ẨN NGỮ   ( L`ÉNIGME ) | ALBERT CAMUS – BÙI GIÁNG dịch  ( Tạp Chí Văn Hoá Phât Giáo 20 ) --- ALBERT CAMUS – BÙI GIÁNG dịch"/>

Ẩn Ngữ

| 17/10/2012 | 0 Comments

 ẨN NGỮ   ( L`ÉNIGME ) | ALBERT CAMUS – BÙI GIÁNG dịch  ( Tạp Chí Văn Hoá Phât Giáo 20 )

LTS : Từ giữa thập niên 1960, Albert Camus ( 1913 -1960 ), văn hào, triết gia người Pháp, An ngu - Bui giangNobel văn chương 1957 đã đến với độc giả Việt Nam qua sự chuyển ngữ tài hoa của thi sĩ Bùi Giáng. Kỷ niệm 8 năm ngày mất của Bùi Giáng ( 8/1998-8/2006 ) VHPG xin công bố và giới thiệu dịch phẩm Ẩn ngữ , một tiểu luận quan trọng của A. Camus đến với quý độc giả.

Ẩn ngữ (L`énigme) được in trong tập Noce –L`été do NXB  Gallimard ấn hành năm 1970 (Di cảo Bùi Giáng ,  1955) .

 Rụng rơi xuống từ chóp đỉnh bầu trời, những triều sóng ánh sáng nhảy tung lên một cách hung bạc vô tình trên cánh đồng ở chung quanh chúng tôi. Mọi vật câm lặng trước những lừng lẫy nổ vang ấy, và dãy Lubéron xa xakia chỉ là một khối bự im lặng và tôi lắng tai nghe liên miên không ngớt  Tôi vểnh tai chăm chú, người ta đang chạy về phía tôi, từ cõi xa xăm vô tận, những người bạn thân vô hình cất tiếng gọi tôi , nỗi vui tôi lớn mạnh , cũng cái niềm vui đó đi về đã từng bao năm. Phen này, phen nữa, một ẩn ngữ dịu dàng phơi phới tốt lành giúp tôi hiểu hết mọi sự .

Đâu là cái phi lý hỗn độn của cõi đời? Ấy là trận huy hoàng chói lọi rực rỡ kia, hay là kỹ niệm cuộc khiếm diện lạnh vắng của huy hoàng ?Với xiết bao ánh nắng mặt trời trong ký ức , làm sao tôi đã có thể đánh cuộc trên cái vô nghĩa phi lý tồn sinh ?Người ta lấy làm lạ với mình về sự đó . Tôi ắt cũng có thể đáp rằng , và tự đáp cho mình ràng ,chính cái ánh nắng mặt trời đã từng giúp đỡ tôi trong chuyện đó , và cái ánh sáng của mặt trời , vì quá lâu dài thâm hậu , nên nó làm đông đặc vũ trụ kiền khôn , và những hình thể của vũ trụ kiền khôn trở thành đặc quánh trong một cuộc choáng váng chói lòa  u ẩn tối tăm mờ mịt . Tuy nhiên chuyện ấy , sự tình ấy , có thể được nói ra một cách khác , và tôi ắt muốn –trước làn ánh sáng vừa trắng và vừa đen ây , đối với tôi từng đã luôn luôn là làn ánh sáng của chân lý –vâng , tôi ắt muốn tự giải thích với mình một cách giản dị về sự phi lý oái oăm kia của cuộc đời mà tôi biết quá rõ thì làm sao chịu nhẫn nại chấp nhận người ta luận bàn tới nó một cách quá sống sương , không sắc thái lung linh . Nói về cái phi lý , đáo cùng tóm lại , sẽ dẫn ta trở lại với ánh sáng mặt trời .

Không một kẻ nào có thể nói được mình là cái gì . Nhưng cũng có thể xảy ra cái việc là người ta nói được cái điều : mình không phải là cái gì . Một kẻ đương còn dò dẫm tìm kiếm . Người ta lại muốn rằng nó nó đã kết luận , kết thúc , bày tỏ ý kiến xong , bày tỏ lập trường xong . Ngàn lời lô xô , xao xác đã báo biểu cho y cái điều y đã tìm thấy được rồi , mà thật ra , y biết , ấy chẳng phải là cái ấy . Cứ hãy tìm kiếm đi  và để mặc cho thiên hạ nói ? Tất nhiên ! nhưng thỉnh thoảng đôi phen , cũng cần phải đôi lúc lên tiêng tự biện giải , tự biện minh , xác minh mình thật sự đã nói cái gì . Tôi , tôi không biết cái tôi tìm kiếm , tôi gọi tên nó ra với giọng e dè , ngại ngùng , thận trọng , tôi chối bỏ lời tôi nói ra , tôi  lặp  lời nói tôi đã nói , tôi bước ra và tôi bước lui , ( tôi tiến tới và tôi thoái lui ) . Thế mà người ta lại mệnh lệnh cho tôi phải nêu danh , phải xưng to những tên tuổi , hoặc cái tuổi cái tên này này , nọ nọ , kia kia , một lần cho muôn năm dứt khoát . Lúc bấy giờ tôi nổi cơn trở chứng , tôi nhảy lồng lên , như bực bội ngựa chứng lồng lộn ; cái gì đã được đặt để , gọi tên , cái ấy há chẳng là mất hút chia xa . đi đời nhà ma vốn liếng ? Dù sao . ít nữa đó cũng là điều tôi gắng gượng nói ra .

Nếu tôi tin lời một trong những ngời bạn thân thiết của tôi , thì một con người ta bao cũng có hai tính khí khác nhau , một tính khí của y và môt nữa là cái tính khí , tính nết , tính tình mà người vợ của y gán ghép cho y vậy . Chúng ta hãy thử thay thế tiếng người vợ , đem cái tiếng nói người vợ đổi ra thành tiếng xã hội thì ắt chúng ta sẽ hiểu rằng một dụng ngữ , được một nhà văn gắn ghép vào toàn thể văn mạch một cảm thụ tính , vâng , một dụng ngữ có thể bị cô lập đớn côi như thế nào bởi một bài bình luận ráo riết mà người ta đem biến tác nó ra , và trình bày với tác giả dụng ngữ ấy mỗi phen tác giả ấy  có ý muốn nói về chuyện khác . Lời nói cũng hầu như hành vi : “ Đứa bé này phải chính anh đã cho nó ra đời ? –Phải – Thế thì nó là con của anh – Đâu có phải đơn sơ giản dị xiết bao như thế , đâu có phải giản dị xiết bao như thế !” . Cũng vậy đó , Gérard de nerval trong một đêm tối , tối mò mò , xấu xí đen thui , Nerval đã hai lần thắt đi thắt lại chiếc cà –vạt của mình để tự treo cổ mình chơi 1 . Tự treo cổ hai lần , một lần vì mình , cho mình trước hết , là kẻ đang sống trong tai họa , và sau đó treo cổ mình là cho cái huyền thoại sự tích đời mình , cái ấy có thể giúp cho một vài kẻ sống còn , được tiếp tục hoạt tồn trong cuộc lẽo đẽo bịch bồ với lả tả tồn sinh . Không kẻ nào có thể viết về tai họa thực sự , tai họa chơn chính , và cũng không thể nào viết được về một vài hạnh phúc nào đó , và tôi cũng sẽ không thử làm cái cuộc gay cấn ấy nơi đây . Nhưng còn đối với cái sự tích huyền thoại , người ta có thể mô tả nó và hình dung tưởng tượng , ít ra là một phút, và người ta đã làm tiêu tán nó đi .

Một nhà văn viết phần nhiều là để được người ta đọc ( những kẻ nào nói điều trái ngược lại m ta hay ca tụng và ngợi khen họ , nhưng đừng tin ) . Tuy nhiên , càng ngày càng nhiều hơn , ở xứ ta , nhà văn viết là để được chuẩn nhận cuối cùng là viết để khỏi được đọc . Thật vậy , khởi từ cái lúc y có thể cung cấp tài liệu cho một bài báo kiều diễm tưng bừng trong một tờ báo bán chạy như tôm tươi , in ra hàng vạn bản , thì bấy giờ y có được mọi vận hên ( may mắn ) để cho một số khá đông người biết đến , một số đông đúc , chẳng bao giờ sẽ đọc sách của y , bởi vì cai đám đông ấy chỉ cần biết tới tên của y , và đọc những gì người ta viết về y . Thế là quá đủ . Từ đó về sau , y sẽ được người ta biết tới ( và được quên đi ) không phải được biết theo như y là y , mà được biết theo như cái hình ảnh mà một nhà báo gấp gáp đã phác họa về y vậy . Thế là từ đó , muốn có một cái tên trong hàng ngũ những kẻ làm văn chương , văn học thì chả cần thiết gì phải thiết tha viết sách . Chỉ cần được thiên hạ biết rằng mình đã từng có xuất ban một cuốn mà báo giới nhiều hôm đã từng có nói tới , và về sau thiên ha sẽ gối đầu thiu thiu trên cuốn sách ấy mà ngủ yên một giấc rất mực u nùng .

Hẳn nhiên cái cuộc nổi danh kia , hoặc to bự , hoặc bé tí , có ngày sẽ bị tiếm đoạt . Nhưng biết sao bây giờ ? Chúng ta hãy nên hân hoan chấp nhận rằng cái tình trạng bất tiện khó chịu kia cũng có thể trở thành hữu ích , tốt tươi , tròn xoe tơ cỏ , mủm mỉm một lời vâng tạc thủy chung đá vàng . Các vị lương y biết rằng một vài chứng bệnh rất mực đáng được nên chào đón niềm nở : chúng  đền bù m bồi đắp , bổ chính –theo lối của chúng- cho một cuộc lộn xộn hỗn loạn cơ năng của cơ quan trong thân thể ; nếu thiếu những chứng bệnh lai rai kia , thì cuộc hỗn loạn nọ ắt sẽ biểu hiện ratrong những trận hỗn độn mất quân bình lớn lao hơn nữa . Vì vậy , có những chứng đau bón quý hóa xum xuê tươi tốt , những chứng thống phong kiều diễm thiên hựu , cho trời ban cấp cho . Trận hồng thủy ào ào những lời , những tiếng , dồn dập những âm thanh chữ nghĩa , và những xét đoán vội vã đang nhận chìm đắm đuối mọi hoạt động công cộng trong một đại hải những tầm phào rỗng tuếch phù bạc , vâng , trận hồng thủy ấy ít nữa cũng dạy cho nhà văn nước Pháp một sự khiêm tốn , khiêm nhu , khiêm nhượng , rất mực cần thiết liên miên ra phết , ra trò , càn thiết cấp bách lắm ở trong một xứ sở , mà mặt khác , thuong72 hằng cấp cho nghề nghiệp mình một sự quan trọng quá đáng ( bất tương xứng ) . Nhìn thấy tên tuổi mình trong hai hay ba tờ báo ta vốn quen biết nhiều , đó cũng là một cuộc thử thách quá gian nan lảo đảo , nên cũng từ đó mà nó cũng bị bó buộc tất nhiên phải đùn đẩy cho ta một vài lợi nhuận cho linh hồn , cho trí tuệ thướt tha . Vậy thì ta hãy ca ngợi tán dương cái xã hội đó đã dạy cho ta hằng ngày – với chút ít tiền thù lao công phí tổn – cái xã hội liên miên dạy cho ta biết – ngay cả với những lời tán tung kính yêu – rằng những vẻ vang đồ sộ được chào mừng hoan nghênh nhiệt liệt , vẫn chẳng ra cái gì ráo ráo . Những ồn áo ầm ĩ mà xã hội ấy tạo nên , càng nổ bùng mãnh liệt bao nhiêu , càng tiêu tán nhanh chóng bấy nhiêu . Chúng nhắc ta nhớ lại cái loại lửa rơm , lửa rác mà hoàng đế Alexandre Đệ lục thường cho đốt trước mặt ông ta để đừng lãng quên rằng mọi vinh quang lộng lẫy ở cõi đời này cũng tỷ như là một làn khói bay qua .

Nhưng thôi  hãy xin để cuộc hài hước mỉa mai lại đó . Đối tượng của chúng ta chỉ cần chiếu cố , chỉ mong muốn nói rằng , một nghệ sĩ đành phải cam chịu một cách thoải mái thong dong , chấp nhận dể kèo lê thê , lết bết trong những lần đợi của các nha sỹ , và các thầy hớt tóc , chấp nhận cuộc kéo dài ra dậm duộc một hình ảnh của mình . mà mình tự biết rằng mỉnh không xứng đáng . Và thế đó, tôi có biết một nhà văn hợp thời , thích thể , đương nhân , đảm thần , cưu mang thánh thiện , được thị hiện là một kẻ thường hằng chủ tọa hằng đêm ( mỗi tối ) , những  hội yến ẩm nhậu nhẹt lu bù , nghi ngút khói hương , nơi đó những nữ thần kiều diễm vận y phục ồm toàn bằng duy chỉ bộ tóc lòa xòa xuống khắp hình hài thân thể lưu ly , và nơi đó những vị thần đực rựa có những móng vuốt móng tay khốc hại lâm ly . Người ta ắt rất có thể tự hỏi thiết tha hẳn nhiên , như thế thì nhà văn ấy đã tìm tòi đầu ra cái thời giờ để viết nên , để thảo ra một sự nghiệp văn chương gồm những tác phẩm choán đầy những ngăn tủ sách của thư viện . Nhà văn ấy cũng như rất nhiều bạn đồng nghiệp của mình , thật ra ban đêm ngủ kỹ để hằng ngày làm việc ở bàn giấy rất nhiều giờ dài dằng dặc , và chuyên môn uống nước khoáng tuyền để làm cho nhẹ bớt việc của lá gan lục đục hí hục đẽo gọt lẽo đẽo quanh năm . Thế cũng chẳng ngăn cản được người Pháp trung lưu , vốn nổi tiếng về tính đạm bạc trong cái ăn cái uống , như cư dân sa mạc Sahara m và lừng danh về cách ăn ở sạch sẽ rất mực , đến điều mọi rợ dã man . Người Pháp bậc trung ấy lại nổi cơn bất bình khi nghĩ rằng một trong những nhà văn nước ta dạy rằng phải đắm đuối say sưa rượu chè và đừng có nên tắm rửa hình hài , đừng có nên rửa ráy thân thể . Những thí dụ chẳng thiếu gì , kể làm sao cho xiết . Riêng bản thân tôi cũng có thể cung cấp một phương cách tối ưu tú lệ , tiêu hao rất ít phí tổn mà đón nhận ra phết một tiếng tâm khổ khắc nghiêm hàn nghiệt ngã , đìu hiu đăm chiêu ra phết . Quả thật tôi mang chở cái khối nặng nề của tiếng tăm kia , nó khine61 bạn hữu thân thiết của tôi cười lên nức nở ( còn tôi , về phần tôi , thì tôi lại ngượng ngùng xấu hổ , tôi thẹn đỏ mặt lên , vì cái tiếng tăm đó , cái tăm tiếng tôi chiếm đoạt từ đâu , và tôi biết rất rõ ) . Thí dụ như chỉ cái khước từ cái vinh dự được dùng bữa ( bữa tiệc )với ông giám đốc một tờ nhật báo mà mình không nể trọng bao nhiêu . Cái lễ tiết đơn sơ quả thật không thể nào hội nhập hình dung được , nếu không có chút chứng tật ru rú quẹo quanh của linh hồn . Không một ai có thể có chút chút chịu khó cỏn con để nghĩ rằng nếu anh từ chối bữa cơm tiện của vị  giám  đốc kia , thì ấy cũng có thể rằng là quả thật bởi vì anh không nể nang quý trọng ông ta , nhưng cũng có thể rằng là bởi vì anh sợ nhất , sợ số dzách ở đời là cơn cuộc chán chường của tâm hồn anh chán ngấy – và thử hỏi còn gì ở đời đáng chán cho bằng một bữa cơm tiệc rất mực Ba-Lê –thịnh-triều –phong-vận ? với những đú đởn cò ke ngữ ngôn thiệp liệp phong nhã hào hoa ?

ALBERT CAMUS – BÙI GIÁNG dịch

( Xem tiếp VHPG số 21 )

(Visited 156 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Albert Camus, Bùi Giáng, Dịch Thuật, Truyện Ngắn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *