Tết gần… nhà xa

| 18/02/2017 | 0 Comments

LÊ  TỪ  HIỂN |

Tet-gan-Nha-xa

1. Sáng 23 giật mình tự tiễn

Sáng thức dậy. Một buổi sáng như bao buổi sáng… Vừa mở món quà quê Tết mẹ gửi, vừa cúi xuống màn hình điện thoại iPad bấm bấm quẹt  quẹt…  bỗng  cảm thấy rùng mình… gió se sắt cuối năm. Ngày tiễn ông Táo về trời. Mãi xa nhà cơm bụi… bếp lạnh. Chẳng biết mình có ông Táo không để mà tiễn. Mà có gì để tiễn, tiễn rồi có gì để mà báo. Chợt cảm thương Thi thánh Đỗ Phủ trong nghịch lý đời thường Vô gia biệt… Ừ nhỉ, Sống không nhà mà biệt – Sao gọi được là người

Nhìn vào trong gương, lại thoáng rùng mình. Tôi trong gương  hay là ai. Như Roquentin  – một miếng thịt bèo nhèo, không mắt không mũi. Gia đình, trường xưa, bạn cũ, cố hương… bao góc khuất chìm lấp lãng quên… sau những lập trình ngày ngày mưu sinh gói trọn trong vạch mã số. Tôi chỉ giỏi sắp xếp mọi dữ kiện theo cách tiện lợi hóa, tối ưu hóa đến  lãnh cảm. Không cho phép  mình nhạy cảm đa lụy, đa mang, đa nghĩa… tự sắp xếp, tổ chức những cái quanh mình mang tính nhân văn cổ tích hay tính triết học hiện sinh trừu tượng… đầy những  vu vơ, rối trí. Năm tháng cuộn trôi, cái đầu bị dạ dày kéo xuống, nếp nghĩ như viên bi trượt trên mặt kính. Mở mắt miệng không thể mỉm cười… cơn gió cuối năm dờn dợn buồn nôn. Mẹ ơi, Tết này con lại không về.

Sống giữa bạn bè lớn giữa bạn bè nay bè bạn ta đâu
Ngử
a mặt trời sao bao nhiêu đứa không về
Nhữn
g ý nguyện tím bầm mặt đất.

(Lê Mạnh Tuấn – Nghe trong giọt sương)

 

 2. Tất niên, nhớ cội mai gầy

Kế hoạch quý 1 đầu năm 2015 đã qua vòng khởi động, lăn nhanh. Vậy mà chú Dê Tết Mùi vẫn đủng đỉnh. Hoàng hôn lặng gom nắng dấu ủ sau những đọt lá, chờ giao nữ hoàng Đêm thắp sáng sao trăng. Cội mai gầy khuất ngõ nhỏ ngoại ô. Lặng lẽ dáng ai ngồi hong nắng, trong nắng chiều Xuân rơi rớt bên thềm… ngóng một nắng mai về… Mẹ ơi, đất phương Nam phóng  khoáng lắm nắng vàng, sao con gửi chút nắng vàng về ngoài ấy, mẹ ơi…

Quê hương là máu thịt, là hình ảnh thanh  đạm lắng lòng hóa khí tượng trong thơ. Quân tự cố hương lai – Ưng tri cố hương sự – Lai nhật ỷ song tiền – Hàn mai trước hoa vị? (Vương Duy – Tạp thi). Quê hương chỉ được phác gợi lại trong nỗi nhớ của người đi xa bằng một cành mai. Anh từ cố hương đến, chắc rõ chuyện quê nhà. Thấy cây mai gầy  đã đơm hoa chưa. Trong dáng mai gầy guộc, hồn quê nhà thoáng  gặp. Thi ảnh giản phác mà rưng rưng thần thái. Trống vắng trong một nét mai tâm tưởng – âu lo mà màu sắc hương thơm quê xa ùa về, lấp đầy hồn lữ thứ. Thơ xưa không nhằm tả cảnh, tả tình, nói sự… mà gợi tả cái tinh thần của cảnh-tình-sự dung hòa, nắm bắt lấy một nét tiêu biểu chứa đựng hồn, rồi dùng thủ pháp phác diễn dựa trên mối quan hệ thi và họa ngưng đọng chúng lại bất tử hóa trong một cái khung nhỏ bé. Thật bình dị mà đa thanh, bình đạm mà bền lòng.

Trong tâm thức Việt – những  đứa con phương  Nam quen thênh thang nắng gió – một lộc nụ gom ủ tia nắng cuối đông hé sáng báo tin xuân về… gọi dậy bao miền ký ức thơm hương. Thi Phật Vương Duy gọi tên bài thơ là Tạp thi, chỉ là Thơ vặt, một câu hỏi vu vơ… cây hàn mai trước cửa ấy đã nở hoa chưa… vậy mà bao ký ức xanh lặng thầm  trong tim xôn xao ùa về. Lòng rưng rưng những gương mặt quê mùa ruột thịt. Gió lao xao sóng sông quê bãi cỏ xanh ngồng cải vàng mượt nắng xuân thì. Tôi vẫn chưa gặp người ở quê vào mang món quà quê mẹ gửi…

 

3. Sóng xưa chiều nay phố nghiêng nghiêng

Đêm  cuối  năm  trăng  muộn  cuối  trời Nam. Hành phương Nam là tìm về đất sinh. Chẳng phải gian nan cực khổ lưu lạc khắp trên đất Bắc như cụ Nguyễn Tiên Điền ngày nào. Mọi đêm mệt ngủ vùi. Vậy mà đêm nay, hương trầm nhà ai, tiếng chuông chùa nào… vọng đến. Đêm trở mình thao thức một Xuân dạ xa xưa.

Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm? Tiểu song khai xứ liễu âm âm.

Mở cửa sổ căn phòng  bé nhỏ, lạnh lẽo… mà buồn trông, tìm kiếm, thu về… Chỉ là một màn đêm đen đặc lờn vờn bóng liễu âm u. Tìm đâu… chỉ là tiếng thở dài trong tâm tưởng. Đất thở trời nghe. Đêm xuân hay đêm trừ tịch. Gắng sống chờ bình minh. Giao thừa rồi có khác…

Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu – Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm. Mình chẳng phải lênh đênh chốn giang hồ, chẳng đến nỗi ốm đau bệnh tật… vậy mà sao cũng thật lênh đênh, thân xác mệt mỏi, tinh thần rã rời… Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà… Một chữ tùy gợi cái lạnh của gió, cái buồn của mưa đêm xuân… từ thẳm sâu cõi lòng nhất dạ thâm.

Khép cửa, khép mắt… vậy mà gió cứ thổi ơ hờ. Vầng trăng muộn cuối năm vờn sáng qua khung cửa. Bao năm xa nhà nơi đất khách, lệ rơi trước đèn. Nghìn dặm xa quê lòng chỉ còn biết gửi vào vầng trăng. Ky lữ đa niên đăng hạ lệ – Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm. Cái nghìn dặm xa quê vò võ trong một giọt mưa trăng. Liệu nhà mình có còn ngọn đèn dầu chong ấm Tết quê nhà.

Sóng trăng gợn sóng lòng. Nhớ con nước sông quê vỗ một tiếng sóng lạnh tiễn biệt cổ kim. Ai cũng có một con sông quê nằm sâu trong tiềm thức. Bất chợt đêm về, xuân tới, nghe tiếng sóng xa vọng về. Ai cũng có một tấc lòng riêng Nhất phiến đan tâm… sâu thẳm  tình quê…

Nhất phiến hàn thanh… Tiếng sóng lạnh của tấc lòng côi cút, bơ vơ… đứa con xa quê. Tiếng sóng tiễn biệt cổ kim, thu về một mối, níu giữ hồn người. Cái vang động của âm thanh cho lòng một tiếng Xuân – âm thầm – vượt thoát – đợi chờ…

Đời người như ngọn gió, tất cả đổi thay, chỉ có con sóng lòng quê như một hằng số lặng thầm. Hồi hương ngẫu thư (kỳ nhị) của Hạ Tri Chương gợi lên một ngọn  xuân phong – ly biệt gia hương. Xuân phong là biểu tượng cho những biến động thăng trầm nhân sinh. Nó mãi thổi qua vẫn không thể thay đổi lớp sóng xưa – sóng lòng tình quê.

Xuân phong bất cải cựu thời ba.

Cuối năm, chợt rùng mình, soi ngọn gió xuân mà thấy bóng mình.

Lạc quê cá lội tăm tăm
Mượ
n mảnh mây trời nhớ không không.

Thấm thía nghe  đau, chợt thèm  cảm giác Quy gia

(Đỗ Mục).

Thằng bé níu áo hỏi Sao về nhà quá muộn? Tranh với ai năm tháng Để tóc trắng như tơ?

Hai câu hỏi từ hiện tại mở rộng đến cả đời người… đau đáu khép lại trong một tất niên, mai này có còn nhớ, kịp trả lời trong một tân niên…

Nhớ ra rằng đã là quên. Hỏi ra vọng đáp cái tên tâm hồn. Như thơ xong… trong tiếng thở. Chẳng lụy phiền ai nhớ ai quên. Vì lẽ gì, dẫu thời nào… trong cái rốn văn minh lúa nước, có chút máu du mục lãng du… thế nào cũng Giang hồ mê chơi quên quê hương (Tản Đà). Nói cứng rằng quên, thẳm sâu là nhớ. Chỉ cần một giọt xúc tác là nỗi nhớ tràn ra. Đó là tâm thức Việt.

Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Ngh
e tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà.

(Phạm Hữu Quang)

Tự chiêm nghiệm, tự soi mình… đời phiêu bạt phai bạc áo hào hoa. Gót lữ thứ viễn du Lý Bạch hứng về một Xuân tứ, cùng một thời điểm xuân về, vậy mà cỏ Yên xanh tơ, dâu Tần xanh lục… hóa ra khoảng cách không gian nghìn trùng xa ngái. Nhớ ngày về, ai chẳng đoạn trường thì. Gió xuân xưa mãi len vào, lay động, hoài vọng một thèm khát… để nay tròn rơi đau đáu một giọt mưa đêm.

Anh sẽ dựng nhà với chân tay làm cột
Giăng mùng cỏ xanh ngồi đợi em về…
Tủi thẹn này rồi con cháu quên đi.

(Tần Hoài Dạ Vũ)

Chợt nhớ đến  tựa đề một  tác phẩm  của J.P. Sartre (1905 – 1980) – người đã từ chối giải Nobel văn học năm 1964 để phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam – mà sinh viên miền Nam trước 75 rất yêu thích: L’existentialisme est un humanisme  (Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản). Mẹ ơi, nguyện cầu… những nỗi đau – tủi thẹn, nhớ – quên, hy vọng – tuyệt vọng… trong xuân nhân bản quê nhà.■

Văn Hoá Phật Giáo số 218-219 Xuân 2015 

 

(Visited 75 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Lê Từ Hiền, Tuỳ bút

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *