Hồn lau

| 02/02/2016 | 0 Comments

LÊ TỪ HIỂN ++

hon-lau

  1. Hồn lau

Chuyến xe Bắc Nam lầm lũi băng đèo trong cái rét căm căm của tháng dần vào Chạp. Chiếc đồng hồ gắn trên xe chỉ đã một giờ khuya. Trong xe mọi người đã ngủ say. Tôi cũng đã chợp mắt được một lúc, nhưng cái chòng chành của xe lúc leo đèo đã làm tôi chợt tỉnh. Bên ngoài đêm núi rừng thăm thẳm. Hoành sơn nhất đái là chốn này đây. Trước đây và trước đây nữa, ai người qua thấy chạnh lòng vì… Đêm trôi bỏ những xác tín của ngày. Chập chờn sắc đêm chạm trắng không chân trời. Đang miên man nghĩ, bỗng giật mình vì một bóng trắng huyền hoặc mơ hồ lướt qua xe. Trong ánh đèn pha, tôi nhận ra sắc trắng mong manh phất phơ trong gió. Chợt thảng thốt: hồn lau

Đúng là hồn lau. Gọi đúng hồn lau thì có lẽ Quang Dũng là người đầu tiên. Cũng như thế, những câu thơ tài hoa nhất trong một bài thơ tài hoa gọi hồn cả một vùng biên giới: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy – Có thấy hồn lau nẻo bến bờ – Có nhớ dáng người trên độc mộc – Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Hồn lau ấy, gọi về cả hồn phương Đông xưa.

  1. Trôi trên dòng thời gian

Trong thơ cổ phương Đông, hồn lau đi về không đếm hết. Cảm thức Nhật Bản coi susuki là một kigo (quý ngữ), một tín hiệu mùa. Trong thơ cổ Việt Nam và Trung Hoa, thi liệu dệt nên bức tranh thu đẹp buồn ngoài lá đỏ, gió vàng, sương mờ, trăng thu, ắt không thể thiếu lau. Với sắc thu trắng, dáng thu gầy, tiếng thu xao xác, lau thực sự đã gọi được cả hồn thu. Thu đậu lên tâm hóa Sầu, lòng khách não.

Vì vậy mà tám bài Thu hứng của Đổ Phủ có bông lau dưới ánh trăng bạc: Thỉnh khang thạch thượng đằng la nguyệt – Dĩ ánh châu tiền lô địch hoa. Làm nền cho bức tranh tiễn đưa trên bến Tầm Dương thêm man mác không thể thiếu địch hoa lúc quạnh hơi thu lau lách đìu hiu (Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị).. Người ta còn nhớ những câu thơ kiệt tác của Tiền Khởi trong bài Giang hành: Nhiệm quân lô vĩ ngạn – Chung dạ động thu thanh. Mặc cho lau sậy bên bờ – Suốt đêm rộn tiếng tha hồ tiếng thu… Những câu thơ tuyệt diệu nhất của Truyện Kiều khắc họa tâm trạng có lau góp mặt: Vi lô san sát hơi may – Một trời thu để riêng ai một người…Theo phận Kiều, sắc trắng trở mình trong con tạo xoay vần giữa tài hoa và mệnh bạc như ngọn lau phất phơ trong gió Thác là thể phách còn là tinh anh.

Địch, vi, lô… hay cũng là lau, lách, sậy, cỏ bông bạc… là những loài cây thuộc họ Hòa thảo (Poaceae). Hoa nở miên man từ chớm thu đến cuối đông. Cây sinh sôi bất tận nơi những vùng đất hoang vu, đặc biệt là vùng sông nước. Nền văn hóa nông nghiệp lúa nước như Trung Hoa và Việt Nam vốn gắn với những dòng sông lau sậy bạt ngàn. Người đọc hay gặp trong thơ xưa môtip quen thuộc dòng sông-khóm lau-con thuyền là vậy. Như bài Phiếm chu của Huyền Quang: Tiểu đĩnh thừa phong phiếm diểu mang – Sơn thanh thủy lục hựu thu quang – Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại – Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương. Hồn thu tiêu sơ ấy còn nối sang cả thời Thơ mới đầu thế kỷ XX, thậm chí kéo dài sang thiên niên kỷ mới. Không gian nghệ thuật được nội cảm hóa, mang đậm dấu ấn chủ quan của tác giả với những nỗi niềm không rõ thì vẫn không hề xa lạ trong truyền thống thẩm mỹ Nghe chừng gió ý qua sông – E bên lau lách thuyền không vắng bờ (Xuân Diêu, Đôi bờ lau lách đìu hiu tím – Gom buồn lên ngọn gió heo may (Ngô Văn Phú)…

Hồn lau buồn. Nguyễn Bính và Đỗ Hữu gọi nỗi buồn ấy bằng một tên chung: sầu lau lách. Chênh chênh bóng ngả sầu lau lách (Nguyễn Bính). Có một Việt Bắc hắt hiu lau xámđậm đà lòng son của Tố Hữu , lại cũng có một Chiều Việt Bắc của Đổ Hữu hun hút buồn xưa: Buồn xưa chiều đọng sầu lau lách, với khói thuốc lên mờ xanh bóng ai – Phương xa chiều xuống ngút sông dài – Đường kia có phải sầu xưa đọng? – Trở bước, hoa lau trắng ngập đồi..

Buồn, có lẽ vì dáng lay lắt của lau, cứ ơ hờ theo gió mà lay. Lay từ nghìn xưa: Ai về giồng Dứa qua truông – Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em (Ca dao). Dòng nước ơ hờ trôi, lau soi bóng xuống mặt sông như thấy cả cuộc đời mình. Đỗ bờ sông vắng con thuyền bé – Cạnh khóm lau già gió lắt lay (Thế Lữ) là nỗi niềm người kỹ nữ Bên sông đưa khách. Đây thôn Vĩ Dạ buồn cũng từ dáng lay lắt ấy, mong manh niềm dự cảm, mong manh kiếp người: Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay (Hàn Mặc Tử)… Kiếp lau ngắn ngủi chóng tàn, nở trong gió rồi thả hồn theo gió, nên sắc trắng bông lau gợi nhớ sự hữu hạn của kiếp người. Người nghệ sĩ nọ chiều hôm thức dậy, ngồi ôm tóc dài, chợt thấy tóc mình lau trắng: Chập chờn lau trắng trong tay...

Buồn như lau và hiền như lau. Như người con gái. Vì vậy mà đã có dáng liễu trong thơ cổ, lại có dáng lau trong thơ hiện đại. Một thời Ngày xưa Hoàng thị cho ai mải miết đi tìm Anh tìm theo Ngọ – Dáng lau lách buồn (Phạm Thiên Thư). Người con gái nào thoáng hiện như một hư ảnh Thân mong manh như lau sậy hiền trong Níu tay nghìn trùng của Trịnh Công Sơn?

Lau còn mang bản chất thiền trong sắc trắng hư không. Trong hiện-hữu-khoảnh-khắc. Mang Hượng vị của Đất từ bông sen trắng trong Trái tim của BụtThả một bè lau (Nhất Hạnh). Người nghệ sĩ lang thang qua đời thấy mình như con chim nhỏ hót chơi đầu ngọn lau. Nguyên Sa nhìn ra cái có trong cái không, huyền diệu đôi bờ hư-thực: Anh nhớ sông có nguyệt lạ lùng – có trời lau lách chỗ hư không – Em tìm âu yếm trong đôi mắt – Thấy cả vô cùng dưới đáy sông (Em gầy như liễu trong thơ cổ).

Có lẽ, lau sống hết kiếp của mình trong chiều dài của một ngọn gió.

  1. Hoa lau trắng suốt một thời quá khứ

Trên mảnh đất Việt Nam lắm nắng, nhiều mưa, bạt ngàn gió, từ nghìn xưa đất và người đã mang hồn lau lách. Lịch sử mang gươm đi mở nước là lịch sử vẹt bờ lau lách mà đi. Đến bây giờ tên đất còn âm vang những Vĩ Dạ- đồng nội lau lách, Nha Trang-theo tiếng Chăm là dòng sông lau láchLưỡng ngạn vi lô trường đáo hải-hai bờ lau trắng tới miền biển xa. Hà Tiên thập vịnh của Nguyễn Cư Trinh ca ngợi mười cảnh đẹp Hà Tiên còn ghi lại thuở người sống giữa ngàn lau: Ngư gia doanh đội nguyệt tằng tằng – Lậu xuất tùng lô kỷ điểm đăng (Lư Khê ngư bạc). Cùng với bước chân tiến về Nam, văn chương cũng dần mang hồn lau lách mộc mạc, quê mùa mà trỏ thành “xuyên trạch bồ vi chi văn” (văn chương sông chằm lau lách) khác hẳn loại “văn chương lang miếu đài các”như tuyên ngôn của Nguyễn Thông. Nhà thờ Xuân Quỳnh đã đi đến tận cùng xứ sở, nhận ra hoa lau trắng suốt một thời quá khứ. Nhành lau nào đã theo cậu bé chăn trâu làm cờ, sau này cậu bé năm nào trở thành Vạn Thắng Vương? Nhành lau nào theo chiến dịch biên giới để cái tên Đèo Bông Lau còn vang vọng? Dịu dàng mà bất khuất, mong manh mà bền bĩ, gọi hồn lau mà như thể gọi người: Ai đi biên giới cho lòng ta theo với – Thăm ngàn lau chỉ trắng có một mình – Trắng bạt ngàn đến tận cùng bờ cõi – Suốt một đời cùng với gió giao tranh (Chế Lan Viên).

Lý tưởng Rilke một đời theo đuổi là hòa nhập vào bản thân sự vật, coi “sự chân thực của vật cùng tồn tại như tình cảm”. Ấy là sự nhập thần ở phương Đông. Hồn lau mong manh phơ phất cuối thu kéo dài theo những con nước trắng dòng…Dòng sông thơ trắng lách lau. Ấy nơi…thi thoảng nên ta hậu tình. Xác lau mang hồn người không có tuổi. Hồn lau trong gió buồn vắng lặng tờ như từ bờ tiền sử thổi về Trường vắng mưa mờ buông dốc xa – Dây leo nửa sắc mái rêu nhòa – Người xa phơ phất hồn lau gió – Thổi trắng chân đồi như khói pha (Hoa lau trường cũ – Hoàng Hữu).

  1. Nhởn nhơ phô sắc cùng gió thu

Một dải đèo Ngang sừng sững đã lùi lại phía sau. Chuyến xe lầm lũi tiếp tục trong đêm cuộc hành trình trên ngàn cây số. Từ đây vào Nam, còn bao nhiêu đèo nữa? Hải Vân, đèo Cả… Xa xưa vọng về khúc ngâm của chinh phu Hình khe thế núi gần xa – Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao. Chắc cũng hoang sơ trắng bóng lau. Bất chợt ước gì xe ngừng lại để bẻ một nhánh lau còn ngậm mang về. Còn nhớ mùa lau năm nào, cậu học trò vượt mấy chục cây số đèo dốc bẻ một bình lau làm quà tết cho thầy, năm ấy mùa xuân thêm hương sắc lạ. Lau biết gì đâu, vẫn cứ trắng hồn nhiên. Ngả nghiêng theo gió mà bền hơn gió. Dải đèo Ngang này, đã từng bao cuộc thịnh suy. Thành lũy mười triều trơ đá núi – Tinh kỳ muôn đội cỏ cây thôi. Nguyễn Đề – người anh em của Nguyễn Du- từng đi qua đèo này mà cảm khái vì hoa lau biết đâu nỗi sầu của lòng người, vẫn nhởn nhơ phô sắc cùng ngọn gió thu: Địch hoa bất giải sầu nhân tứ – Không hướng kim phong đấu diệm nhan (Hoành Sơn). Ngày ấy, hoa lau có trắng như bây giờ?

Lau trắng – ẩn chứa bảy sắc cầu vồng. “Hãy cho ta cảm thụ màu sắc theo cách riêng mình”(Goethe). Lau là nắng, là trăng, là sương… không thuộc về âm, không thuộc về dương, ấy là thần hồn. Ngắm lau mà ngộ ra nghĩa hàm tàng- đời người như lau. Hãy lặng im mà nghe lau hát. Hãy nheo mắt cười tia nắng-lau Đôi bờ là nắng nhuộm vàng-Ở trong nắng có một ngàn cái chuông (Nguyễn Mỹ). Trong cái nhìn nhất thể tương giao, lau trình hiện cái vô hạn từ cái hữu hạn.■

hon-lau

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 97

(Visited 363 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , , , , , ,

Category: Lê Từ Hiền, Tản mạn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *