Chị Tuyết

| 10/04/2013 | 0 Comments

TRẦN VĂN THƯỞNG | Tạp Chí Văn Hoá Phật giáo số 11
chi-tuyet-Những cơn mưa chưa thấm đất ở Saigon vào mùa này làm cho tôi nhớ đến vùng cao quê hương da diết. Bây giớ đang là tháng Tư, nghĩa là miền cao nguyên sắp bước vào mùa mưa. Những trận mưa chuyển mùa không đủ để thối đất, lở đồi nơi núi rừng mà chỉ vừa giăng mắc cho nỗi buồn đậu lại. Bây giờ đang là tháng Tư, nghĩa là còn quá một tháng nữa gia đình tôi di cư vào Nam. Như vậy đời tôi có đến ba  quê hương. Từ miền xứ Quảng dạt lên An Khê cao nguyên. Nay lại thiên dời vào thành thị. Trong ba nơi, không biết nơi nào nặng nghĩa hơn, nhưng có một điều chắc chắn rằng, tôi sẽ không bao giờ quên miền đất đã cột chặt thuở thiếu thời của tôi. Cũng như tôi không thể nào quên được niềm thương và lòng ăn năn mỗi khi ngoảnh đầu quay ề chốn cũ.

Tháng Giêng vừa rồi, ba của Đại đột ngột mất.Vừa từ Saigon về nhà ăn Tết, tôi nghe tin ấy ngay. Cha mẹ tôi giục :

– Con lên thắp vài nén hương cho bác Thứ  Khổ cho bác gái, nhà còn đông con .

Tôi ngỡ ngàng:

– Làm sao đến nỗi ấy, mẹ ?

– Bị sốt rét rừng. Bác ấy đi rẫy về nằm liệt giường đến non một tháng. Đi đúng hôm ba mươi Tết. Khổ thân, chắc chưa kịp cúng sao giải hạn.

Nhà tôi cách nhà bác Thứ non một cây số. Tôi ở thị trấn An Khê. Nhà bác Thứ ở xã Chí Công. Tôi và Đại hồi nhỏ học  chung lớp, chơi thân với nhau. Chuyện nhà Đại, tôi rõ lắm. Cả gia đình bác Thứ quý tôi như người nhà. Hồi còn sống, bác Thứ thường nói đùa với tôi rằng: “ nếu mày không chê, tao gả con Tuyết ch . Nhất gái hơn hai mà…”tính ra chị Tuyết hơn tôi hai tuổi. Bác Thứ bảo hai đứa tôi hợp nhau lắm. Hồi ấy tôi chưa nghĩ chuyện xa xôi, nên chỉ cười trừ

Lúc tôi lên thì đủ mặt cả nhà, chỉ thiếu mỗi Đại còn đi thăm rẫy chưa về.

Chị Tuyết ở dưới bếp lướt thướt đi lên:

– Đàm mới về ?

– Dạ…

Chị đi lên nhà trên sửa soạn đèn nhang cho tôi thi lễ. Đứng trước bàn thờ khói hương nghi ngút, tôi lặng người mặc niệm. Khuôn mặt cương nghị của bác Thứ trong bức ảnh thờ như đang hướng nhìn tôi chằm chặp.

Được một lúc thì Đại về  Mới một năm mà hắn già đi nhiều, cộng với nỗi buồn gia đình nên người hắn trông sụt hẳn. Dựng cuốc đằng chái nhà, chưa kịp rửa chân, hắn vào với tôi ngay. Hắn gật đầu chào, giọng buồn buồn:

– Mày mới về

– Ừ ! tao vừa thắp mấy nén hương cho bác.

Mặt hắn thừ ra. Hắn châm trà mời tôi. Lúc lâu, hắn bảo :

– Để chị Tuyết dọn cơm ăn. Tối nay mày ở đây chơi với tao.

– Ừ ! còn hơn tuần nữa  tao mới vô Saigon, lo gì .

Đoạn hắn quay sang hỏi thăm tôi:

– Dạo này trong đó sống ra sao?

– Cũng tạm tạm đủ sống qua ngày.

