Lợi sinh để Hoằng Pháp

| 21/04/2016 | 0 Comments

MINH MẪN ■

Loi-sinh-hoang-phap

Sau khi chứng ngộ đạo Vô thượng, Đức Phật thấy rõ tính bình đẳng trong mỗi chúng sanh, chỉ vì mê chấp mà chúng sanh có sai biệt nghiệp lực. Suốt 49 năm hoằng hóa, Ngài chỉ mong khai thị cho mọi người thấy được khả năng trí tuệ của chính họ để mọi người chủ động trong cuộc sống, về sinh hoạt thường ngày của Tăng đoàn, ngoài giờ hóa duyên và thiền định, chư Tăng tỏa ra khắp nơi để hoằng truyền Chính pháp. Đức Thế Tôn từng bảo, vỉ lợi ích cho chúng sanh, quý thầy hãy đi khắp nơi, không đi hai người một chỗ”.

Lợi sanh trong giai đoạn khởi phát truyền bá giáo pháp đạo Phật là như vậy. Đức Phật muốn nhân loại khôi phục tánh giác để thấy được giá trị cao quý của kiếp người. Ngài bảo: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn”.

Thời bấy giờ ở Ấn Độ, giới Tăng lữ Bà-la-môn nắm địa vị tế lễ tín ngưỡng đã cấu kết với quan quyền, hoạch định ra giai cấp, chia xã hội làm nhiều thứ bậc ảo tưởng để dễ thống trị. Bốn giai cấp gồm: Lễ sư (các Bà-la-môn), vương tộc (Sát-đế-lợi), thứ dân (Tỳ-xá), và nô lệ (Thủ- đà-la). Người thuộc giai cấp này không được pha trộn vào giai cấp khác. Qua nhiều ngàn năm, người dân Ấn tin rằng vị thế trong xã hội của mình đã được an bài và họ an nhiên chấp nhận. Người Trung Hoa cũng chia xã hội làm bốn giai cấp, nhưng lại căn cứ vào những ngành nghề trong cuộc sống là sĩ, nông, công, thương. Khi kinh tế xã hội ổn định thì vị thế kẻ sĩ được đề cao, lúc khủng hoảng gạo cơm thì nhất nông nhì sĩ (nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ). Giai cấp trong xã hội Trung Quốc không cố định khi mức sống và ngành nghề đổi thay.

Do phân định giai cấp mà con người bị đóng khung, an phận trong giai cấp của mình, không có óc cầu tiến, vượt thoát! Thật ra, trong xã hội mỗi thời đại đều phát sanh thêm những ngành nghề khác nhau, cho dù lao động chân tay hay lao động trí thức đều có giá trị như nhau, không thể đề cao giai cấp này, liệt hạng giai cấp khác để phân hóa xã hội, tạo hận thù tranh đấu như bầy gà bôi mặt đá nhau.

Hoằng pháp vào thời Đức Phật còn tại thế đem lại lợi ích cho nhân sinh bằng cách khôi phục giá trị tuyệt đối của con người để họ không lệ thuộc vào thần linh. Người Ấn Độ không có khuynh hướng hưởng thụ, họ xem cuộc sống là cõi tạm, chú hướng về tâm linh, nhưng lại chịu sự nô lệ trước tha lực. Đây là sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác tại Ấn. Có người chưa nắm vững giáo lý đạo Phật, vội cho rằng Đức Phật cóp nhặt tư tưởng của Bà-la-môn giáo. Tuy nhiên, xét kỹ, hai hệ tư tưởng hoàn toàn cách biệt. Đạo Bà-la-môn dựa trên tư tưởng Vệ đà, một học thuyết hình thành khá sớm do nền văn minh Aryans từ Trung Á truyền sang, chấp nhận có một đấng sáng tạo. Người thờ lửa thì tin thần lửa là chủ tể cuộc sống. Đất, nước, gió cũng vậy, đều là những vị thán chủ quản mà tín đồ tuyệt đối tin tưởng. Trong khi đó, Phật giáo không đề cập đến đấng hóa sinh, không chấp nhận các giai cấp mà những tôn giáo có trước đã phân định. Tính bình đẳng và tự giác của Phật giáo đã san bằng mọi bất công trong xã hội đương thời. Đây là nét độc đáo từ tinh thần cách mạng của Đức Phật. Chính vì sự quan trọng cần phải giải phóng sự nô lệ đức tin để đưa con người lên vị trí chủ thể, Phật giáo xem việc hoằng pháp đem lại lợi ích cho nhân sinh là điều tối cần. Đó chính là ý nghĩa của hoằng pháp lợi sinh.

Qua nhiễu thế kỷ, Phật giáo truyền sang nhiều quốc gia, trong đó có những quốc gia nặng về vật chất, lấy lợi nhuận làm cứu cánh, lấy hưởng thụ làm hạnh phúc, dùng tiện nghi làm thước đo sung túc, xem danh lợi địa vị khoa bảng là thước đo thành đạt. Lối sống đó tiếp tục đẩy xa giá trị cơ bản của con người ra khỏi ý thức thăng hoa. Đặc biệt, các tôn giáo phương Tây đã liên kết vật chất song hành với đời sống tín ngưỡng. Một linh mục quản xứ được hưởng những quyền lợi như một cán bộ nhà nước, có cả chế độ hưu bổng do Giáo hội quy định. Tín đồ tha hồ làm giàu mà không mang mặc cảm tham đắm vật chất. Giáo hội Kito có ngân hàng và tích lũy tài sản.Thệ Phản giáo, sau khi tách khỏi Vatican, đã cải cách tín điều nhưng vẫn duy trì quan điểm liên kết vật chất với đời sống tâm linh. Mặc dù Anh quốc được xem như thủ phủ của Thệ Phản giáo, nhưng Mỹ mới là mảnh đất màu mỡ để trên 250 giáo phái Tin Lành song hành với quân đội phát triển đến các quốc gia tham chiến, như Vatican từng là bóng với hình bên quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Và sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, từ 1990, nhiều tổ chức tôn giáo mới ồ ạt xâm nhập một cách linh hoạt vào Việt Nam qua ngả lao động xuất khẩu, thuyền nhân và công nhân làm thuê các nước, những người đã được các tổ chức tôn giáo ấy giúp đỡ bước đầu, biến họ thành những người truyền giáo đắc lực sau khi hồi hương. Dĩ nhiên vật chất là phương tiện dễ dàng cho việc cấy hạt giống đức tin vào cộng đồng nghèo khó. ông bà thường bảo: Đồng tiền đi trước là đóng tiền khôn. Đối với công nhân trong nước, các tổ chức tôn giáo nói trên sẵn sàng hỗ trợ thêm một suất tiền tương đương lương mỗi tháng nếu chấp nhận gia nhập vào tổ chức của họ. Nơi miền cao, miền sâu và các khu phố nghèo thiếu, họ luôn có mặt giúp đỡ vật chất. Tại siêu thị Metro ở quận 12,TP. Hồ Chí Minh, một nhóm thanh niên công khai truyền bá đức tin giữa chợ, kèm theo những hứa hẹn về lợi dưỡng, họ ca ngợi Thượng đế một cách cuồng nhiệt. Họ có quyền quảng cáo tôn giáo của họ, cho dù quảng cáo theo cách mì ăn liền. Điều chúng ta muốn nói là họ rất thực dụng, vật chất và đức tin song hành, chứ không quá lý tưởng như Phật giáo, đem những giáo lý cao siêu nói với những người đang thiếu gạo cơm.

Như thế, các tôn giáo trong những quốc gia phát triển đã ý thức được tính thực dụng trong công cuộc truyền đạo, họ đã thành công khá dễ dàng trong các quốc gia nghèo và trình độ thấp. Một số quần chúng vốn là Phật tử cũng đã chấp nhận phương pháp này để gửi gắm niềm tin trong quyến lợi.

Sau năm 1975, số lượng tín đồ Phật giáo không phát triển bao nhiêu nếu không nói bị thất thoát. Phật giáo không có thống kê hàng năm về sự tăng giảm tín đồ, trong khi đó Thiên Chúa giáo tại Việt Nam tăng 5%, Tin Lành với 20 giáo phái đang có mặt tăng 15%. Nói chung, các tôn giáo độc thần đều phát triển dù mức độ có khác nhau. Trong khi đó, hoạt động hoằng pháp Phật giáo vẫn nặng về hình thức. Các khóa đào tạo và bồi dưỡng giảng sư chưa đào sâu phương thức, nghệ thuật, đối tượng và chỉ tiêu hoằng pháp, vẫn những bài giảng chung chung giữa một đại chúng có quá nhiều trình độ khác nhau, chẳng khác nào vung vãi hạt giống trên thửa đất chưa cày ải có cả cỏ, đá, rác rến… không cần biết kết quả ra sao, để sau khi ra về, không ai còn nhớ được điều gì đã nghe.

Đã từ lâu, Phật giáo vẫn hoằng pháp theo kiểu truyền thống cầu may mà không nhắm đến hiệu quả cần phải đạt được. Người thực hiện việc hoằng pháp chỉ thuyết giảng nơi nào đã có Phật tử và đạo tràng nơi đó đã huy động Phật tử đến nghe. Với đối tượng này, lẽ ra phải có lớp bồi dưỡng giáo lý theo từng trình độ. Chỉ ở những cộng đồng dân cư chưa hiểu đạo mới cần công tác hoằng pháp của các giảng SƯ; Phật tử các chùa chỉ cần những khóa tu và giáo lý căn bản.

Về việc hoằng pháp đến cộng đồng dân cư, hay nói cách khác, việc đưa Phật giáo đi vào xã hội, không thể không chú ý đến những nhu cầu cần thiết của người dân. Nói như thế, có thể nhửng vị bảo thủ cho rằng Phật giáo không như các tôn giáo khác, không cần chiêu dụ. Vấn đề ở đây là cần giúp giải quyết những nhu cầu tối thiểu cho con người trước khi giảng giáo lý cho họ. Phật giáo cần đem đến cả vật chất lẫn tinh thán cho người nghe. Không ai có thể ngồi nghe pháp mà bụng đói và gia đinh đang thiếu ăn.

Có vị lại hỏi, “Phật giáo vốn nghèo, lấy đâu để giúp đõ những kẻ thiếu ăn?”. Ở đây, chúng ta giúp cắn câu chứ không cho con cá, nghĩa là, Phật giáo không chỉ đem lý thuyết đạo đức suông đến cho người dân mà còn phải biết hòa nhập vào xã hội qua nhiều lĩnh vực cụ thể. Vệ sinh thường thức, kỹ thuật gieo trồng, kiên thức môi sinh, hạnh phúc hôn nhân, giáo dục trẻ con, kinh tế tài chánh, quản trị, tồ chức, huấn nghệ… Một quan niệm đã ăn sâu vào cộng đồng Phật giáo là người biết tu không cần làm giàu, không lo hưởng thụ, không thiết vật chất, vì vậy họ bảo an bần lạc đạo!

Chúng ta cần phân biệt rõ hai lãnh vực, một bộ phận chuyên tu, không bận tâm đến vật chất để tâm hồn thanh thoát chú tâm vào đạo lực. Một bộ phận hoằng pháp, còn phải giao tiếp với xã hội, còn phải cần đến những phương tiện sống và phương tiện truyền bá, vì thế, người của bộ phận này phải có kiến thức tổng quan đủ để hỗ trợ quần chúng giải quyết những nhu cầu của họ. Chúng ta không đem của cải vật chất lót đường cho việc truyền bá đạo pháp mà có phương hướng xây dựng xã hội bên cạnh việc pháp thí.

Sinh hoạt xã hội cũng như đề án kinh doanh trong một tổ chức của thế gian phải hướng đến mục đích, có chỉ tiêu và có thời hạn nhất định, để từ đó rút tỉa kinh nghiệm cho một chu kỳ mới, không thể làm có lệ, được chăng hay chớ. Xã hội ngày nay là xã hội cạnh tranh, kể cả tôn giáo; nên thụ động là tự mình rút lui khỏi sân chơi, an phận là dẫm chân tại chỗ. An bần lạc đạo không có nghĩa mình phải nghèo mới sống vui với đạo. Đức Phật không cấm chúng ta làm giàu, chỉ cấm làm giàu bất chính thiếu đạo đức và cấm hưởng thụ quá mức nhu cầu, vì cần phải chia sẻ với đồng loại. Nếu an phận và nghèo thì lấy gì bố thí giúp đỡ kẻ khốn cùng hoạn nạn tai ương? Làm giàu không có nghĩa không an bần. Làm giàu để có điều kiện giúp đỡ xã hội, an bần là kiểm soát nhu cầu cá nhân.

Chính vì thế, ngoài việc trang bị kiến thức giáo lý, trình độ và nghệ thuật diễn giảng trên pháp tòa, người làm công tác hoằng pháp còn phải có nghệ thuật hòa nhập quần chúng, thích nghi với đối tượng, có nội dung giảng giải thích ứng với đối tượng và biết thăm dò lắng nghe nhu cầu cũng như tâm tư của đối tượng. Điều này đòi hỏi người hoằng pháp phải có lý tưởng xã hội, và khi nhập cuộc hành sự, phải có định mức và thời lượng để

đánh giá kết quả hầu rút kinh nghiệm cho việc làm tiếp theo, chứ không làm theo tùy hứng và vụ mùa.

Phật giáo ngày nay có khuynh hướng hoạt động từ thiện xã hội rất cao, nếu hoạt động hoằng pháp biết kết hợp với các hoạt động từ thiện như thế sẽ có kết quả tốt hơn. Các tôn giáo bạn cứu trợ thiên tai, bố thí chẩn bần, thường khoanh vùng, hạn chế trong giáo dân. Ngược lại, với tinh thần từ bi của Phật giáo, các đoàn từ thiện Phật giáo vào bất cứ nơi nào có nhu cầu, không phân biệt tôn giáo. Phật tử làm từ thiện một cách vô tư để hoàn thành hạnh nguyện Bồ-tát mà không cần biết kết quả thế nào.

Dĩ nhiên cái nghèo cái đói là bệnh trầm kha, cứu trợ chỉ là giai đoạn nhất thời, công việc như thế chỉ là muối bỏ biển. Ích gì khi mỗi hộ được vài ký gạo và vài phẩm vật chi dụng trong ít hôm mà người nhận không cần biết họ nhận của ai và họ có lợi ích gì sau những phẩm vật đó.

Tôn giáo bạn có lý khi dùng những món quà cứu trợ làm điều kiện để truyền bá tín ngưỡng. Phật giáo không lợi dụng vật chất để khống chế tâm linh người thọ nhận.

Người làm từ thiện quên rằng nếu món quà ít ỏi đến với một người, biết kèm theo lời khuyên về đạo đức, lợi ích đó lớn hơn và công việc từ thiện sẽ giá trị hơn. Lâu nay các đoàn từ thiện của Phật giáo làm công tác vãi thực phẩm xuống biển mà không cần biết dưới nước có những gì và loại thủy tộc nào cần thứ gì!

Làm từ thiện phải biết mục đích và đối tượng, phải nắm được kết quả ít nhất trên 50%, không phải có lợi cho Phật giáo thêm được tín đồ mà có lợi cho người thọ nhận có thêm đạo đức, từ thiện như thế mới đủ ý nghĩa.

Ở Đài Loan và Nam Triều Tiên, tu sĩ đã thực hiện và áp dụng được lợi sinh để hoàng pháp. Phật giáo không chủ động đi tìm tín đồ nhưng khi đã trở thành tín đồ, ngoài lời khuyên từ bi, thương người, bố thí, nhẫn nhục… , người Phật tử cần được nghe giảng giải về những điều mấu chốt trong cuộc sống. Một cặp hôn nhân trẻ cần sự hướng dẫn về bảo vệ hạnh phúc gia đình, một doanh nhân thành công cần sự giáo dục về đạo đức nghiệp vụ; một thương gia cần sự cố vấn về tính trung thực; người làm kinh tế cần Phật giáo hỗ trợ vế kiến thức, kế hoạch và sự tương trợ trong cộng đồng Phật tử… Nghĩa là lý tưởng xã hội phải có trong lý tưởng hoằng pháp, bởi vì,

Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác; Thế gian pháp tức là Phật pháp. Vì thế, không thể bảo người tu không dính vào đời sống thế gian, chỉ biết thọ nhận mà không lăn xả hy sinh, chỉ thụ động mà không năng động. Thực ra, tinh thần Phật giáo là năng động.

– Như vậy, hoằng pháp lợi sinh là lý tưởng của thời đại kinh tế còn dồi dào, đất rộng người thưa, nhu cầu vật chất chưa cấp thiết. Ngày nay, mọi vấn đề trong cuộc sống đều đảo ngược thì lợi sinh để hoằng pháp cũng là việc cần xét đến, nhất là tại xã hội còn nghèo như Việt Nam chúng ta, một sân chơi đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ của những tổ chức tôn giáo có sức mạnh toàn cầu vững chãi và rất linh hoạt. ■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 101

(Visited 164 times, 1 visits today)

Tags: , , , , ,

Category: Minh Mẫn, Quan điểm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *