Vài suy nghĩ nhân đọc bài “Đời sống tình cảm ở nhà chùa”

| 17/06/2014 | 0 Comments

Vài suy nghĩ nhân đọc bài “Đời sống tình cảm ở nhà chùa” (Tiếp theo Vài suy nghĩ nhân đọc “Đời sống tình cảm của nhà chùakỳ trước và hết)

LÝ KIM HOA |

Doi-song-tinh-cam-nha-chua

Chính vì việc đi tu là vô cùng khó nên làm thầy độ cho người xuất gia không phải lúc nào ai xin đi tu cũng lập tức cạo đầu ngay. Vị bổn sư thường hỏi người mình sẽ độ rằng có phải đi tu vì thất tình không, hay trốn nợ, cờ bạc thua, nghèo khổ bệnh tật, đang bị tầm nã hay trốn nghĩa vụ? Nếu đi tu vì những trường hợp trên là đi tu với động cơ không chân chính, không phải hảo tâm xuất gia.

Tuy nhiên việc đi tu cũng gần như vấn đề tình yêu và hôn nhân vậy. Trường hợp tình yêu đưa đến hôn nhân, đó là ý tưởng, giống như “hảo tâm xuất gia”, nhưng cũng lắm trường hợp hôn nhân trước rồi tình yêu mới đến sau, như xưa cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Lắm người được cha mẹ cho đi tu lúc còn nhỏ, lờ mờ chưa biết hảo tâm xuất gia là gì nhưng rồi nhờ học tu, nhờ thiện tri thức, thuận duyên thuận cảnh mà hun đúc được hảo tâm phát khởi hạnh nguyện.

Trở lại với câu hỏi đặt ra là đi tu để làm gì? Ích lợi gì, cho ai? Nếu đi tu là chỉ biết diệt dục, tu tập thiền quán cầu giải thoát bản thân thì lập trường Đại thừa Phật giáo không phải chỉ như vậy. Dân gian Việt Nam có khá nhiều quan niệm và định nghĩa về chữ tu. Những quan niệm và định nghĩa đó không phải tự phát hay không có cơ sở tư tưởng. Đó là một sự hòa quyện tinh thần Phật giáo với tâm hồn dân tộc, như một thành tựu văn hóa, văn hóa tinh thần, văn hóa phi vật thể. Để khuyến khích người phải hiếu thảo với cha mẹ thì nói “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ ấy là đi tu”. Để chỉ cho người ở trong hoàn cảnh không thuận lợi mà khắc phục được mình làm điều thiện thì nói “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ thứ ba tu chùa”. Không phải vào chùa mới gọi là tu, tu trong mọi hoàn cảnh, hoàn cảnh càng khó khăn oái oăm chừng nào thì công quả đạt được càng cao quý. Để nhắc nhở bổn phận đối với xã hội, đất nước thì nói “Làm sao mà đặng lợi người, Giúp nước cứu đời cũng một việc tu”. Hay “Đạo là cứu độ từ bi, Nước nghèo dân chết bỏ đi nỡ nào” (Hứa Sử truyện). Còn đối với bản thân thì nói “Lênh đênh qua cửa Thần Phù; Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm”. Hay “Tu cho trót, gọt cho trơn”. Trót không có nghĩa là trót đời mà trọn vẹn ý nghĩa là công quả, cho dù một ngày một đêm, như thọ Bát quan trai, hay phát nguyện một thời gian như truyền thống các nước Phật giáo Nam tông. Cho nên nói xuất gia đi tu là “hai trong một”. Chính vì thế Phật, Bồ – tát ca ngợi tán thán công đức xuất gia bao nhiêu thì cũng cho thấy cái khó làm và gần như khuyên chớ nên tu vì hình thức. Câu chuyện sau đây mới nghe tưởng chừng nghịch lý. Khi Thiên Trụ Ý hỏi Văn – thù về việc có người xin xuất gia, Văn – thù đáp: “Nếu có người đến gặp tôi xin xuất gia, tôi sẽ nói: Thiện nam! Nay người thật có tâm xuất gia chăng? Nếu người có thật tâm xuất gia, ta sẽ theo pháp độ cho người xuất gia”. Nhưng có trường hợp người đến cầu xuất gia, Văn – thù lại bảo: “Thiện nam! Người đừng cạo tóc là khéo xuất gia. Như vậy mới là xuất gia…, không nhận ca – sa, không mặc ca – sa tức là người xuất gia. Người như vậy gọi là xuất gia… Thiện nam! Nếu người không thụ giới tức là người đã xuất gia. Người như vậy gọi là xuất gia” (Đại tạng kinh, Q.12,tr.126 – 127). Rồi Văn thù giải thích có hai loại thọ giới là Đẳng thọ giới và Bất đẳng thọ giới. Bất đẳng là rơi vào chấp trước, Đẳng là thể hiện sự bình đẳng: Không, Vô tướng, Vô nguyện – ba môn giải thoát. Pháp hội thứ 44 trong Kinh Đại Bảo Tích, Phật bảo Đại Ca diếp: “Ta chẳng nói cạo đầu đắp y là sa-môn mà ta nói người có công đức và nghi thức đầy đủ là sa-môn”.

Không, vô tướng, vô nguyện là ba pháp môn giải thoát của Bồ – tát, mà hình tượng Bồ – tát là mẫu người lý tưởng của Đại thừa Phật giáo. Bồ – tát thì không phân biệt tại gia hay xuất gia. Bồ – tát phải được nhìn dưới góc độ là nhân địa của người tu tập và cũng phải được nhìn bằng nhãn quan là hình tượng người thực hành hạnh nguyện. Chính vì vậy Phật chế có Bồ – tát xuất gia, Bồ – tát tại gia. Trong Kinh Đại Tịnh Pháp Môn, khi nghe Văn – thù thuyết pháp xong, cô gái Thượng Kim Quang Thủ đảnh lễ Văn- thù xin xuất gia làm sa – môn, Văn – thù trả lời: “Bồ – tát không lấy việc cắt tóc cho là xuất gia. Bởi vì sao? Nếu đoạn diệt được dục trần để tinh tiến tu hành mới là xuất gia của Bồ – tát. Bồ – tát không lấy việc tự mình giữ cấm giới mà cho là xuất gia. Vì hóa độ chúng sinh khiến gìn giữ cẩn thận mới là xuất gia của Bồ – tát. Bồ – tát không lấy việc tự giam mình nơi thanh vắng mà gọi là xuất gia. Nếu ở trong năm thú cùng các bầy đàn mà có thể lập tuệ vắng lặng mới là xuất gia của Bồ – tát…(lược)… Bồ – tát không lấy việc tự giải thoát cho mình mà cho là xuất gia. Độ thoát tất cả chúng sinh mới là xuất gia của Bồ – tát…(Đại tạng kinh 17,tr.821 – 822) Còn với Bồ – tát tại gia, trong Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm 24, Bồ – tát Kim Cương Tràng vâng thần lực của Phật nói với chúng Bồ – tát rằng: “Chư Phật tử! Đại Bồ – tát tại gia sống cùng vợ con chưa từng xao lãng tâm Bồ – đề, chính niệm tư duy cảnh của Nhất thiết chủng trí, tự độ độ người khiến được rốt ráo, dùng phương tiện khéo léo giáo hóa quyến thuộc của mình khiến vào trí Bồ – tát, khiến giải thoát thành thục. Tuy cùng ở chung mà tâm không chấp trước. Vì gốc đại bi mà sống đời tại gia, vì tâm từ mà tùy thuận vợ con. Đối với đạo thanh tịnh của Bồ – tát vẫn không trở ngại. Đại Bồ – tát dù ở nhà tạo lập sự nghiệp nhưng chưa từng xao nhân tâm nhất thiết trí. Nghĩa là nghiệp thân ngữ ý của Bồ – tát trong những lúc mặc y phục, ăn thực phẩm, uống thuốc men, tắm rửa, xoay chuyển đi đứng nằm ngồi ngủ thức luôn hướng đến đạo Nhất thiết trí, chuyên nhiếp niệm tư duy không lúc nào quên lãng”. Tì – ni nhật tụng là tư tưởng Hoa Nghiêm, người tu đạo Bồ – tát luôn sống trong tâm niệm hồi hướng chúng sinh đồng nhập pháp giới.

Tại gia hay xuất gia đều là hai chúng của Phật, phân tích nhưng không phân biệt. Đã là tâm nguyện Bồ – tát thì như vương nữ con gái vua A-xà-thế thưa với Tu-bồ-đề khi Tu-bồ-đề nói:

– Thật hiếm có người tại gia học đạo mà có biện tài uyên bác, hiếu động nghĩa lý, thâm nhập diệu pháp như vậy!

Vương nữ thưa:  Bồ – tát cũng không là tại gia cũng không là xuất gia, cũng không là sa – môn cũng không phải không là sa – môn. Vì sao? Vì do hành động của tâm ý. Hành giả lấy trí tuệ làm đầu, lấy sáng suốt làm sự hoàn hảo” (Kinh Bồ – tát A – thuật – đạt, Đại tạng kinh 12,tr,87).

Tuy nhiên không chấp lý bỏ sự không chấp sự bỏ lý. Không đánh đồng tại gia với xuất gia, cũng không nghĩ chỉ có người xuất gia mới có thể hoằng dương đạo pháp người tại gia chỉ là hộ trì đạo pháp như làm công việc hậu cần. Tại gia cũng có những A – dục vương, Thánh Đức thái tử, Phí Trường Phòng, Bàng cư sĩ, và ở Việt Nam cũng không thiếu những vị không phai mờ trong sử sách.

Dầu sao hình bóng người xuất gia vẫn là hình bóng thiêng liêng, bởi đó là hình bóng của Đức Phật. Một mình đi trong quãng đường vắng nếu thình lình có ai đó đi theo mình, chắc hẳn không khỏi run sợ. Nhưng gặp một nhà sư cùng đồng hành thì vô cùng yên tâm. Trong đời không có Phật, hình bóng nhà sư chính là nơi nương tựa an ổn đối với chúng sinh. Ngày nay trong dân gian khi nhà có tang tế, tuy gia đình không quy y, không ăn chay niệm Phật người ta vẫn thường “rước thầy” tụng kinh cho dầu có khi gia chủ biết đó là “thợ” chứ không phải thầy. Thực tế người ta rước thợ chứ không ai rước cư sĩ, hay mua máy mở băng đĩa cho tụng rồi thắp nhang lạy lục bao giờ. Ngày nay không thiếu chúng sinh lợi dụng hình bóng sư làm kế mưu sinh, kết hợp với dịch vụ tống táng thuê bao trọn gói. Những thợ này hơi hám tán tụng rất nhịp nhàng, pho phách, ăn khớp với trống kèn, nhưng nếu thử lắng nghe sẽ thấy lộn ngược lộn chảy, lam nham câu được câu mất. Tình trạng như vậy nhưng với tâm Bồ – tát thì biết đâu nhờ trường hợp đó mà nhiều chúng sinh sẽ có duyên gặp Phật pháp, đi theo chính đạo trong kiếp tương lai. Bởi bất cứ cá nhân hay ban ngành đoàn thể nào đến nhà tang chủ phúng viếng đều thấy thắp hai cây nhang, một cây cắm trước linh sàng, một cây cắm bàn Địa Tạng vái vái mà không từ chối bao giờ. Thế mới biết hình bóng Phật là thiêng liêng và có thiêng liêng mới bị lợi dụng.■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 55

(Visited 114 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Lý Kim Hoa, Tản mạn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *