Buồn cho Quốc Tử Giám Huế!

| 23/12/2016 | 0 Comments

Bài & ảnh: NGUYỄN  VĂN  TOÀN |

quoc-tu-giam-hue

Quốc Tử Giám ở Huế là cơ quan quản lý giáo dục triều Nguyễn, và là học phủ tối cao của triều đại phong  kiến cuối cùng này. Lúc bấy giờ, cả nước chỉ có một trường “đại học” ở kinh thành  nên các nho sinh qui tụ về đây rất đông. Nhiều sĩ phu tài cao từ đầu thế kỷ thứ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX từng làm giàu học vấn tại học phủ này.

Lịch sử hình thành Quốc Tử Giám Huế
Tại Trung Quốc, Quốc Tử Giám đầu tiên xuất hiện sau thời nhà Tùy. Mỗi triều đại sau đó đều lập Quốc Tử Giám tại kinh đô của mình – Trường An, Lạc Dương, Khai Phong, Nam Kinh. Kể từ thời nhà Minh thì có tới hai Quốc Tử Giám: một ở Nam Kinh và một ở Bắc Kinh. Tại Việt Nam, Quốc Tử Giám đầu tiên được lập vào năm 1076 tại kinh thành Thăng Long vào thời vua Lý Nhân Tông. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các hoàng tộc, quý tộc và quan lại. Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử Giám và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc.

Sau khi thống nhất đất nước (1802), vua Gia Long đã quyết định xây dựng kinh đô tại Huế, mở đầu cho triều đại phong  kiến nhà Nguyễn. Tháng 8 năm 1803, tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế chừng 5km về phía Tây (nay thuộc địa phận làng An Bình, giáp với làng Long Hồ Hạ, huyện Hương Trà), một trường học mang tính quốc gia đã được thành lập với tên gọi là Đốc học đường (hay Quốc học đường). Lúc bấy giờ, trong trường chỉ có một tòa nhà lớn chính giữa và hai dãy nhà ở hai bên dành cho quan Ðốc học và hai quan phó Ðốc học (người ta thường gọi là Giáp và Ất để phân biệt) sinh hoạt, giảng dạy. Nhu cầu đào tạo nhân tài ngày càng tăng về chất cũng như về lượng, một ngôi trường với quy mô đơn giản như ban đầu không đủ đáp ứng.

Tháng 3 năm 1820, vua Minh Mạng đổi tên trường thành  Quốc Tử Giám và qui mô của trường được phát triển to lớn hơn. Vua Minh Mạng đã nói về việc này như sau: “Trường học là nơi các hiền tài ganh đua, nước nhà phần nhiều lấy nhân tài từ nơi ấy. Ngày xưa tiên đế lập nên trường Quốc Tử Giám, đặt ra các học quan, định ra phép tắc, muốn gây nên nhân tài để nước nhà dùng. Trẫm noi theo chí lớn của tiên đế muốn ra lệnh dựng nên nhà học, tăng thêm học viên, lập nhiều học bổng, mở rộng chương trình khiến học trò đều được thông tài để đợi khi lấy dụng”. Năm 1821, Quốc Tử Giám được nâng cấp. Lúc Khuôn viên Quốc Tử Giám Huế trở thành nơi trưng bày chứng tích chiến tranh thay vì là một địa chỉ văn hóa ở nội thành Huế này quy mô của trường gồm: phía trước là Di luân đường năm gian hai chái; tiếp sau là Giảng đường bảy gian hai chái; hai nhà học bên trái phải đều ba gian hai chái. Bốn phía chung quanh xây tường bằng gạch, phía trước, sau đều mở một cửa. Vào tháng 7-1842, tức niên hiệu Thiệu Trị thứ hai, Trường Quốc Tử Giám bị sét đánh khiến hư hỏng trầm trọng nhưng sau đó đã được tu bổ lại.

Quốc Tử Giám Huế được xem là hoàn chỉnh nhất vào đầu niên hiệu Tự Ðức. Trong suốt 36 năm, trường không ngừng  được xây cất, chỉnh trang. Năm 1848, triều đình cho xây dựng thêm một tòa nhà lớn gồm chín gian chung quanh có tường gạch bao bọc và mở thêm một cửa tròn trong nội điện của Di luân đường. Ðến lúc này, bên cạnh ba dãy nhà dành cho quan Tế tửu, Tư nghiệp và các quan Huấn tập (tất nhiên không kể Di luân đường, nhà Giảng sách, Phòng học, Thư viện), triều đình cho xây thêm hai cư xá cho Giám sinh, mỗi dãy chín gian, đồng thời cho xây thêm hai phòng học nữa và mở thêm hai cổng ở trái và phải khuôn viên trường để các Giám sinh tiện ra vào. Ðến năm 1904, trận bão Giáp Thìn đã tàn phá vùng Huế một cách khủng khiếp, Quốc Tử Giám cũng là một trong những điểm bị thiệt hại nặng nề. Lại một lần nữa Quốc Tử Giám được tu bổ sau thiên tai.

Vào thời Duy Tân, nhà vua nhận thấy trường Quốc Tử Giám ở quá xa kinh thành có nhiều điểm bất tiện, đặc biệt là việc đi lại kiểm tra của các quan kiêm quản đại thần, và cả nhà vua khi muốn đến thăm hoặc tổ chức khảo hạch cũng như lễ tế, nên năm 1908, vua cho dời trường về phía Đông nam của hoàng thành. Trường Quốc Tử Giám mới chiếm một vùng đất khá rộng lớn bên trong kinh thành; mặt sau gần kề với phủ Tôn nhân và Ba Viên (nay là Công viên Nguyễn Văn Trỗi); bên trái giáp với Cơ mật viện (sau là Tam tòa và nay là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế); bên phải tiếp giáp với hoàng thành. Qui mô của trường lúc ấy gồm có: chính giữa là Di luân đường; hai bên là hai dãy phòng học; trước mặt là hai dãy cư xá của sinh viên; phía sau trường, ở giữa là tòa Tân Thơ viện, hai bên là nhà ở của quan Tế tửu, Tư nghiệp (hiệu trưởng, hiệu phó) và các viên chức khác của trường. Năm 1923, Tân Thơ viện trở thành Bảo tàng Khải Định (Musée Khải Định) nên trường Quốc Tử Giám phải lập một thư viện mới mang tên Thư viện Bảo Đại ở phía sau Di luân đường. Trong số các công trình kiến trúc này, Di luân đường, Tân Thơ viện và tòa nhà dành cho vị Tế tửu Quốc Tử Giám ở là những công trình kiến trúc gỗ theo phong  cách truyền thống  có giá trị nghệ  thuật  cao (Tân Thơ viện, Di luân đường đều có nguồn gốc từ các công trình kiến trúc của cung Bảo Định). Từ đó đến tháng 8 năm 1945, thời điểm Quốc Tử Giám chấm dứt vai trò lịch sử của mình, kiến trúc của trường hầu như không thay đổi.

Hoạt động giáo dục của Quốc Tử Giám Huế
Thời Gia Long sau khi xây xong Đốc học đường, vua chọn Phan Ưng Đăng làm Đốc học chính đường, Nguyễn Viết Ưng làm Đốc học Giáp phó đường và Trương Chi Lý làm Đốc học Ất phó đường. Chánh Đốc học được hưởng luơng sáu quan tiền và năm phương gạo mỗi tháng, Phó Đốc học được hưởng  luơng là năm quan  tiền và năm phương gạo mỗi tháng.

Đến năm Minh Mạng thứ hai (1821) đổi chánh phó Đốc học thành  một  Tế tửu  và hai Tư nghiệp. Tế tửu chánh tứ phẩm, Tư nghiệp trật tòng tứ phẩm. Tế tửu giữ học chính, đào tạo nhân tài để giúp chính trị, văn hóa. Tư nghiệp giúp đỡ học chính mà làm người tá nhị. Năm 1822 đặt thêm  ba viên học chính chuyên  huấn  luyện cho những tôn sinh mới vào học. Đến năm 1827 thì rút lại còn hai viên, nhưng lại chuẩn đặt thêm hai giám thừa, hai điển bạ, hai điển tịch. Để công việc quản lý Quốc Tử Giám chặt chẽ hơn, năm 1838, vua Minh Mạng đặc cử các đại thần kiêm lãnh thêm công việc của Quốc Tử Giám: “Cho Hiệp biện Đại học sĩ Lê Văn Đức, Trương Đăng Quế kiêm lãnh công việc Quốc Tử Giám, hai người nay thay phiên nhau làm. Tháng chẵn do Lê Văn Đức kiêm lãnh. Tháng lẻ do Trương Đăng Quế kiêm lãnh”. Năm 1842 nghị chuẩn  cho sáu vị thư lại nhập  lưu thường  xuyên làm công việc trong Quốc Tử Giám. Đến năm 1951, thời Tự Đức, nhà vua nghị chuẩn bớt đi các chức giám thừa, điển bạ, điển tịch chỉ để lại một người và sáu vị thư lại nhập lưu chia ra hai ban làm việc.

Đầu tiên, trường  Quốc Tử Giám chỉ tuyển  chọn học sinh từ con em tôn thất, con quan đại thần trong triều. Tôn nhân phủ chọn trong họ tôn thất (từ ba đời trở xuống) lấy 60 người đã đến 28 tuổi mà thông  minh đĩnh ngộ cho dự tuyển vào Quốc Tử Giám (kỳ thi sát hạch của Quốc Tử Giám rất gắt gao). Nếu vuợt qua, những người này sẽ trở thành các tôn sinh của Quốc Tử Giám. Còn con của quan tứ phẩm trở lên và con trưởng của quan ngũ phẩm (tuổi đã được 15) thì được giới thiệu vào học tại trường. Đó gọi là các ấm sinh. Đến năm 1822, vua Minh Mạng cho Nha Quốc Tử Giám tuyển chọn trong các sĩ tử đậu cao lấy 100 người bổ dụng  làm giám sinh. Cũng năm này, vua cũng xuống chiếu trong cả nước cho phép  một huyện được giới thiệu một người để vào học tại trường Quốc Tử Giám. Đó gọi là các cống sinh. Đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838) nhà vua còn cho phép “Không kể con em thổ quan hay con em nhà dân, cũng không cứ học đủ văn thí ba trường, hễ ai là người tuấn tú thông minh thì chọn ra để đưa về Quốc Tử Giám học tập”.

Hằng năm cứ đầu xuân, sau ngày khai Ấn một ngày thì Quốc Tử Giám khai giảng. Cuối năm sau ngày xếp Ấn một ngày thì nghỉ giảng. Thời khóa biểu: ngày lẻ giảng kinh truyện, ngày chẵn giảng chính sử. Đầu tiên học sinh được học Trung kinh, Hiếu kinh, rồi sau đó học đến Ngũ kinh và Tứ truyện. Tiếp đó học đến sách Chu Tử và Chu sử. Về mặt văn bài, học sinh dần dần tập làm theo“thể tứ trường”, bắt đầu từ câu đối, thơ, phú lên kinh nghĩa, chiếu, biểu cuối cùng là sách văn (tức là các thể văn phải làm trong kỳ thi quốc gia: Hương, Hội, Đình). Quy định này được đưa ra từ thời Gia Long thứ hai (1803). Ngoài ra các học sinh còn phải làm bài tập kiểm tra hàng tháng (từ bốn đến sáu lần mỗi tháng), được kiểm tra hàng quý (mỗi quý một lần) và khảo hạch hàng năm.

Quốc Tử Giám có một chế độ học bổng và thưởng phạt rất công minh. Vua Minh Mạng đã từng nói rằng: “Quốc Tử Giám là nơi giáo dục nhân tài. Triều đình nuôi học trò, nên ưu đãi khiến cho nhân tài đều vui vẻ tu nghiệp tiến đức” (Dụ năm Giáp Thân 1924). Học bổng của Quốc Tử Giám (tiền, gạo, dầu thắp) do đó được xét dựa trên kết quả  khảo ngạch  hàng  quý: “Tôn sinh mỗi người mỗi tháng tiền hai quan, gạo hai phương; cử nhân, cống sinh hạng ưu thì tiền năm quan, gạo ba phương, dầu ăn năm cân, hạng bình thì tiền ba quan, dầu ba cân; ấm sinh hạng nhất thì thì tiền một quan  năm tiền, gạo một phương rưỡi, dầu hai cân rưỡi, hạng thứ thì tiền một quan, gạo một phương, dầu hai cân; nếu năm nào là năm nhuận thì theo tháng  trước mà cấp”. Về thưởng  phạt thì học sinh nào: “khóa trước ưu khóa này lại ưu thì cấp lương theo hạng ưu, thì được thưởng thêm tiền một quan, gạo một phương. Trước ưu sau bình thì cấp theo loại bình. Trước thứ sau thứ thì chiếu theo thứ nhưng giảm một nửa”.

Với gần 150 năm tồn tại với tư cách là trường đại học phong kiến, Quốc Tử Giám đã góp phần không nhỏ trong việc đào tạo những nhân tài cho đất nước. Trong số hơn 500 vị tiến sĩ, phó bảng của triều Nguyễn, có không ít vị đã từng dùi mài kinh sử tại ngôi trường này; có thể kể đến Nguyễn Đăng Tuyển (1796-1880), Phan Thúc Trực (1808- 1852); Đặng Huy Trứ (1825-1874), Nguyễn Khuyến (1833-
1909), Đào Nguyên Phổ (1861-1907). Ngoài ra, chí sĩ Phan Bội Châu đã không ít lần liên hệ với những nho sĩ ở trường để mưu việc lớn. Quốc Tử Giám Huế là một minh chứng về tinh thần hiếu học và trọng dụng hiền tài của dân tộc. Tuy nhiên đến năm 1909, khi khoa thi chữ Hán cuối cùng chấm dứt thì vai trò giáo dục của Quốc Tử Giám không còn nữa. Nó phải nhường chỗ cho trường Quốc Học, ngôi trường do thực dân Pháp xây dựng với nội dung giảng dạy theo lối Tây học phù hợp hơn với tình hình lúc đó.

Tình trạng Quốc Tử Giám Huế hiện nayquoc-tu-giam-hue
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành  công, vua Bảo Đại thoái vị, chế độ phong kiến ở Việt Nam chấm dứt thì Quốc Tử Giám Huế trở thành một chứng tích cho một thời đại huy hoàng của Nho giáo tại Việt Nam đã qua đi. Nó được quản lý bởi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để làm nơi giảng dạy Bình dân học vụ (1945-1946) sau đó nó bị người Pháp chiếm để làm nơi trú quân (1946-1954). Sau năm 1954 nó được tiếp quản bởi chính quyền Việt Nam Cộng hòa và trở thành trường dạy Anh văn cho các sĩ quan, binh lính. Sau năm 1975, Nhà nước ta đã không thực sự chú trọng đến việc phát huy tiềm năng du lịch văn hóa của di tích Quốc Tử Giám. Chỉ đến tháng 7/1989, tận dụng khuôn viên di tích Quốc Tử Giám Huế, Nhà nước đã xây dựng Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng Thừa Thiên Huế với chức năng, nhiệm vụ: nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, tổ chức trưng bày và tuyên truyền giới thiệu phục vụ khách tham quan trong và ngoài nước về thời kỳ Tiền sơ sử và Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Thừa Thiên Huế 1930-1975.

Ngày 11/12/1993, Quốc Tử Giám cùng với hệ thống di tích cung đình triều Nguyễn đã được ghi tên vào danh mục Di sản Văn hóa Thế giới. Cũng từ đó, Quốc Tử Giám Huế nhận lãnh thêm một trách nhiệm mới: điểm du lịch nội thành của kinh thành Huế. Tuy nhiên hiếm thấy những du khách nào nhận ra được bản chất thật sự của Quốc Tử Giám là di tích giáo dục, đa phần những du khách chỉ đến để xem các hiện vật của Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng Thừa Thiên Huế. Nghĩa là đi tham quan Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng Thừa Thiên Huế chứ không phải đi tham quan di tích giáo dục Quốc Tử Giám.
Tóm lại, chúng ta nên trả lại vị trí vốn có của Quốc Tử Giám là một di tích lịch sử – văn hóa – giáo dục, là một chứng tích cho nền Nho học thời Nguyễn ở kinh đô Huế. Thật sự không thể viện lý do gì để lồng ghép vào một di tích lịch sử – văn hóa – giáo dục cổ xưa như Quốc Tử Giám những cỗ xe tăng, những chiếc máy bay, những súng đạn thời hiện đại như hiện trạng của di tích Quốc Tử Giám hiện nay. Đây thực sự là sự thật đáng buồn cho Quốc Tử Giám Huế khi so sánh nó với Quốc Tử Giám Hà Nội. Văn Miếu
– Quốc Tử Giám ở Hà Nội là nơi rằm tháng  Giêng hàng năm Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức báo cáo kết quả của nền văn học trong năm và bình những bài thơ hay. Đây là nơi nhà nước tổ chức trao các hàm, học vị: Giáo sư, Viện sĩ, Tiến sĩ… cho những trí thức mới. Hằng năm, cứ sau kỳ tốt nghiệp bậc đại học, thủ khoa của các trường được về Văn Miếu – Quốc Tử Giám để Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội trao bằng khen và tham quan rất nhiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa được tổ chức tại Văn Miếu. Đặc biệt, khách nước ngoài từ khắp các lục địa cũng về đây hàng ngày để tham quan và tìm hiểu trường đại học đầu tiên của Việt Nam, Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội… „

Chú Thích

Bài viết này đăng trên VHPG tháng 10/2014, đọc lại như là một tài liệu và không phản ảnh chính xác hiện trạng hôm nay.

Văn Hoá Phật Giáo số 210

(Visited 283 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Nguyễn Văn Toàn, Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *