Nói không được (3)

| 29/10/2012 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 21  |  BS. ĐỖ HỒNG NGỌC

(Viết tiếp)

Nói không được
Đối với tôi, cụm từ bí hiểm mà có sức… hấp dẫn nhất là “hành thâm Bát nhã” trong Tâm kinh: “Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”…

Bát nhã là gì? Ba la mật là gì? Làm sao mà có thể giúp “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”? Tại sao các vị học Phật uyên thâm, các vị đại Thiền sư như Cưu Ma La Thập, Huyền Trang lại không dịch mà chỉ phiên âm Bát – nhã Ba – la – mật từ “Prajna paramità” của tiếng Sanskrit? Hẳn có điều chi khó nói. Nói không được. Nói không được bởi sợ nói không hết ý, còn có thể bị hiểu lầm, sinh chuyện! Cho nên các vị thận trọng, giữ nguyên âm, để mỗi người tự tìm lời giải đáp cho mình. Rồi “Hành” là gì? “Thâm” là gì? Cách nào? Một người thực sự tu hành thì chẳng ai cần thắc mắc lôi thôi như vậy. Nhưng một người bình thường, nhất là một người  thầy thuốc như tôi, bị “méo mó” nghề nghiệp, không thể không mày mò tìm kiếm dù cho biết là “bất khả đắc”! Có một “cơ chế” gì không? Có một “công thức” gì không, như của Einstein chẳng hạn để chuyển hóa vật chất thành năng lượng? Thử nhìn từ góc độ y sinh học, mối liên quan giữa tâm và thân, giữa Khí và Trí (Bát nhã) xem sao. Dĩ nhiên ta biết trí Bát nhã ở đây không phải là cái trí “thông minh”, cái kiến thức tích cóp thông thường. Một người thông minh có thể dùng suy luận để hiểu duyên khởi, hiểu không, hiểu vô ngã, nhưng đây là cái hiểu bằng ý niệm, bằng khái niệm. Và như vậy, không thể “độ nhất thiết khổ ách” được!             Bởi không, vô ngã ở đây phải là một trạng thái, một thứ thấy biết từ trong định, trong tuệ.

Hiệu quả sẽ là chứng minh – Edward Conzé nói vậy – chính trong đời sống hàng ngày, ta sẽ thấy hiệu quả!”. Tôi cũng nghĩ vậy! Phải được thực hành trong đời sống hàng ngày. Không phải vô cớ mà ngày nay  các trung tâm y khoa lớn trên thế giới đưa Thiền vào nghiên cứu và ứng dụng như một liệu pháp hữu hiệu chữa trị nhiều thứ bệnh thời đại, cả thân bệnh và tâm bệnh! Phật giáo không là một tôn giáo thần bí, một triết học viễn mơ, mà là một khoa học, thực nghiệm, thể nghiệm, gắn với đời sống con người, hạnh phúc con người. Phật dạy đừng bàn phiếm nữa. Thực hành đi, rồi tự thấy, tự biết. Hãy đến, thử rồi biết! Nó có sẵn đó rồi. Đừng tìm đâu cho mất công. Hãy quay về nương tựa chính mình. Nghe có vẻ lạ lẫm. Nhưng quả đúng như vậy. Bởi nói cho cùng, ai có thể thở giùm ai? Ai có thể thiền giùm ai?

Trong các kinh sách dạy căn bản về Thiền như Tứ Niệm Xứ, Thân Hành Niệm, An Ban Thủ Ý (Anapanasati)…, Phật đều chú trọng dạy về “quán niệm hơi thở”, nghĩ tưởng về  “thở vào” (ana) và “thở ra” (apana) như là một chìa khóa của chánh niệm. Chỉ có thế. Chỉ cần thế. Nhưng Phật đã dặn đi dặn lại – sợ sau này người ta quên đi – đây là con đường độc nhất – để mang lại hạnh phúc. Thật khó tin vì nó quá giản đơn. Nhưng cứ thử đi. Thử rồi sẽ thấy. Chuyện xưa kể không ít trường hợp có người không tin, tìm đến Phật để tranh luận. Phật chỉ bảo xin ông làm ơn thử cách của tôi một thời gian, rồi sau đó hãy tranh luận. Thử xong, nhiều người quỳ xuống đảnh lễ, xin làm đệ tử, không nhắc tới chuyện tranh luận nữa! Có vẻ đơn giản, nhưng thực ra không giản đơn chút nào, bởi phải hết sức miên mật, hết sức chăm chút. Phải thực sự “hành” và thực sự “thâm”. Phải ngấm sâu vào “từng tế bào” của cơ thể để chuyển hóa thân tâm và từ đó có thể phát hiện ra bao điều kỳ diệu, không chỉ “diệt trừ khổ ưu” mà còn “thành tựu chánh trí”. Dĩ nhiên, cần có khá nhiều điều kiện hỗ trợ. Bởi luôn luôn gặp vô số những trở ngại cần phải vượt qua, mà trở ngại lớn nhất chính là muốn “thủ đắc”, trong khi nó vốn “vô sở đắc”.

Quán niệm hơi thở (nhập tức xuất tức niệm) chỉ là bước đầu dẫn đến Định, nhưng để vượt qua, đến Tuệ thì còn phải quán niệm ở những tầng sâu hơn, xa hơn. Trong nhịp thở bình thường của chúng ta, trước mỗi giai đoạn thở vào và thở ra có một quãng lặng, nghỉ “xả hơi” Quãng lặng “xả hơi” đó ở cuối thì thở ra – trước khi thở vào trở lại – thường kéo dài hơn, thong dong hơn, nhẹ hàng hơn, yên tĩnh hơn. Đó chính là giai đoạn “parana”. Pra có nghĩa là trước, an là thở, thở vào. Về sinh học, ở đây là giai đoạn áp suất trong phổi bằng không (zéro), khí trong phổi và khí vũ trụ chan hòa thành một, không phân biệt. Prana đã được biết đến từ xa xưa. Yoga của Ấn Độ, “khí công” bên Trung Quốc, cũng như y học Đông phương cổ đại đã nói đến. Trong yoga có pranayama, kiểm soát hơi thở. Trong thiền định, không phải là vấn đề kiểm soát hơi thở nữa mà hơi thở tự kiểm soát! Hành giả chỉ “mượn” quán tưởng hơi thở để dẫn đến những quán tưởng sâu xa hơn. Có thể nói đến một “pranasati” ở đây không? Phổi như một cái máy bơm “phình xẹp” để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Khi áp suất âm trong phổi và các phế nang thì khí bên ngoài tự động tràn vào, tuôn vào, lấp đầy các phế nang, cho đến một lúc lượng khí bên trong phổi đầy dần lên thì chuyển sang áp suất dương, phổ đẩy khí ra. Thở vào không tốn năng lượng; thở ra, tốn năng lượng. Lúc áp suất cân bằng nhau, hay nói cách khác, bằng “zéro” thì khí bên trong và bên ngoài hoàn toàn giống nhau. Lúc đó chính là quãng lặng, giai đoạn “xả hơi” sau mỗi lần hít thở, và không hề tốn năng lượng. Những vị thiền sư giàu kinh nghiệm (thiện xảo) thường nói đến giai đoạn thở mà như không thở, gần như ngưng thở khi vào sâu trong định. Ở đây, họ đã không còn ý niệm gì về hơi thở, về không gian, thời gian, về ta, về người… Hình như đã hòa nhập vào tất cả, với tất cả, lắng đọng, thanh thoát. Tiến trình hô hấp vẫn diễn ra sâu trong các tế bào, nhưng ở mức thấp nhất, nhẹ nhàng nhất, vì nhu cầu sản xuất năng lượng không đòi hỏi cao hơn nữa! Lúc đó cơ thể như cách chim lượn bay, không phải vỗ cánh, như xe đang ở số không, ngon trớn, chạy không tốn xăng. Phải chăng đó là lúc thiền giả ở trong một trạng thái sảng khoái, dễ chịu, gọi là hỷ lạc (thiền duyệt)? Nhưng nếu dừng lại ở đây thì chưa phải là thiền Phật giáo. Thiền Phật giáo còn tiến sâu hơn, đến trạng thái “Diệt thọ tưởng định”.

Bầu khí quyển chúng ta thở hôm nay so với cách đây 700 triệu năm – tức là khí có những sinh vật đơn bào đầu tiên trên trái đất – thì cũng chẳng khác biệt chút nào! Với người anh em đơn bào cách đây 700 triệu năm thì ta cũng cùng hút chung một thứ khí, cùng bú chung một “núm vú” vũ trụ, cùng với muôn loài khác nữa.

Khoa học đã chứng minh chuyển hóa cơ bản trong Thiền thấp hơn cả trong giấc ngủ. Do vậy mà các thiền sư không có nhiều nhu cầu về các chất dinh dưỡng được cung cấp bởi thức ăn. Định và Giới gắn bó chặt chẽ với nhau là vậy!

Mỗi tế bào trong cơ thể thực chất cũng là một  sinh vật háo ăn, háo sản xuất năng lượng, thông qua những phản ứng gọi là oxyt hóa, do đó mà tạo ra các gốc tự do làm cho cơ thể mau bị hủy hoại, mau già đi. Các thí nghiệm gần đây cho thấy, nuôi sinh vật bằng một khẩu phần thiếu hụt, sinh vật sẽ trẻ lâu, sống lâu hơn! Đời sống tiết độ, tri túc, kham nhẫn, tỉnh giác… phải chăng có thể góp phần giải quyết những vấn đề sức khỏe thời đại của chúng ta hiện nay?

Danh y Tuệ Tĩnh, sống vào thế kỷ thứ XIV ở nước ta, đã đúc kết một lời khuyên: “Bế tinh – Dưỡng khí – Tồn thần/ Thanh tâm – Quả dục – Thủ chân – Luyện hình”! Thử nhìn lại đời sống trên “thế giới phẳng” hiện nay ta thấy: Tinh không bế. Khí không dưỡng. Thần không tồn. Tâm náo loạn…! Bảo sao chẳng xuất hiện bao nhiêu hiện tượng: tâm thần, tự tử, béo phì, chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai?

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã…”.

BS. ĐỖ HỒNG NGỌC

Nói không được 1

Nói không được 2

(Visited 83 times, 1 visits today)

Tags:

Category: BS. Đỗ Hồng Ngọc, Quan điểm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *