Mộ gió

| 19/11/2015 | 0 Comments

Truyện ngắn | Trần Ngọc Hoàngmo gio

Cô gái như người mất hồn, đầu tóc rũ rượi, nét mặt căng thẳng, hai chân chôn xuống cát. Mắt đăm đăm hướng ra biển cả. Cơn bão đi qua lúc gần sáng. Gió vẫn đang thổi mạnh, man dại và điên cuồng, dồn mây đen vào tận những dãy núi trong đất liền. Phía đường chân trời, một màu hồng nhàn nhạt hiện ra trên nền sẫm đen, đục ngầu của sóng.

Sát mép nước, những chiếc thuyền đi lộng may mắn vào được bờ cũng bị sóng lật úp, chìm nghỉm rồi lại bị những con sóng khác quật lên để bây giờ trầm mình dưới nước như những tảng đá lầm lì. Cả trăm năm nay mới có cơn bão khủng khiếp như vậy. Khi thông báo của đài khí tượng loan đi, hung thần đã ập đến. Chỉ mấy tiếng đồng hồ mà biển trời tan tác, như sức mạnh của hàng ngàn quả bom vừa dội xuống. Hàng dương trước làng bị gió bẻ gãy, ngọn cây gục xuống bờ cát, nửa thân còn lại sắc nhọn xuyên thủng màn đêm lờ nhờ tối. Nhà ngói, nhà tranh đều bị bão đánh sập. Đàn bà, trẻ con nháo nhác chạy ra bờ biển.

Cô gái đứng yên trong tiếng khóc, tiếng gào của người dân đang nguyền rủa biển khơi. Sông vẫn chồm lên nhưng không đủ sức thét gầm như khi cơn bão vừa ập tới. Trăm con mắt đang đổ dồn ra chảo nước khổng lồ sùng sục sôi lên những đợt sóng trắng. Bao nhiêu năm nay dân làng ra khơi không có phao cứu nạn. Họ tin, biển là người bạn hiền hòa đáng tin cậy. Ngờ đâu. Cô đứng một mình, nơi những chùm muống biển phủ xanh dải cát trắng, lặng im như hóa đá.

Mặt trời yếu ớt, mệt mỏi nhô lên. Cơn bão đã thật sự đi qua. Đáng lẽ sáng nay chồng cô đã về đến bến. Một ngày đi, hai ngày đánh bắt, một ngày về. Cô chỉ xa chồng đúng bốn ngày. Bao giờ cũng vậy. Mỗi lần đứng trên bãi cát chờ đợi con thuyền của chồng, cô luôn bắt gặp những tia nắng đầu tiên, thanh sạch và êm dịu của mặt trời. Cả những con sóng mơn man hôn lên chân cô. Tim rộn lên, cô mỉm cười khi bóng chiếc thuyền nhỏ có chàng trai ngực trần đứng trước mũi đưa chiếc khăn màu đỏ phất lia lịa vào không gian. Thế mà sáng nay, cô không dám đứng gần con sóng. Nó thô bạo dữ dằn và độc ác như vòi bạch tuộc chực kéo cô xuống biển. Còn mặt trời, yếu ớt và bệnh hoạn, những tia nắng lạnh lẽo như vừa phải đi qua một vùng biển chết.

Bến cá không một chiếc thuyền neo đậu, hoang lạnh đến ghê người. Những con thuyền bị nhận chìm, mỗi lần sóng rút xuống lại hiện ra những chiếc cột sắt, lắc lư trên mặt nước như những người chết đuối đưa tay ra cầu cứu. Trong tâm trạng rối bời, những cặp mắt trên bờ bị đóng đinh hướng ra ngoài khơi, chờ đợi sự trả lời của biển cả.

Mặt trời càng lên cao, mây đen bị gió xé vụn, tan tác và biến khỏi bầu trời, ánh nắng chói chang, nhức mắt. Cô thấy tim mình như bị ai bóp chặt, ngột ngạt trong nắng hanh hao. Bồ cát đang lặng lẽ gom góp những gì biển trả lại cho bờ. Ván thuyền vỡ vụn. Dăm bảy tay chèo. Vài chiếc dép tông. Những mảnh áo quần rách nát. Sự sống trên biển đã bị cơn bão nghiền nát. Cô nhắm mắt, đầu óc quay cuồng tê dại. Gần trưa, ai đó đội lên đầu cô chiếc nón, dúi vào tay cô mấy củ khoai luộc. Trên bãi cát cách chỗ cô đứng không xa, tiếng khóc than đã bắt đầu lắng xuống. Những nấm mồ bằng cát đã được đắp lên và những nén nhang đầu tiên cháy đỏ trong nắng. Không ai hy vọng thân nhân của mình sống sót trở về…vậy mà họ vẫn đứng đợi.

Xế chiều, mẹ cô lặng lẽ bước đến bên con. Người phụ nữ ấy chưa già, khuôn mặt sạm đen và gầy guộc ngồi bệt xuống bờ cát. Trong con mắt sâu trũng của bà, hình ảnh những con thuyền quen thuộc chợt hiện lên, đang từ từ tiến vào bờ. Cũng như con gái mình, bà đã có bao tuổi chiều tiễn con thuyền ấy đi trong hoàng hôn cháy đỏ và những bình minh ra đón thuyền về. Bà không dám nói rằng cha con, chồng con sẽ mãi mãi không trở về. Con thuyền tưởng tượng trôi dần vào bờ. Bà hốt hoảng khi mũi thuyền cứ nhằm thẳng vào bà. Bà lùi ra, lùi ra. Con thuyền cứ lướt tới, trườn lên người bà làm bà ngã xuống. Bà chợt tỉnh và nhận ra, một cơn gió mạnh vừa ập đến làm rối tung mái tóc sương nắng của bà, xô bà ngã xuống. Trước mắt, vẫn những con sông cuồng điên đập mạnh vào bờ. Những điều bà định nói với con cũng tan theo những con sóng ấy.

Đêm ấy, cô gái đứng một mình trên biển. Có lúc thiếp đi, tiếng sóng vỗ vào giấc mơ. Một chiếc thuyền đang băng băng trên sóng. Gió mang đến mùi mồ hôi trên chiếc áo nhuộm đầy sóng gió của chồng nàng. Ôi, mùi mồ hôi quen thuộc quá! Có lúc sóng ào ạt làm nàng thức giấc. Giấc mơ nối quá khứ với hiện tại làm nàng tin rằng, chồng nàng đang ngoài biển rộng. Anh ấy sẽ về, sẽ về…! Cũng như trong câu chuyện ngày xưa ông nội vẫn kể, không có ai chết trên biển. Họ không về vì đã ở lại với thủy thần. Họ ở dưới thủy cung, trong những lâu đài vô cùng tráng lệ. Linh hồn của họ hòa vào linh hồn của biển, làm nên những điều thiêng liêng của biển. Nghĩ như vậy, nàng bước đi, tiến về phía những cây nhang đang bập bùng cháy trên những ngôi mộ cát. Đó là một tục lệ cổ xưa buồn bã. Mỗi một ngôi mộ tượng trưng cho một người chết. Không, không có ai chết ngoài biển. Từ ngàn đời nay, bao nhiêu người của làng chài nhỏ bé này đã ở lại với trùng khơi. Họ đã trở thành bất tử. Cô nghĩ vậy và cào bằng những ngôi mộ ấy, vứt những cây nhang đang cháy dở xuống biển.

Sáng sớm, sóng nhẹ dần. Gió từ đất liền thổi ra. Những người đàn ông sống sót trở về đang vớt những con thuyền bị đắm gần bờ. Khi trời sáng rõ, tiếng những người đàn bà ré lên:

-Mộ, mộ của chồng tôi, của con tôi đâu rồi…?

-Ai đã phá mộ ông tôi…!

-Cả của em tôi nữa…!

Nhiều tiếng thét, tiếng la rộn lên. Người ta chạy ngược chạy xuôi, thông báo cho nhau cái tin dữ dằn, kỳ lạ ấy.

Trong một đêm, hàng chục ngôi mộ cát đã biến mất. Người ta oán thán đổ tội cho thủy thần. Trong phút chốc, những ngôi mộ mới lại được đắp lên và khói hương thơm thoảng bay đến chỗ cô đang đứng.

Người mẹ không khuyên được con mình về nhà nhờ người dựng cho cô chiếc lán nhỏ bằng lá dừa che nắng. Cô biết, chung quanh mình có tiếng người, tiếng lá dừa sột soạt nhưng tâm tưởng của cô để ngoài khơi. Một ngày không ăn uống, da mặt cô tái xanh, tóc rối lên, trông mệt mỏi nhưng không có dáng ủ rũ. Niềm hy vọng chồng nàng sẽ trở về chưa hề biến mất. Mặt biển bình yên, biếc xanh trước mặt lại cho cô một tia hy vọng mới, mơ hồ như ngọn gió vừa chớm nổi. Cô ngồi xuống, hai tay chống cằm, mắt đăm đăm hướng vào sa mạc xanh vô tận.

Rất nhiều người đến trên bờ biển. Bên cạnh tiếng kêu khóc là những giọng nói chắc nịch, khỏe khoắn của những người đàn ông từ nơi khác đến. Họ quyết tâm giành lại những gì mà cơn bão đã cướp đi từ những con thuyền đắm đã được kéo lên bờ. Máy thuyền được bão dưỡng. Trong làng, những túp lều tranh đã được dựng lên. Sự sống đang hồi sinh.

Ngày ngày những người đàn bà có chồng con chưa về gục đầu lên mộ cát. Nước mắt không còn, giọng khản đặc, họ đốt rất nhiều nhang, bờ cát trở nên mờ đục trước màn sương khói bay lên từ những ngôi mộ. Trước lúc ra về, người ta để lại cho người chết bát cơm và quả trứng. Có người mãi đến lúc trăng lên mới uể oải giã từ những nấm mồ mà họ tin rằng chồng họ đang nằm dưới đó.

Chỉ còn cô gái và bờ biển vắng ngắt. Không ai lay chuyển đươc cô. Cô đứng như hóa đá. Dân làng đồn đại, cô đã hóa điên và thêu dệt thêm bao nhiêu chuyện. Rằng, đêm đêm, hồn ma chồng cô bơi vào bờ, hai người ân ái với nhau cho đến khi tiếng gà trong làng gáy sang canh. Có người kể, xác chồng cô đã được cá ông đưa bào bờ và đã được chôn cất chu đáo ở một nơi không ai biết được.

Ngày thứ tư. Những ngôi mộ cát lại biến mất, kỳ lạ như trong chuyện thần thoại. Dân làng sinh nghi. Họ xì xào bàn tán. Đêm, họ cho người núp sau bụi duối. Khi sương xuống lạnh, trăng mờ nhạt sau dãy núi xa xa, một bóng người lặng lẽ bước ra từ túp lều của cô gái đi về những ngôi mộ. Người ấy dùng tay thoăn thoắt cào những đống cát. Tiếng chiêng, tiếng trống vang lên. Dân làng đổ ra bãi cát. Lúc đầu, họ tưởng đó là một bóng ma. Về sau, khi tiếng chiêng trống liên hồi mà bóng người vẫn không chịu biến đi, có người mạnh dạn tiến về phía ấy. Họ nhận ra cô gái:

-Tại sao cháu lại phá mộ cát?

Cô gái không đáp,tiếp tục san bằng những cồn cát. Nhiều người đến vây quanh cô.

-Nó điên rồi. Bố nó, chồng nó mãi đến hôm nay vẫn biệt tâm. Nó điên nên nó phá. Tội nghiệp nó quá…!

-Bảo với nó đừng có rồ dại. Ma nó nhận xuống biển đấy.

-Điên gì. Nó cố tình phá thì có. Trói cổ nó lại!

Cô gái nghe hết những điều dân làng vừa nói. Đầu cô hơi cúi xuống, trán ướt mồ hôi. Cô gạt mái tóc lòa xòa trên trán, chậm rãi bước đến bên cụ già cao tuổi nhất, lễ phép quỳ xuống. Giọng cô buồn rầu, thoáng trong tiếng gió:

-Thưa cụ, xin cụ hãy tha lỗi cho cháu. Cháu cúi đầu xin dân làng tha tội cho cháu. Những người bị sóng dạt sang đảo khác nay đã về hết. Còn bao nhiêu trai làng ta chưa về. Có cả chồng cháu nữa. Nhưng cụ ơi, ông nội cháu ngày xưa có kể, những người đi biển không về chẳng có ai chết cả. Họ ở lại với thủy thần, làm con thủy thần. Vậy có ai chết đâu mà đắp mộ. Cụ cho cháu hỏi, dưới những ngôi mộ ấy có gì…?

Những điều cô gái nói dân làng cũng được nghe kể lại. Không ai trả lời cô, dưới những nấm mồ đó có gì. Cụ già lúng túng. Con cụ, cháu cụ hai ba đứa chưa về. Cụ cũng hy vọng , cũng muốn tin những điều cô gái nói là có thật. Gió mơn man chùm râu của cụ. Cụ thảng thốt:

-Ông tin điều cháu nói. Nhưng tục lệ của làng ta nó vậy rồi. Thôi cháu về đi. Cháu ở ngoài bãi cát đã bốn năm ngày rồi. Về mà lập bàn thờ cho cha cháu, chồng cháu…!■

Mùa bão 2009

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 92

(Visited 217 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Trần Ngọc Hoàng, Truyện Ngắn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com