Mấy hôm sau, nghe lời mẹ, tôi về chùa cúng sao giải hạn. Tôi không tin mấy chuyện vận mạng, bùa quả, nhưng vì mẹ ép quá nên tôi cũng đi.Tháng Giêng, người ta đổ về chùa cầu tài lộc đông. Hôm đó, tình cờ tôi gặp chị Tuyết. Chị cũng về chùa cúng sao.Trước lễ đàn cầu an, chị cắp tay cung kính nguyện cầu. Khói hương tỏa nghi ngút. Tiếng chuông chùa ngân nga, tiếng mõ điểm đều nhịp cùng với lời kinh tụng niệm của sư thầy, trong cảnh thâm nghiêm, tất cả đượm một hương vị giải thoát, đưa con người lánh khỏi những buồn vui, hệ lụy nơi trần thế. Khi thành tâm, tôi mơi thấy hết ý nghĩa của việc lễ chùa. Nó không phải là một nghi lễ tầm thường mà là một triết lý của đời sống tâm linh.

Lúc hạ lễ, tôi thấy chị Tuyết đứng nhìn quanh quất như ngóng tìm ai. Tôi tới chào :

– Chị về một mình?

– À ! Đàm hả? khi nãy chị đi quá giang xe của ông Bảy ở gần nhà. Mới thấy đây, không biết đi đàng nào rồi.

– Hay tôi đưa chị về ?

– Phiền Đàm quá. Để môt chặp chị về cùng ông Bảy.

– Chị khỏi phải ngại. Tôi đi có một mình

– Ừ! Vậy cũng được

Đêm mùng Bảy, trăng non mọc hững hờ như một thiếu nữ đang giận tình nhân. Tôi đèo chị đi trong màn sương đêm mờ mờ. Quá hai con dốc . Cả hai chưa nói lời nào. Chị ngồi đàng sau im lặng ngoan ngoãn. Môt chặp thì chị cất tiếng hỏi:

– Đàm có tin vào Trời Phật không?

– Tin, còn chị ?

– Chị cũng không biết nữa. Nhưng chị tin ở đời ai cũng có số kiếp.

Từ bé đến giờ chị chỉ biết cái nhà, vườn rau , chị ít khi đi ra ngoài. Bác Thứ và Đại thì lo cái rẫy, cái nương. Trên chị là một người chị lớn, đã có chồng con ở dưới xuôi. Chị Tuyết còn cả một đàn em nữa. Quanh năm, chị làm bạn với giếng nước, luống cải, liếp rau. Chị là viên ngọc quý trong gia đình bác Thứ. Chăm làm, hiền hậu nết na. Ở tuổi hăm lăm. hăm sáu chị vẫn chưa bị những nỗi cay nghiệt của cuộc đời xô tới. Chị mộc mạc như một nhánh lan rừng. Chị lại có vẻ đẹp tự  nhiên của hoa Pơ-lang càng mặn mà cái hương của núi rừng vào lúc cuối mùa. chị là hốn phách của miền cao nguyên này trong lòng tôi.

– Trăng mùng Bảy đẹp quá  Chị thảng thốt.

Tôi giật mình, khẽ ừ. Mái tóc chị quất vào lưng tôi thấm thía. Trời bắt đầu lạnh hơn. Áo tôi ướt thẫm. Tôi không biết đó là sương trời hay là mái tóc ướt sương phất vào lưng áo tôi.

Hai hôm sau, tôi lên nhà bác Thứ. Còn đúng hai ngày nữa tôi vào Saigon. Lúc ấy , cả nhà vừa ăn cơm xong , đang ngồi quây quần nhau trên giường. Đại vỗ vai tôi:

– Cố hữu lên đúng dịp lắm, tao có cái này.

Hắn đưa tay chỉ vào cái ghè rượu mới mang về từ làng dân tộc Ba Na Thượng. Hắn hóm hỉnh:

Của Giàng (Trời) đấy. Ek đi  uống đi) !

Chúng tôi ngồi sương sương với nhau bên bếp lửa hồng đã được bày đâu ra đấy. Tôi ngậm cần, kéo một hơi thật sâu. Vị chua chua, ngọt ngọt, hăng hắc cộng với hơi men nồng làm ấm lòng người khách quen. Người tôi ngây ngất. Hương vị cao nguyên hoang dã, đậm đà và nồng nàn đến khó quên.

Hứng lên, chúng tôi bắc cái ghế dài ra ngoài trời đêm. Trăng mùng Chín vừa khởi sự, ánh vàng nhòe lung ảo “Cho mày ngâm khí sương miền cao một đêm nữa để nay mai vào Saigon còn có cái để nhớ”.. Lúc lâu, Đại lại cất tiếng thở dài, cái kiểu tư lự giống hệt bác Thứ mỗi khi có chuyện gia đình đại sự.

– Đàm nè, là cố hữu thâm giao tao mới nói để mày hiểu bụng tao. Cái chuyện chị Tuyết ấy mà. Chặc, chị hy sinh cho cái nhà này nhiều quá, quên cả việc đi lấy chồng. Tao sợ, cứ dùng dằng mãi rồi lỡ thì, tội cho chị ấy.

Lúc ấy, không dưng, đúng, tôi không sao hiểu nỗi duyên cớ đẩy đưa mình nói ra ý nghĩ thiếu suy xét này:

– Hay là tao đến với chị Tuyết ?

Đại ngẫng đầu nhìn tôi chăm chăm, rồi hắn quay mặt đi “Chuyện tình cảm, lại là chuyện cả đời, không nên cưỡng ép. Tùy đấy, thì mày cứ liệu”.

Tôi lại nhắm mắt đưa chân đi tiếp:

– Tao thấy cái cảnh ấy cũng hay lắm. Nay mai tao sẽ xin về ở hẳn một tòa báo nào đấy. Sáng, chồng đến tòa soạn, chiều vui vầy cùng vợ con. Vợ có thể mở ngay một quán hàng buôn bán gì đấy. Cái cảnh hạnh phúc nhỏ nhen ấy thường hay gặp ở các tay văn sĩ hồi trước.

– Đó là ý của mày. Thì đấy, mày cứ liệu tính.

Rồi hắn lầm rầm điều gì mà tôi không rõ, chỉ nghe lỏm được câu “… có vong linh cha chứng giám”.

Đêm trước ngày tôi rời miền cao, Đại xuống tiễn chân. Lần đi này có thể là vĩnh tuyệt. Sau khi đắn đo về chuyện  chị Tuyết, tôi thấy bất an, càng nghĩ, tôi thấy mình quá nông nỗi trong một giây phút bốc đồng. Cuối cùng, tôi phải đem tâm ý ra giải bày với Đại. Khó khăn lắm tôi mới thốt nổi mấy lời này:

– Đại à …cho tao rút lại lời hôm trước… Thực tình tao chưa muốn trói buộc.

Nghe tôi nói xong những lời như thế, Đại quắc mắt. Hắn nhìn tôi chết trân.Tính hắn rất nóng, xưa nay thế. Mặt hắn đỏ lừ. Hắn có thể ra đấm giáng vào mặt tôi. Nhưng hắn đã không làm thế, mà ngậm ngùi chua chát:

– Chính mày ngỏ ý, rồi cũng chính mày rút lời. Mày nhanh thay đổi quá.

Nói xong, hắn dứt khoát từ tôi. Mặc cho những lời phân bày nhạt nhẽo của cái thằng tôi hèn nhát. Đúng tôi là một thằng hèn, một thằng vô liêm  sỉ. Có phải thực sự tôi chưa muốn trói buộc, hay vì cuộc sống còn nhiều trắc trở nên tôi mới nhanh thay lòng, chưa đến mà đã vội đi ? Hay người ta bảo về lẽ người đời, bắt chim thì bắt chim đậu chứ ai cố đi bắt đàn chim bay. Cũng may là tôi chưa thổ lộ để chị Tuyết biết, không thì chị đã đau khổ nhường nào.

Chuyến đi vào Saigon hôm ấy thật u ám, nặng nề. Nhiều tháng trời trôi qua, tôi vẫn không làm sao trút được gánh nặng trong lòng. một niềm ân hận day trởi tôi không nguôi. Tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba, rồi tháng Tư… Những cơn mưa tháng Tư của trời Saigon ập xuống bất chợt làm tôi chạnh nhớ vể miền cao quê hương. Lúc này tôi thành tâm cầu mong sao ở nhà chị Tuyết sớm lấy chồng. Nhưng cứ thắc thỏm không biết chị có được hạnh phúc không ?

TRẦN VĂN THƯỞNG   ( Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 11 )

(Visited 109 times, 1 visits today)

Tags:

Category: Trần Văn Thưởng, Truyện Ngắn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *