Ở nhà lá mái

| 30/10/2015 | 0 Comments

Tạp bút | Huỳnh Kim Bửu ++

 o-nha-la-mai

Nếu đã quen với những từ “mái tranh”, “mái lá”chỉ những chỗ trú ngụ đơn sơ đôi khi không đủ che mua che nắng để rồi khi nghe đến từ “nhà mái lá”lại hình dung ra một chốn nương thân tạm bợ trống trước trống sau thì các bạn đã lầm. Nhà lá mái ở Bình Định quê tôi có thể được coi như “nhà rường”ở nhiều địa phương khác trên đất nước ta.

Nhà lá mái là nhà như thế nào?

Nhà lá mái là một công trình xây dựng bằng gỗ vừa bề thế vừa có tính nghệ thuật kiến trúc cao. Gọi là nhà lá mái vì loại nhà này có một lớp mái đắp đất ngay phía dưới lớp mái che mưa che nắng lợp tranh hay lợp ngói. Lớp mái đắp đất này có nhiều ưu điểm là vừa phòng chống hỏa hoạn, vừa phòng chống trộm-không thể chỉ dỡ mái mà đã chui được vào trong nhà,- lại vừa điều hòa nhiệt độ cho ngôi nhà khi nó làm cho ngôi nhà mát về mùa hè và ấm áp vào mùa đông. Bộ khung của một ngôi nhà lá mái có đủ cột, kèo, xiên, trinh, đầm quyết, chày cối, cửa bàn khoa….tất cả đều được làm bằng các loại danh mộc mà các phần nhô ra đều có chạm trổ rất kỳ công. Ngoài ra, ngôi nhà còn có nội thất cổ kính, sang trọng phù hợp với đời sống tâm linh, với nề nếp gia phong lễ giáo và xu hướng hưởng thụ của người xưa. Ở nông thôn xưa trong vùng Bình Định, ở nhà lá mái thể hiện gia chủ thuộc bậc phong lưu giàu có. Người nghèo thì ở lều tranh hay mái lá, còn nhà của hạng thường thường bậc trung thì lại là nhà cặp, cũng là nhà tranh tre nhưng có một lớp rui mè đặt trên lớp đòn tay và mái tranh được lợp dày dặn hơn, có nhà cặp còn dựng cột gỗ và thêm trần bằng đất đắp.

Nhà chữ Đinh, chữ Công

Hình như các cụ ngày xưa cất nhà lá mái là để có một nơi thờ phượng và để tiếp khách quý hơn là để ở. Cái nhà ấy, các cụ gọi là nhà trên. Nhà trên được nối với nhà dưới bằng một nhà cầu nối có cửa thông lên, là một khung cửa được bào chỉ lắp ván, có ngạch cao tới gối mà ngưỡng lại thấp bên dưới đầu người. Nhà dưới là một chuỗi những buồng ngủ, nhà lẫm (làm kho chứa thóc), nhà bếp, phòng ăn…tất cả xoay quanh một sân cát. Sân cát là nơi nhìn lên thấy cả một khoảng trời xanh, ở đó gia chủ đặt bể non bộ, vò nước, chậu thau rửa mặt gá trên một giá tẩy và còn là chỗ có một vùng sơn thủy gần gũi dù là nhân tạo dành cho phận gái khuê môn bất xuất được tiếp xúc với đất trời và với con người, những người ngoài gia tộc có quan hệ với gia đình trong phạm vi trách nhiệm của họ. Nhà cầu nối nhìn ra sân cát, được đóng mở bằng những khung cửa gỗ đan tre, là nơi gia chủ thường cho trải chiếu dưới đất dọn mâm cỗ những ngày cúng giỗ. Nhà dưới hợp với nhà trên thành kiểu chữ Đinh; người ta tin rằng cất nhà theo kiểu chữ Đinh thì chủ nhà sẽ sinh nhiều con trai để nối dõi tông đường. Ở quê tôi, ít thấy có nhà kiểu chữ Công, vốn thường là những nhà của các bậc đại phú gia, các bậc quyền quý. Dân gian cũng kỵ không làm nhà theo kiểu chữ Khẩu, vì chữ Khẩu là miệng khiến họ tin rằng miệng ăn núi lở, khiến nhà tàn mạt. Nhà kiểu chữ Khẩu chỉ thấy phổ biến ở các đình chùa với nhà chánh điện phía trước, nhà tổ phía sau, nhà khách mé Tây còn nhà đại chúng mé Đông lại có một sân cát rộng nằm chính giữa. Nhà chánh điện chùa thường là nhà lá mái có nóc tranh cao vút. Cái bánh ít lá gai trong câu ca dao, “Muốn ăn bánh ít lá gai, Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi”gói lá bẻ đỉnh cao từ đôi bàn tay khéo léo của các bà các cô còn được gọi là bánh ít gói nóc chùa. Các nhà cầu nối, nhà buồng, nhà phụ đều có trần làm bằng ván hoặc sìa tre, cũng có khi làm trần bích tức là trần đất nhưng được tô vôi, mới nhìn tưởng như trần đúc bê-tông thời bây giờ.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Nhà lá mái tọa lạc trên một khuôn viên rộng rãi; có sân có vườn. Từ sân bước lên hè có bậc thềm tam cấp bằng gạch hay đá ong. Thường thì sân trước có hồ nước xây nổi, bốn mặt đắp nổi tranh tứ bình (ngư, tiều, canh, độc hoặc mai, lan, cúc,trúc) gần đó trồng cau liên phòng; vườn hai bên nhà trồng cây ăn trái (lê, lựu, bưởi, chanh…); vườn sau nhà trồng chuối; lại có ruộng chân cao tháng Giêng gieo mạ, tháng Tám trồng lúa nếp hương. Xung quanh nhà được hàng rào bao bọc. Hàng rào chuối hay hàng rào chè trồng mặt trước nhà được cắt tỉa thẳng tắp; ngõ nhà trổ ra đường làng hoặc lối xóm. Ngõ nhà cũng là một nhà ngõ lợp tranh, kèo cột bằng gỗ, có cánh ván ngõ chắc chắn. Nhiều nhà còn có ruộng tư ngay trước ngõ, thường gọi là đám ngõ, để trồng lúa hoặc làm ao sen. Ba mặt còn lại thường là hàng rào tre xanh. Vườn sau có ngõ sau trổ giữa hai lùm tre,nhìn ra gò, ra đồng. Nhiều nhà chỉ mở ngõ trước những khi có khách còn thì thường đi ngõ sau. Con dâu theo về nhà chồng xa mẹ lâu ngày, nhớ mẹ ra đứng ngõ sau than thở với lòng, “Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Giếng nhà là giếng khơi, thành đá ong tự nhiên, nước ngọt, xách nước bằng sợi dây gàu hay bằng cần vọt. Bên giếng có bình phong cây chè xanh cắt tỉa kỹ, có bóng cây cau và dây trầu không quấn quanh trùm mát, làm nơi đàn bà con gái thường ra ngồi gội đầu bằng nước hương nhu, làm cớ cho anh trai làng trách cô thôn nữ. “Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài, Ai dè giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây”. Vườn nhà nào cũng dành một khoảnh làm sân chăn nuôi gia cầm, gia súc. Nhà có vườn thì có người làm vườn, có khách dạo vườn. Có lẽ cái vườn ở thôn Vỹ Dạ trong thơ Hàn Mặc Tử không khác mấy so với vườn quê tôi, “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc, lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Ít có nhà nào không có đụn rơm, đống rạ chất cao trong sân, trong vườn. Người quê tôi hồi xưa nhìn vào đống rạ, đụn rơm to hay nhỏ, cao hay thấp để xếp hạng chủ nhà giàu hay nghèo.

Một cõi tâm linh, một không gian văn hóa giáo dục đầy chữ nghĩa

Ba gian giữa của nhà trên lấy bàn thờ làm trung tâm, thường đặt ba bộ án giò nai, trên đó bày đủ thứ đồ thờ quý giá như lư đồng mắt cua, đèn đồng lá sen, độc bình sứ men xanh…Trước bàn thờ kê phản ngựa hoặc đặt trường kỷ. Chái Tây còn kê thêm phản ngựa bên cạnh cửa sổ nhìn ra vườn cây ăn quả. Chái Đông kê giường hộp, đặt tủ chè. Bàn ghế, phản ngựa ở nhà trên thường để dành cho việc tiếp khách, người nhà có chỗ ở nhà dưới. Phía trên án thờ, có khám thờ và trang thờ; trên nữa có thủ quyển là hình vẽ ngang một cuốn sách mở ra; đầu án có nghi thêu, chân án có khậu thêu (quần dài của đàn ông còn được gọi là cái khậu), hàng bàn khoa treo trướng thêu mặt hướng vào trong nhà;mỗi cây cột nhà còn được móc một câu liễn cẩn, đầu tường chái tây có những tấm bích họa….Thủ quyển, hoành, trướng,liễn đối..đầy câu chữ, những câu chữ cao sang rút ra từ trong sách vở thánh hiền mà gần gũi với gia phong và sự thành đạt của chủ nhân.

Nhà ở thời hiện đại, nhiều nhà không có nhà trên. Chủ nhà chuộng sự thờ phượng đơn giản, chỉ cần cắm vài cái trang vào tường lửng lơ là có chỗ thờ gia tiên, thờ Phật, thờ thánh…tùy theo tín ngưỡng của chủ nhà. Họ muốn dành diện tích còn lại của ngôi nhà cho phòng ngủ, phòng ăn, phòng nghe nhìn, phòng sinh hoạt gia đình…Nhà trên của người xưa là cả một thế giới đầy chữ nghĩa dạy những bài học về đạo làm người và nuôi dưỡng những ước mơ cao đẹp cho tâm hồn. Chữ nghĩa trên hoàng phi thì thật nhiều. Tấm thì Đức Lưu Phương (Đức giữ mãi tiếng thơm), hay Đức Lưu Quang (Đức chiếu sáng mãi) tấm thì Tích Thiện Đường (Nhà chứa điều lành) hay Quang Thế Trạch (Ân huệ sáng đời đời). Liễn đối cũng chẳng kém phần phong phú. Nào là “Ý mỹ khả phù, đống vũ sâm nghiêm diên thế nghiệp; Thành năng tư đại, văn chương cẩm tú kế thư hương (Ý hay đáng khuông phò, rường mái nghiêm trang kéo dài sự nghiệp nhiều đời; Lòng thành có thể truyền cho đời sau, văn chương hoa gấm nối tiếp nền nếp quê hương)”rồi lại, “Trường phát kỳ tường, quế phúc lan linh quang thế trạch; Cửu triêm tuấn đức, giao đắng phụng khởi chấn gia thanh (Mãi mãi nảy điềm lành, danh thơm hiển đạt làm sáng ân huệ cho đời; Luôn luôn thấm đức dày, rồng bay phượng múa rạng rỡ tiếng tăm nhà)”. Trên liễn thơ thường thì “nhất thi, nhất họa”. Còn trên nghi, trường có đủ các chữ như Phước Lộc Thọ hay Hạc Toán Quy Linh (sống thọ như hạc như rùa) bên cạnh những hình lưỡng long chầu nguyệt hay hình thêu tùng bách; Những bức bích họa thường thể hiện những cảnh non nước hữa tình và sự tích người xưa như “Chu Mãi Thần vai gánh củi miệng đọc sáchhay “Lã Vọng câu cá chờ thời”. Ở quê tôi, người ta hay nhắc lại chuyện một nghệ nhân kỳ lạ, có lần đến làng An Định rồi ở lại nhà ông Cả Nghi vài ngày, kế đó đến nhà ông Xã Huệ lưu trú vài ngày… Tại mỗi nơi lưu lại, ông vẽ cho mỗi nhà dăm bức họa trên tường bằng son tươi, mực xạ với nét bút của một tay thư pháp lão luyện, nét cọ của một người họa sĩ tài hoa… rồi quảy gót ra đi trong lòng lưu luyến và tấm thịnh tình tiếp đãi với thù lao trọng hậu “quý người có chữ”của chủ nhà.

Ở nhà lá mái có cái thú gì?

Ông Trần suốt mười ngày nay không chịu nổi cái nóng bức của mùa hè. Ngôi đâu, đi đâu ông cũng than thở về thời tiết. Ông Trần và ông Nguyễn là hai ông bạn lục tuần gặp nhau. Ông Trần nói, “Khoác cái áo lên người, cái áo nóng; ngả lưng lên đi-văng, đi-văng nóng. Tráng cái nóng trong nhà chạy ra biển ngồi, gió biển cũng nóng”. Ông Nguyễn được dịp ôn cố tri tân, “hồi trẻ ở quê với ông cụ, sống trong một ngôi nhà lá mái. Trưa hè nắng đổ hào quang đom đóm ngoài trời mà trong nhà vẫn mát, mát lạnh. Cha nằm võng mắc dọc theo theo hàng bàn khoa, đung đưa chiếc võng hưởng ngọn gió nồm mát mẻ thổi qua ngạch cửa rồi phất lên nhè nhẹ mơn man, thế là ông cụ đánh một giấc trưa ngon lành. Con trai là tôi cởi áo nằm phản ngựa bên chái Tây, mới đặt lưng xuống đã nghe hơi lạnh sẵn đâu trong thớ gỗ truyền vào làm mát cả thịt da, chưa chi đã ‘hồn bướm mơ tiên’ hết cả một buổi trưa hè”. Thế là ông Trần hăng hái bình, “Ông thợ hồ đời nay đặt lam thông gió trên đầu cửa. Người xưa khôn hơn, chừa thông gió dưới ngạch cửa; cái luồng gió kéo qua sông, qua ruộng, mang theo hơi nước, cứ là thổi qua ngạch cửa mà vào nhà thì làm sao không mát. Đến mùa đông, muốn tránh lạnh thì nét con cúi rơm vào ngạch cửa là ngăn được khí lạnh không cho vào nhà. Thử hỏi vậy có khoa học không?”.

Hồi chín năm kháng chiến, tôi học Trường trung học Hòa Bình huyện An Nhơn được trọ học nơi một nhà ở gần trường. Học sinh ở trọ có tôi và ba bạn nữa. Chủ nhà là một vị địa chủ tham gia kháng chiến, làm tới Chủ tịch Liên Việt của huyện, quý học trò, cho chúng tôi ở nhà trên, một ngôi nhà lá mái. Ở đấy, chúng tôi được sống trong một không gian yên tĩnh, dễ bề tập trung vào việc học. Trọ học ba năm, chúng tôi được xem hoành, liễn; được đọc đại tự, thơ, đối; xem cách tiếp nhân, xử vật’ của chủ nhà; những điều ‘Chân, Thiện, Mỹ’ở đời nhập tâm chúng tôi lúc nào không biết.

Chú Đáo bên đình lên với tớ

Chủ nhân của những ngôi nhà lá mái không ít người quyền quý. Ông quan thanh liêm đi nhậm chức ở triều đình hay ở tỉnh xa ít khi dẫn vợ con theo mà thường vẫn để vợ con ở lại quê nhà làm ruộng làm vườn như bao người dân quê khác trong làng. Tới tuổi về hưu hay lúc chán cảnh quan trường cáo quan về sớm thì ông quan về sống nơi làng cũ, làm ruộng làm vườn không cho là khó nhục mà còn bảo là được hưởng thú điền viên’. Ở quê tôi có nhà ông Tri phủ Hòa Cư, ông Tri phủ Chánh Mẫn, cụ Phó bảng Biều Xuyên từng là Phủ doãn Thừa Thiên, ông Tiến sĩ Hòa Cư…. Cả một thời niên thiếu đi học trường làng trường huyện, tôi thường đi ngang qua những nơi đó. Nhà ông Tiến sĩ Hòa Cư (tức là Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo, thủ lĩnh phong trào kháng thế ở Bình Định hồi năm 1908) chỉ là cái nhà cặp. Ngoài ông Đốc Lăng (tức là quan Đốc học tên Lăng, làm Thanh tra Học chính của tỉnh) có nhà ở thị trấn Bình Định dưới lầu cửa Đông, tôi chưa tìm thấy ông quan hưu trí nào có nhà ở thành phố hay thị trấn. Còn về cách sống và mối quan hệ với xóm làng của các cụ thì tôi được nghe nói cụ Đào Tấn, nguyên là Thượng thư và là nhà viết tuồng nổi tiếng, suốt thời gian về nghỉ hưu ở làng quê Vinh Thạnh vẫn thường lên chơi trên chùa Linh Phong, núi Huỳnh Mai và thường xuyên đi về nơi sinh quán làng Tùng Giản. Các cụ sống vui, như cụ Nguyễn Khuyến, nhà thơ, đại khoa bảng, từng là Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên, đã viết, “Chú Đáo bên đình lên với tớ; Ông Từ xóm chợ lại cùng ta”. Đạo đức thay! Thân dân thay!

Những người muôn năm cũ

Bây giờ quả là khó có thể tìm lại được những ngôi nhà lá mái cổ lợp tranh như ngày xưa. Chỉ thỉnh thoảng mới bắt gặp một vài ngôi nhà lá mái đã qua cải tạo. Ngôi nhà lá mái đã qua cải tạo mà tôi gặp được cách đây vài năm là nhà ông Hiển ở thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn. Nhà ba gian hai chái lợp ngói; nhà ngõ cũng lợp ngói. Bên trong nhà được gìn giữ còn khá nguyên vẹn. Cột, kèo, xiên, trinh, lá mái còn vững chắc. Án thờ, trường kỷ, phản ngựa, hoành, trướng, liễn, đối còn nguyên. Một hàng bàn khoa ở mặt tiền nhà; hai bên là hai cửa ra vào bằng ván, thường mở; giữa nhà còn treo chiếc đèn Huê Kỳ nhưng không thắp vì ban đêm đã có ánh điện. Giữa được như vậy là quý lắm rồi, nhất là khi ta đã biết rõ về những vật đổi sao dời trên quê hương quá nửa thế kỷ trước. Ông Hiển ngoài 50 tuổi mời tôi ngồi uống trà ở phản bên chái Tây. Nhìn qua cửa sổ, thấy khu vườn cây lủng lẳng những quả xanh quả chín và những chim mẹ chim con kêu chích chích chuyền cành. Ông Hiển trầm ngâm nói với tôi, “Ngôi nhà này do cố ngoại tui làm Chánh Tổng cất, ông ngoại tui kế nghiệp thay nền đất bằng nền gách Bát Tràng rồi mua sắm thêm phản ngựa gõ, tủ chè chạm trổ. Ông ngoại không có con trai. Cha tôi là rể đi lính cụ Hồ đánh Pháp rồi tập kết. Mẹ tui ở nhà nuôi con không làm nên sự thay đổi gì. Đến đời tui, rạ tranh khan hiếm, tui thay mái tranh bằng mái ngói, nhà ngõ cũng lợp ngói luôn một thể. Rồi cũng có tráng xi măng nền giếng và làm một số thay đổi lặt vặt khác”. Tôi có hỏi ông Hiển rằng có bao giờ ông được nghe các cụ nói về những người thợ mộc, thợ mái ở quê mình hồi xưa. Ông Hiển trả lời, “Hồi xưa, cố ngoại tôi làm được nhà là nhờ giá nhân công rất rẻ, chủ nhà chỉ lo đãi thợ đủ ba bữa cơm no mỗi ngày. Nhà làm xong, chủ nhà lo lễ vật cho các ông bầu mái, bầu mộc, bầu chạm trổ, bầu đất cúng tổ, đãi thợ, ‘đi Tết’ ba năm cho mấy ông bầu đúng lễ nghĩa là được. Chạm trổ xong mỗi một cái đầu kèo, một ô cửa bàn khoa hình loan, phụng, nho, sóc, lê, lựu, mãng cầu… phải cả tháng công, trả công nhật như bây giờ ai mà cất nhà lá mái nổi”. Ông Hiển dẫn tôi đi xem, chỉ cho tôi thấy cái tài nghệ khéo léo của người thợ xưa trong từng nét chạm, nét trổ ở đầu kèo, ngọn trính, chân án thờ, lưng dựa trường kỷ; trong từng họa tiết, hoa văn của mảnh ốc xà cừ lóng lánh sắc màu khảm trên những tấm hoành, câu liễn… Bằng cả niềm cảm phục sâu lắng trong lòng, tôi nói với ông Hiển rằng cái hồn của người xưa còn đó…■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 91

(Visited 214 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , ,

Category: Huỳnh Kim Bửu, Kỷ Niệm, Tản mạn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *