tính cách phức tạp trong tính cách của mình. Chúng ta thấy rõ những mô hình tư tưởng và tình cảm của chúng ta, và những cách mà chúng ta liên quan đến người khác. Nhưng đó chính là một điểm tinh tế trong sự hành trì. Những cái nhìn thấu suốt về mặt tâm lý có thể rất quyến rũ – ai còn có thể đáng chú ý hơn chính mình? – cho nên, ở mức độ này của sự truy vấn, hành giả rất dễ lạc hướng. Chúng ta cần phải rất thận trọng và giữ để trở về với mục đích chính của sự thiền định.

Qua việc hành trì về sự chú tâm trong khoảnh khắc một cách rất cẩn thận, chúng ta thấy và kết nối một cách hêt sức trực tiếp với bản chất của tư tưởng và tình cảm, đừng để đừng để bị lạc trong tình tiết. Bản chất của sự giận dữ là gì? Phẩm chất của hạnh phúc là gì? Phẩm chất của lòng từ là gì? Đà đi tới của sự tỉnh thức bắt đầu dựng nên.

Tại điểm này, có một bước nhảy thực sự trong việc hành trì của chúng ta. Đức Phật gọi mức độ này là thanh tịnh về sự hiểu biết đích thực. Chúng ta buông bỏ sự mê đắm của mình vào sự hài lòng về tâm thức mình tiến đến mức độ tiến trình, đến với dòng hiện tượng. Chúng ta thấy một cách rõ rệt rằng điều đang xảy ra trong từng khoảnh khắc chỉ là cái biết và đối tượng, xuất hiện rồi vụt qua.

Đức Phật đã lần đã ban một pháp thoại ngắn gọi là “Tất Cả” trong đó Ngài mô tả toàn thể những kinh nghiệm của chúng ta trong sáu câu:

Nhãn, nhãn trần, nhãn thức (Mắt, đối tượng thấy được và cái biết về chúng).

Nhĩ, nhĩ trần, nhì thức (Tai, âm thanh và cái biết về chúng).

Thiệt, thiệt trần, thiệt thức (Lưỡi, vị và cái biết về chúng).

Tỷ, tỷ trần, tỷ thức (Tâm thức, đối tượng của tâm thức và cái biết về chúng).

Đó là cái nhìn thoáng qua cụ thể đầu tiên của chúng ta về bản chất của chính tâm thức. Chúng ta thấy rằng tất cả những gì chúng ta đang hiện hữu chỉ là một chuổi liên tục những khoảnh khắc của tâm thức – việc nhìn thấy, việc nghe thấy, việc ngửi thấy, việc cảm nhận thấy. Ở mức độ này, chúng ta có một hiểu biết  trực tiếp về điều mà Đức Phật gọi là Tam Pháp Ấn (ba dấu ấn của hiện hữu). Chúng ta có một kinh nghiệm  trực giác về sự thật đối với tính vô thường: tất cả mọi sự vật đều biến đổi liên tục không ngừng nghỉ. Và từ điều hiểu biết thiết thực về tính khoảnh khắc ấy của hiện tượng, chúng ta bắt đầu hiểu một cách cụ thể hơn điều mà Đức Phật có ý chỉ đến khi nói đên khổ – bản chất không thỏa mãn của mọi sự mọi vật. Khi chúng ta thấy rằng ngay cả những sự vật khả ái cũng đang biến đổi – và biến đổi một cách mau chóng – hiển nhiên, chúng trở nên chẳng có thể nào làm cho chúng ta thỏa mãn. Không phải vì bản tính cố hữu của chúng là xấu ác nhưng vì chúng không thể kéo dài. Cái nhìn thấu suốt ấy dẫn tới một sự hiểu biết về pháp ấn thứ ba, điều khó nhất để có thể nhận ra – tính vô ngã. Chẳng có một ai đằng sau cái tiến trình đó để mọi sự xảy ra cho y; điều mà chúng ta gọi là “tự ngã” chỉ là một tiến trình biến đổi.

Sự thanh tịnh về tri kiến là cửa ngõ để tiến đến những mức độ cao hơn về hạnh phúc. Động lực của sự tỉnh thức trở nên mạnh đến nỗi nhận thức về những hiện tượng sinh khởi rồi tuyệt diệt trở nên rõ ràng trong trẻo. Thiền định và tỉnh thức không đòi hỏi bất kỳ sự cố gắng nào. Tâm thức trở nên sáng láng. Điểm này trong quá trình hành trì được gọi là hạnh phúc của minh sát tuệ. Đó là một thời điểm hết sức hạnh phúc trong quá trịnh thiền định của chúng ta. Niềm vui của hạnh phúc do có minh sát tuệ  vượt xa niềm hạnh phúc của thiền định hay hạnh phúc của khoái lạc do cảm giác mang lại, bởi vì chúng ta được trải nghiệm cái nhìn thấu suốt trong trẻo và chính xác như thế vào đến tận bản chất của sự vạn vật. Đây chính là trạng thái đầu tiên của chúng ta của việc trở về nhà. Chúng ta cảm thấy một sự phấn chấn khủng khiếp và một lòng biết ơn vô hạn: sau tất cả những khó nhọc mà chúng ta đã thực hiện, cuối cùng chúng ta đang gặt  những phần thưởng lớn lao.

Nhưng ở đây vẫn còn có những vấn đề. Trạng thái này thường được gọi là “niết – bàn giả lập”. Tất cả những gì mà vì chúng ta, chúng ta đã hành trì rất gian khổ – sự trong trẻo, sự tỏa sáng, sự phấn khích, sự thanh thản, sự vui thích – đều phản chiếu ngược lại với chúng ta theo điều mà Đức Phật gọi là “những sự mục nát của cái nhìn thấu suốt”. Tự thân yếu tố phẩm chất không phải là vấn đề; quả thật, chúng là yếu tố của sự giác ngộ. Nhưng vì cái nhìn thấu suốt của chúng ta chưa thuần thục, chúng ta trở nên bị dính mắc vào đó và niềm hạnh phúc mà cái nhìn thấu suốt đó mang lại. Cần phải có một nỗ lực được hồi phục để trở lại với việc ghi nhận một cách đơn giản những trạng thái phi thường ấy.

Tại điểm này chúng ta vấp phải một giai đoạn gập ghềnh. Thay vì sự sinh khởi và sự biến mất của các hiện tượng, chúng ta bắt đầu trải nghiệm sự tan rã của mọi sự mọi vật – tâm thức chúng ta, thân thể chúng ta, và cả thế giới này. Mọi sự vật đều tan biến. Chẳng có nơi nào bền vững. Chúng ta đang nắm bắt cái đang liên tục tan biến. Khi giai đoạn này ph7i mở, thường là nó gợi nên sự sợ hãi khủng khiếp.

Trong niềm hạnh phúc do minh sát tuệ mang lại, chúng ta có thể ngồi yên hàng giờ. Nhưng ở giai đoạn tan rã, chúng ta chỉ ngồi yên chừng mười, mười lăm phút là bắt đầu trở nên chán ghét. Thời kỳ này được gọi một cách thông tục là giai đoạn “cuối chiều” vì tất cả những gì mà các hành giả du – già muốn làm chỉ là cuốn chiếu lại và “tếch”. Đây là một thời điểm khó khăn với rất nhiều sự đau khổ hiện hữu. Đó không chỉ là sự đau đớn về thể xác ở đầu gối hay những vấn đề tâm lý mà sự đau khổ cố hữu trong sự tồn tại. Chúng ta nghĩ rằng sự hành trì của chúng ta thế là hoàn toàn thất bại, nhưng thực sự đó chính là giai đoạn của tuệ giác sâu sắc. Xuất phát từ cơ hội của chúng ta đến với khổ đau. Xuất hiện điều được gọi là “sự thúc đẩy cho việc được giải thoát”, một động cơ mạnh mẽ hướng đến sự tự do.

Từ sự thúc đẩy cho tự do ấy nổi lên một giai đoạn rất hạnh phúc khác của thiền định, niềm hạnh phúc của sự thanh thản. Đây là niềm hạnh phúc sâu xa hơn, tinh tế hơn và nhuần thấm hơn sự phấn khích của giai đoạn trước đó khi thấy được mọi sự mọi vật nhanh chóng sinh khởi rồi nhanh chóng đoạn diệt. Có một sự nhu hòa và nhẹ nhàng trong toàn thân. Tâm thức hoàn toàn tĩnh lặng – ở đó không có cả dù là một chút mong muốn đạt đến hay mong muốn rời xa. Tâm thức hoàn toàn không thiên lệch. Dễ chịu hay khó chịu, bất kỳ điều gì sinh khởi đều tốt. Mọi yếu tố của sự giác ngộ đang ở giai đoạn thuần thục cuối cùng.

Chính là rời khỏi cái địa vị “xả” này mà tâm thức khai mở một cách tự nhiên và đầy trực giác để đến với trạng thái không bị quy định, trạng thái vô sinh, trạng thái không có sự biến hiện – nói rõ hơn, trạng thái niết – bàn. Niết – bàn là niềm hạnh phúc cao nhất, vượt ngoài luôn cả niềm hạnh phúc của cái nhìn thấu suốt lớn lao hay của sự hiểu biết chân thật, bởi vì niết – bàn vượt ra khỏi chính tâm thức. Nó đang biến đổi toàn diện. Sự trải nghiệm trạng thái niết – bàn có cái năng lực để nhổ bật rễ khỏi dòng ý thức mọi yếu tố xấu ác của tâm thức vẫn níu chặt lấy chúng ta trong dòng luân hồi. Khoảnh khắc đầu tiên của việc khơi mở đến thực tại tối thượng làm bật gốc sự bám víu vào tự ngã, sự bám víu vào cái cảm nhận về “tôi”. Và kể từ khoảnh khắc đó trở đi, có thể nói là một sinh thể đang hướng đến việc thanh lọc mọi cấu uế còn sót lại, chẳng hạn tham lam hay giận dữ, trên đường tiến đến sự giác ngộ hoàn toàn.

Điều mà Đức Phật truyền dạy trên rất nhiều mức độ như thế là con đường dẫn tới hạnh phúc chân thực. Nếu ta muốn có niềm hạnh phúc dựa trên sự vui thích của cảm giác, thì có việc hành trì về nguyên nhân và điều kiện, nói khác đi, việc thanh tịnh hóa hành vi. Nếu ta muốn một niềm hạnh phúc của sự tĩnh lặng, của bình yên, ta cần phát triển thiền định – sự nhất tâm của tâm thức. Nếu ta muốn có một niềm  hạnh phúc của sự thấy biết chân thật, ta cần phát triển việc tịnh hóa tri kiến, thanh lọc cái hiểu biết thông qua việc tăng cường sự tỉnh thức. Nếu chúng ta muốn trải nghiệm niềm hạnh phúc thuộc nhiều tầng bậc của sự thấy biết chân thật, cả con đường tiến đến sự xả bỏ, chúng ta cần tiếp tục  xây dựng động lực của sự tỉnh thức và những yếu tố khác của giác ngộ. Và nếu chúng ta muốn nếm trải niềm hạnh phúc tối thượng, hạnh phúc của trạng thái niết – bàn, chúng ta chỉ cần đi theo con đường đã vạch đến tận đích cùng. Và khi chúng ta hướng đến niềm hạnh phúc tối thượng, chúng ta phát hiện tất cả những giai đoạn hạnh phúc khác chính là một phần phát triển của cuộc đời mình.■

Nguyễn Hiền Phác dịch | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 65

(Visited 150 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Joseph Goldstein, Tản mạn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *