Trong bước ngoặt của một nền văn minh (trích)

| 05/01/2015 | 0 Comments

NGUYỄN THẾ ĐĂNG

Cuộc khủng khoảng của con người là sự không thể liên thông với thế giới tâm linh, chiều sâu của tâm thức mình, do đó mà bất an, giành giựt, hiếu chiến, tìm kiếm thỏa mãn một cách vô vọng nơi thế giới giác quan và ý thức. Những cuộc tìm kiếm, nghiên cứu của lý tính hữu hạn đếu thất bại, đều chạm tới những giới hạn của chính ý thức…trong-buoc-ngoac-nen-van-minh

Richard Layard, một nhà kinh tế hàng đầu nói về cuộc khủng hoảng hạnh phúc như sau: “Trong cuộc sống của chúng ta  có một nghịch lý. Phần lớn người ta muốn có thu nhập nhiều hơn và cố gắng để đạt được điều đó. Thế nhưng các xã hội phương Tây ngày một giàu có hơn mà người dân lại không hạnh phúc hơn… Nghịch lý này tại Mỹ, Anh hay Nhật Bản đều đúng như nhau” (tr.13, Happiness, 2005, Hạnh Phúc, Hiếu Tân dịch, NXB Tri Thức 2008).

Chúng ta cám ơn những nhà sáng chế, những nhà tư bản, kinh tế, những nhà chính trị xã hội đã tạo ra cho chúng ta một nền văn minh hiện đại, đại chúng, phong phú, đầy đủ mọi phương tiện vật chất phổ cập đến hầu như mọi người trên thế giới. Vậy mà chúng ta vẫn chưa được hạnh phúc, chúng ta vẫn khủng hoảng hạnh phúc, mà những khủng hoảng về kinh tế, chính trị, xã hội là những biểu hiện ra bên ngoài của tâm hồn chưa được hạnh phúc của chúng ta.

Sự phát triển trong thế giới vật chất của chúng ta thì quá tốt, thậm chí quá dư. Trong khi đó, trong thế giới con người, trong thế giới văn hóa thì không tương xứng. Ở thế kỷ XIX, Nietzsche tuyên bố Thượng đế đã chết. Đến J.P Sartre, tuy là bác bỏ một siêu hình học về hữu thể và siêu việt thể, nhưng còn tin vào con người: “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” (1946). Vậy mà chỉ hai thập niên sau, các nhà mở đầu cho “hậu hiện đại” khai tử luôn cả con người: ‘Cái chết của tác giả” (Roland Barthes) và “Con người đã chết” (Michel Foucault). “Con người  chẳng phải là vấn đề xưa cũ nhất, cũng chẳng phải là vấn đề dai dẳng nhất đặt ra trước tri thức con người” (Foucault).

Văn hóa là cái đưa con người tiếp cận với siêu hình học, hữu thể học, với thế giới lý tưởng Chân ThiệN Mỹ (theo cách nói của Platon), với tôn giáo, với Đạo, với cõi lòng sâu thẳm, với tâm linh của chính mình. Con người đã chết, nghĩa là tâm linh của nó cũng đã chết. Thảo nào, Phật giáo và các truyền thống tâm linh của Đông Á thâm nhập Tây phương dễ dàng đến thế.

Nói theo cái nhìn Đông phương, con người khủng hoảng hạnh phúc vì nó đã không có sự quân bình (Trung đạo của Đức Phật và Long Thọ, Thiên quân của Trang Tử, Trung dung của Khổng giáo…) trong phát triển của chính nó, và do đó, của xã hội. Phát triển quân bình là phát triển của cả ba lĩnh vực: con người vật lý và sinh lý, con người tâm lý, và con người tâm linh. Trong xã hội, ba lĩnh vực đó nói gọn là kỹ thuật – kinh tế, văn hóa, và tôn giáo hay đạo. Ba lĩnh vực này văn minh Đông Á gọi là Địa,  Nhân, Thiên.

Chỉ cần nhìn vào đại học của thế giới hiện giờ, sinh viên không thèm học những ngành xã hội nhân văn và đổ xô vào những ngành kỹ thuật kinh tế. Nói gì đến tôn giáo, đến đạo. Ngay cả giới tu sĩ chắc cũng rất ít người dám nói như Đức  Đạt lai Lạt ma  câu nói này đã được người ta viết lên cửa ngõ vào bang Califonia: “Tôi chỉ là một tu sĩ, không hơn không kém”.

Vì chú trọng nhiều đến thế giới vật chất, trong khi đó tầng thứ hai là văn hóa lại yếu kém. Chỉ nói về chóp đỉnh của văn hóa là triết học thì hoặc quá thông minh nhưng rồi lại rơi vào chủ nghĩa hư vô không nền tảng như các nhà hậu hiện đại, hoặc tích cực xây dựng thì quá dè dặt trong đối thoại triết học về một nền tảng chung cho thế giới vật lý, thế giới tâm lý, và thế giới siêu hình, nên cũng không đưa ra được giải pháp cho con người. Lên đến tầng thứ ba tâm linh, hay siêu hình, hay đạo, thì tôn giáo không đủ sức đảm đương hai thế giới trước (người ta hay nói nhiều về một nền văn minh Tây phương hậu Thiên Chúa giáo), kết quả là con người bị khủng hoảng từ tầng sâu nhất và biểu lộ nơi những khủng hoảng của các cơ cấu xã hội. Tại sao người ta tôn thờ kỹ trị mà không nói tới nhân trị và đạo trị nhỉ? (Đạo ít ra là theo nghĩa của Lão Tử). Lý tưởng của Tây và Đông giống nhau: với Hy Lạp và vua – triết gia, với châu Á là vua – thánh.

Cuộc khủng hoảng của con người là sự không thể liên thông với thế giới tâm linh, chiều sâu của tâm thức mình, do đó mà bất an, giành giựt, hiếu chiến, tìm kiếm thỏa mãn một cách vô vọng nơi thế giới giác quan và ý thức. Những cuộc tìm kiếm, nghiên cứu của lý tính hữu hạn đều thất bại, đều chạm tới những giới hạn của chính ý thức. Đó là biên giới của thức (lý tính, ý thức) ngăn cách với Trí Tuệ, chỉ có Đạo (những con đường thực hành chính đáng, mới có thể vượt qua, không đạt đến thế giới tâm linh, mọi ngành học thuật nghiên cứu sáng tạo đều không đem lại thỏa mãn, như chúng ta đã thấy. Ý thức luôn luôn ngạc nhiên và tò mò. Sự ngạc nhiên và tò mò ấy đã sinh ra mọi thứ triết học, khoa học, nghệ thuật… nhưng sự tò mò tối hậu, sự thỏa mãn tối hậu vẫn là điều mơ ước của con người. Con người vẫn chỉ sống, chỉ thể nghiệm được thế giới giác quan và thế giới ý thức, còn cái gì là nền tảng của hai thế giới giác quan và ý thức thì người ta không biết, không sống được, do đó mà cứ khổ đau và khao khát mãi.

Ám ảnh về kinh tế về sự giàu có. Nhưng giàu có về vật chất thì chưa đủ để đem lại hạnh phúc trọn vẹn, có khi lại đem đến thảm họa. Chúng ta phải giàu có về mặt tâm linh, chúng ta cần có một nền kinh tế tâm linh. Nơi đây chúng ta không giao phó hạnh phúc của mình cho những chuyên gia kinh tế hay chơi trò may rủi. Nơi đây chúng ta hoàn toàn tự do để điều hành sự giàu có và hạnh phúc tâm linh của mình, cung và cầu theo ý chí của mình. Chúng ta là chủ nhân trong vương quốc tâm linh của mình.

Hướng đến sự giàu có và hạnh phúc tâm linh, ngoài sự an vui nơi chính mình, chúng ta sẽ bớt cầu nơi thế giới vật chất và thế giới vật chất cũng sẽ bớt cung cho lòng tham vô độ của chúng ta. Do đó mà cả hai, thiên nhiên và con người mới có cơ may sống sót. Ôi, thiên nhiên cũng muốn chúng ta xem nó như một thành phần của thế giới tâm linh chứ không như một con trâu cày suốt kiếp hay như một đống đá quý cho chúng ta tha hồ khai thác bóc lột. Thiên nhiên hạnh phúc biết bao khi chúng ta chuyển hóa nó vào thế giới tâm linh thay vì chuyển hóa nó thành tiền bạc. Chẳng lẽ chúng ta cứ chạy đua về kinh tế – và kèm theo đó là quân sự – để cho trái đất phải suy tàn và con người cứ phải tiêu phí hết thời gian của mình chỉ để làm việc và hưởng thụ trong thế giới vật chất hạn hẹp nhất và bị ràng buộc nhất?

–  Sự mất quân bình của chúng ta: Thứ nhất, sự phát triển của ba lĩnh vực trên không đồng bộ: thứ hia, chúng chia tách, ly dị nhau, không đối thoại với nhau, không biến thông với nhau. Nhà khoa học không đối thoại với nhà triết học, nhà kinh tế không đối thoại với nhà xã hội học, nhà chính trị không đối thoại với nhà đạo đức học, xã hội công dân không đối thoại với tôn giáo… Mỗi cái tự phát triển theo hướng pháp và đối tượng riêng, ngôn ngữ riêng của mình, cố tình chuyên biệt và độc lập theo nghề nghiệp riêng của mình. Từ con người đến xã hội, mọi sinh hoạt đều tìm cách chuyên biệt hóa, tìm cách đứng cô lập. Mọi người và mọi ngành càng lúc càng xa nhau, như những vì sao những thiên hà càng lúc càng xa nhau trong sự giãn nở của vũ trụ. Chúng ta không còn chia sẻ nhau một số phận con người, một tiếng nói chung của con người. Chúng ta cố tình chia tách, cố tình cô độc.

Chuyên môn trong nghiên cứu khách quan không có gì là xấu, trái lại rất tốt. Nhưng chuyên môn hóa về mặt tâm lý, về mặt chủ quan, chuyên môn hóa “cái ta và cái của ta” là sự cắt đứt, sự cô lập với người khác và với chíng thế giới. Tóm lại, mỗi người bị gói gọn trong ‘cái ta và cái của ta’ và nghề nghiệp xã hội lại càng dễ dàng tạo thêm sự cô lập của ‘cái ta và cái của ta’ ấy. Đó là nguyên nhân của mọi cuộc chiến tranh, kể cả chiến tranh trong lĩnh vực ý thức học thuật, mọi sự bất hòa, mọi cuộc khủng hoảng.

Với hai điểm nêu trên, chúng ta thấy sự khủng hoảng tiềm ẩn trong xã hội, không thể ‘biến thông’, là do sự phát triển không đồng đều ba lĩnh vực và ba lĩnh vực không ‘thông’ được nhau. Sự khủng hoảng của xã hội cũng là sự khủng hoảng của từng con người. Chúng ta không phát triển đồng đều con người thân xác với các giác quan, con người tư duy với ý thức, con người tâm linh với siêu thức (mà Phật giáo gọi là tạng thức A – lại – da hay Như Lai tạng). Ba cái hiểu biết về ba phần cấu tạo nên con người ấy thì thiếu sót, không thông nhau, không hài hòa được với nhau, gây ra khủng hoảng, gây ra thiếu hụt, cụ thể là sự thiếu hụt hạnh phúc.

Sự phát triển hiện nay của con người là một sự phát triển phiến diện, không toàn diện. Con người hiện nay là con người phiến diện, một chiều. (Con người một chiều Herbert Marcuse (1898 – 1979). Điều đó không những không đem lại hạnh phúc, mà còn bất hạnh.

Nói theo ngôn ngữ của Tây phương (Gabriel Marcel và sau này Erich Fromm) con người có (avoir, sở hữu) rất nhiều nhưng là (être, hiện hữu, ‘sống’) rất ít. Chúng ta sử dụng ý niệm Có và Là này là theo tình huống đang bàn ở đây. Chúng ta có rất nhiều thứ trong thế giới vật chất, chúng ta cũng là, cũng hiện hữu rất nhiều trong thế giới vật chất. Chúng ta cũng có và cũng là thế giới ý thức tư duy (mà hiện giờ chúng ta gọi là trí quyển, noosphère). Thế giới ý thức tư duy này của chúng ta thì rất phân tán, không phương hướng, không chánh tư duy vì chỉ hướng đến những đối tượng tách biệt, cô lập. Chúng ta không biết và không muốn tư duy những vấn đề căn bản và cái nền tảng của cuộc sống con người. Thế nên càng tư duy thì chúng ta càng lạc lõng, càng mất phương hướng. Niềm kiêu hãnh của con người là biết tư duy, thế nhưng tư duy của chúng ta đã phản bội lại chúng ta. Càng tư duy chúng ta càng nhát sợ, càng bế tắc, càng khổ đau. Điều trầm trọng nhất là chúng ta không chịu và không dám khai phá, khám phá thế giới tâm linh ở trong chúng ta, cũng là một thành phần của con người chúng ta. Chúng ta không tin nổi rằng trong suốt lịch sử nhân loại, luôn luôn có những khám phá ra thế giới ấy, dù ít dù nhiều, và họ hạnh phúc. Chúng ta không có, hay có quá ít và không là, không hiện hữu trong thế giới tâm linh. Đời sống chúng ta không toàn diện, chúng ta khuyết tật, chúng ta thiểu năng, và đây là nguyên nhân của mọi khổ đau, thay vì hạnh phúc.

Chúng ta có rất nhiều thông tin về thế giới vật chất, nhiều thông tin manh mún (như phân tâm học…) về thế giới tâm lý của con người, nhưng chúng ta thiếu, rất thiếu cái thông tin nền tảng, cái thông tin tối hậu: Tự bản chất con người là gì? Ở đây, sử dụng danh từ ‘thông tin’ không phải là lạm dụng hay cố tình hiện đại hóa đâu. Ngày xưa trong Thiền tông vẫn gọi người nào đã thông đạt đến thế giới tâm linh ấy là “ y đã có tin tức, y đã biết tin tức” (về cái tối hậu ấy).

Vấn đề rất giản dị với tất cả chúng ta. Như kinh Dịch đã nói: “Càn dĩ dị tri, Khôn dĩ giản năng”. Càn Không, Trời Đất vũ trụ sinh ra mọi thứ và muốn hiểu chúng thì lấy ‘giản dị’ mà biết mà hay. Huống gì chúng ta có một truyền thống ‘con đường’ từ cả gần hai thiên niên kỷ nay.

Khổng Tử đã nói: “Ngô đạo nhất dĩ quán chi”,  đạo ta lấy cái Một mà suốt thông tất cả. Ở trên trong kinh Dịch chúng ta cũng thấy nói đến Một Trí, Nhất Trí, Ước ao của con người là hợp nhất, là một với thế giới vật lý với vũ trụ và là một với thế giới con người. “Anh em như thể tay chân”. Thánh Paul nói: “Chúng ta là chi thể của nhau”. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả là Một, Một là Tất Cả”.

Không còn con đường nào khác để có Tất Cả và là Tất Cả. Không còn con đường nào khác để có và hiện hữu trong bình an, trong hòa bình, trong lạc phúc. Không còn con đường nào khác để thực hiện văn hóa, để khỏi giết hại nhau, để khỏi trộm cướp của nhau (dù bằng những cơ chế kinh tế rất văn minh của thời hiện đại), để khỏi tà dâm làm xã hội rách nát, để khỏi nói dối lường gạt nhau (dù bằng những phương tiện thông tin công khai, phổ cập, dân chủ của thời hiện đại), để khỏi say sưa làm mê mờ tâm trí mà lầm lỗi với nhau. Không còn con đường nào khác để khỏi lập lại những khủng hoảng, để khỏi lập lại những sai lầm.

Cái Một là Tất Cả, Tất Cả là Một ấy chính là con người tâm linh, thế giới tâm linh đang hiện hữu trong mỗi chúng ta. Cái Một ấy, con người tâm linh ấy được gọi là Phật tánh trong Phật giáo. Chúng ta phải có (nghĩa là thể nghiệm, kinh nghiệm) và là (nghĩa là sống) cái Phật tánh này.

–  Sự quân bình của ba lãnh vực, ba thế giới vật chất, tâm thức và tâm linh là cơ sở của mọi nền văn hóa văn minh nhân loại xưa nay và cũng là cơ sở của ba nền văn hóa làm nền tảng cho thế giới hiện đại: văn hóa văn minh Hy Lạp và Do Thái – Thiên Chúa giáo của Tây phương, văn hóa văn minh Ấn Độ và văn hóa văn minh Trung Hoa.

Học là học cả ba lãnh vực đó, sống là sống cả ba lãnh vực đó. Có điều kỳ lạ và bất thường là hiện nay trên thế giới chúng ta chỉ được dạy rất nhiều kiến thức, rất nhiều kỹ năng và cách thức để hiểu biết và hưởng thụ đời sống vật chất, đời sống này lại y cứ vào một thế giới ý thức tư duy chỉ biết quanh quẩn trong vòng các sự vật và sự việc danh tướng. Lấy một ví dụ, chúng ta chỉ được dạy làm sao để sống cho được nhiều cảm giác, nhiều tư tưởng, nhưng còn cái chết, một hiện tượng tất yếu phải xảy ra cho chúng ta thì chúng ta không được biết làm cách nào để đối diện và xử lý nó. Người Việt Nam hay nói ‘sống gởi thác về’. Nhưng sống thì gởi gắm cho cái gì, gởi ở đâu? Và thác thì về với cái gì, về nơi đâu? Chúng ta không biết. Sự khủng hoảng đã nằm ngay trong mỗi chúng ta.

Ở đây, nói lướt qua về việc học. Mà không chỉ có học. Người xưa nói học tập (học và tập làm theo), học hành (học và thực hành). Ấn Độ chia cuộc đời người làm 4 giai đoạn, tương đương với Trung Hoa là đời người có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông.

– Giai đoạn brahmacarya (phạm hạnh): học ở đời và học đạo. Học để trưởng thành một công dân xã hội và hiểu biết dù là lý thuyết về lĩnh vực tâm linh. Với Phật giáo, học để biết định luật nhân quả quy định cuộc đời, hành động tốt hay xấu đều gây ra nghiệp tốt hay xấu, học về con đường đưa đến thực tại tối hậu, học về những phẩm tính căn bản để làm người là giới định tuệ, những đức tính tốt cần phải trau dồi để thành con người tiến hóa, trưởng thành… Đời nay, ngoài vị thầy dạy ở trường, cần có vị thầy dạy đạo. Có thể gọi giai đoạn này là giai đoạn học hỏi, từ lúc biết học đến lúc thanh niên.

– Giai đoạn làm người chủ gia đình grahastha, giai đoạn vào đời, lập gia đình. Ngoài việc chu toàn trách nhiệm gia đình và xã hội, người chủ gia đình này còn biết hướng dẫn tâm linh cho vợ con mặc dù sự hướng dẫn này chỉ ở cấp độ văn hóa chứ không nhất thiết là ở cấp độ tâm linh thực sự: biết làm những nghi thức hành lễ trong gia đình, biết thiền định, cầu nguyện… Biết sống một đời sống mang ý nghĩa tâm linh, nghĩa là mang tính chất thiêng liêng: đám cưới, sinh con, kỵ giỗ, lễ lạt… Tính chất tâm linh này gắn với sinh hoạt hàng ngày từ trong công việc kiếm sống, tiền bạc, sự nghiệp cho đến sống với vợ con… Tóm lại, người chủ gia đình phải “trụ trì” gia đình của mình và cân bằng đời sống vật chất và đời sống tâm linh bằng cách thực hành những pháp môn đã học trong giai đoạn đầu.

– Giai đoạn từ từ rút lui khỏi việc đời, việc xã hội mà bây giờ gọi là ‘về hưu’ vanaprastha. Nghĩa đen là “đi vào rừng”: tìm ra con đường tâm linh đích thực của mình để chuẩn bị cho đời tới.

– Giai đoạn sanyas: như một tu sĩ, khất sĩ chăm lo cho sự giải thoát của mình. Cũng gọi là giai đoạn trần truồng: con người vào đời trần truồng như thế nào thì ra đi nó cũng phải trần truồng như thế. Khi có một đời sống tâm linh khá thiết thực, khá thực tiễn, người đó sẽ biết làm sao để ra khỏi cuộc đời này một cách bình thảnvà chủ động.

Dĩ nhiên đây là sơ đồ tổng quát của một cuộc đời bình thường. Có những người chuyên về đời sống tâm linh hơn, có thể bỏ qua hay sống rất ít trong giai đoạn gia đình xã hội. Họ là những vị thầy dạy đạo.

Chúng ta chớ quên rằng, Trần Nhân Tông, thần tượng của toàn bộ lịch sử Việt Nam, con người lý tưởng chân thiện mỹ của toàn bộ văn hóa văn minh Việt Nam, là một người sống cuộc đời mình đúng theo bốn giai đoạn ấy, đúng theo pháp của một con người, mà mỗi giai đoạn đều trọn vẹn và đẹp đẽ – tròn và đẹp đến chảy nước mắt.

Ba nền văn hóa văn minh làm nền tảng cho thế giới hiện đại đều tìm cách quân bình sự phát triển con người ngay từ bước khởi đầu của cuộc sống. Chính sự phát triển quân bình này đem lại cho con người hạnh phúc, hạnh phúc vì được sống một cách toàn diện và trọn vẹn. Hạnh phúc, đó là điều giản dị: được sống bằng tất cả con người mình, nghĩa là sống bằng tất cả con người thật gồm ba lĩnh vực của thân tâm mình.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 70

(Visited 135 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Nguyễn Thế Đăng, Quan điểm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *