Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo  số 23   |   GS. TS. TÂM  ĐÀN --- Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo  số 23   |   GS. TS. TÂM  ĐÀN"/>

Đạo đức Phật giáo

| 04/12/2012 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo  số 23   |   GS. TS. TÂM  ĐÀN

Chúng ta có thể thay thế cụm từ “đạo đức Phật giáo” bằng “ đạo đức X”, bằng một từ ngữ nào đó. Hay gọn nhẹ hơn, chúng ta chỉ cần dùng hai chữ “đạo đức” cũng đủ. Từ ngữ không phải là vấn đề. Vấn đề là chúng ta phải hiểu từ ngữ đó như thế nào. Tôi hình dung một tương lai, có lẽ còn xa lắm, khi loài người đã có một nếp sống đạo đức (nghĩa là đạo đức Phật giáo), câu hỏi sau đây sẽ trở thành rất ngớ ngẩn: Anh (hay chị) thuộc tôn giáo nào?

 Dao duc Phat giao

Người ta quan niệm rằng, nếu có thể trừ khử được tất cả những chướng ngại ngăn cản ý muốn của mình thì hạnh phúc sẽ đến với mình. Nhưng vì ý muốn của mỗi người một khác, thường xung khắc lẫn nhau, uy hiếp quyền lợi của nhau, nên tranh chấp xung đột quả thật khó tránh xảy ra. Xã hội đương thời của chúng ta dường như đang ở vào thời kỳ tranh chấp xung đột đó. Con người lợi dụng sự phát triển của khoa học kỹ thuật để cạnh tranh khai thác tài nguyên thiên nhiên, làm ô nhiễm và gây hại môi trường sống.

Sự phân chia ranh giới giữa tri thức và vật chất đã dẫn đến quan điểm trong đó vũ trụ được xem như một hệ thống cơ khí với những vật thể được xem như những bộ phận riêng rẽ. “Cái tôi của mỗi người được dựng nên như để tượng trưng cho phần hồn của mình với đầy đủ đầu óc phán đoán suy luận. Dần dần con người quên đi cái bản chất thực sự của suy tư là cả một quá trình của sự sống, không những tùy thuộc vào mỗi con người mà còn tùy thuộc vào môi trường chung quanh nữa. Con người xem cơ thể của mình như những chiếc máy cơ khí, và xem thiên nhiên như độc lập với con người, cần được chế ngự và khai thác triệt để…

Vì thế giới vật chất bị xem như một bộ máy cơ khí, con người tin rằng tính chất cục bộ có thể hoàn toàn xác định tính chất toàn bộ. Do đó, họ xem nhẹ mối tương quan mật thiết giữa những cơ cấu xã hội như giáo dục, văn hóa, y tế, kinh tế, chính trị, tôn giáo, quân sự. Họ xem trọng phẩm lượng và xem nhẹ phẩm chất. Trong lãnh vực nghiên cứu khoa học cũng tương tự, các nhà nghiên cứu dường như xem những ngành chuyên môn khác không dính dáng gì đến ngành mình đang nghiên cứu.

Thời xưa, thiên nhiên được xem như một người mẹ hiền hòa nuôi dưỡng chăm sóc sự sống trên địa cầu. Cổ Hy Lạp có nữ thần Gala tượng trưng cho mẹ địa cầu. Vào thời cận đại, mẹ địa cầu đã bị thống trị. Nam giới chiếm ưu thế. Nhà vật lý học F. Capra cho rằng quan điểm này được Do Thái giáo và Ky Tô giáo ủng hộ, và do đó Thượng đế được nhân cách hóa thành một nam giới, thống trị thiên nhiên bằng những định luật nhiệm mầu với những duy lý và quyền lực tối cao. Những định luật khoa học tự nhiên được xem như phản ảnh của những định luật nhiệm mầu đó của Thượng đế. Ngày nay, thời đương thịnh đó dường như đã đạt đến mức tối đa và đã bắt đầu suy thoái. Nhiều người không còn tin rằng Thượng đế là một nam giới đầy phép nhiệm mầu nữa.

Triết học Đông phương nói chung và triết học Phật giáo nói riêng quan niệm rằng biến động là bản chất của sự vật, kể cả sự sống, và lực gây nên sự biến động đó không phải do những ngoại lực linh thiêng như triết học cổ Hy Lạp quan niệm, trái lại là những nội lực thuộc vào bản chất của sự vật, bản chất của sự sống.

Khoa học ngày nay cũng đã chứng minh rằng vạn vật luôn luôn năng động. Những nguyên tử, phân tử trong một vật thể luôn luôn dao động, dù ở bất cứ trạng thái nào, khí, lỏng hay rắn, dù ở bất cứ nhiệt độ nào, kể cả nhiệt độ thấp nhất có thể đạt được. Nhờ tính năng động, vạn vật có thể tự tổ chức, kết hợp nhau thành những hình hài càng ngày càng tinh vi phức tạp và cuối cùng là sự sống. Có thể nói vạn vật dù đơn giản hay phức tạp, dù vô trí hay hữu trí, tất cả đều có tính năng động mà có lẽ do đó triết học Đông phương đã gọi là nội lực.

Với những nội lực đó, vạn vật luôn tương tác lẫn nhau. Đối với sự sống, con người có hiểu biết, có trí tuệ cao nhất so với tất cả các loài động vật khác, vấn đề đạo đức cần được đặt ra để những tương tác đó được hài hòa. Cái tinh khiết nhất của đạo đức theo triết học Đông phương không phải là một Thượng đế tối cao cai trị thế giới, trái lại, là những nguyên tắc đạo đức, phương châm xử thế. xuất phát từ ngay bên trong sự vật, khái niệm Phật Tâm của Phật giáo vì vậy là một đáp ứng vô cùng bức thiết cho sự sống loài người.

Chúng ta vốn gắn bó nhau một cách hài hòa từ thuở khai thiên lập địa. Do đó Phật Tâm không thuộc sở hữu của một ai. Phật Tâm không phải một cái gì đó, hay một linh hồn để có thể nói Phật Tâm của anh khác với Phật Tâm của tôi. Nếu mỗi người có một Phật Tâm khác nhau, chắc chắn sẽ có xung đột, kỳ thị, tranh chấp chiến tranh sẽ là đại họa. Trái lại, Phật Tâm là quá trình tương tác hài hòa giữa muôn vật muôn loài. Muốn có một nếp sống hài hòa, Phật Tâm phải thường trú trong chúng ta và chúng ta phải thường trú trong Phật Tâm.

Xã hội Ấn Độ thời Đức Phật là một xã hội theo chủ nghĩa cá nhân, dựa trên nền móng tư tưởng Bà La Môn. Mỗi cá nhân có một linh hồn được đặt  để theo những thân phận sang hèn khác nhau. Một hệ thống phân biệt giai cấp như thế đã dẫn đến biết bao tang thương khốn khổ. Và đó là động lực đã thúc đẩy Đức Phật xuất gia. Xã hội chúng ta bây giờ cũng không sáng sủa gì hơn, bởi vì Phật Tâm vẫn như mặt trời đang bị những đám mây chi khuất.

Đạo đức Phật giáo không phải là những gì gò bó hạn chế, không phải là những luật lệ áp đặt lên con người. Nó giống như một bức họa mô tả nếp sống của một người đắc đạo, mô tả quá trình sống của Đức Phật. Đạo đức Phật giáo không xem chiến tranh là do hai phe đối nghịch đánh nhau, trái lại, chiến tranh có nghĩa là chúng ta đang tự gây khổ đau cho nhau. Ý niệm về phân biệt phe phái không nằm trong lĩnh vực đạo đức của Phật giáo. Thân tâm chỉ an lạc khi có sự hài hòa lẫn nhau, hài hòa với môi trường chung quanh.

Phật giáo quan niệm mỗi người vốn có Phật Tâm. Sở dĩ con người có những hành vi vô đạo đức chỉ vì Phật Tâm trong họ đã bị che mờ. Đạo đức Phật giáo là phương tiện giúp Phật Tâm trở nên trong sáng hơn trong tâm con người. Phật Tâm có trong mỗi chúng ta, nhưng không có nghĩa rằng không chóng thì chầy chúng ta cũng đắc đạo, không cần tu hành. Cứ tiếp tục vụng tu chắc chắn không thể có một Phật Tâm trong sáng trọn kiếp và, nếu có những kiếp sau, sẽ muôn đời như vậy.

Người có Phật Tâm trong sáng là người biết phối hợp một cách hài hòa giữa phân tích và tổng hợp, giữa cạnh tranh và hợp tác, giữa thuần lý và trực cảm, giữa khoa học và tôn giáo, giữa dương tính và âm tính, giữa văn hóa và sinh hóa, v.v…

Trong xã hội hiện tại, nền văn hóa dường như trở nên suy đồi, môi trường sinh thái trở nên tồi tệ. Trong lúc khoa học kỹ thuật phát triển vượt bực thì văn hóa đạo đức xuống dốc nhanh chóng. Trong lúc chúng ta có thể thám hiểm không gian đổ bộ mặt trăng, chúng ta lại không thể kiểm soát được sự ô nhiễm trên địa cầu. Trong lúc chúng ta có thể sản xuất dồi dào những mỹ phẩm và những thực phẩm cho các loài vật chúng ta yêu quí, nhưng chúng ta không thể xây dựng tốt những hệ thống y tế, giáo dục, lưu thông. Chỉ một số nhỏ các nước văn minh là giàu có trong lúc đa số những quốc gia khác đều chậm tiến và nghèo khó. Ngay trong những quốc gia giàu có, tài sản chỉ tập trung vào một thiểu số tài phiệt. Đa số tài sản quốc gia đều bị tư hữu hóa. Nền kinh tế quốc gia do đó bị một thiểu số tài phiệt thao túng. Lao động của giới công nhân bị bóc lột. Đa số việc làm của công nhân chỉ bán thời gian tạm bợ, và có thể bị thải hồi gần như bất cứ lúc nào.

Dược liệu tuy dồi dào và hữu hiệu nhưng không thiếu những phản ứng phụ tai hại. Bệnh tật vẫn tiếp tục hoành hành, nhất là tại những nước nghèo khó. Giới tài phiệt nghĩ rằng lợi nhuận kinh doanh có thể tăng mãi không có giới hạn nên họ tha hồ khai thác thiên nhiên, quên rằng tài nguyên thiên nhiên chỉ có hạn. Quân sự thì khỏi nói. Chạy đua vũ trang có lẽ không bao giờ dứt. Sự sống còn của nhân loại cũng như môi trường sinh thái luôn ở trong tình trạng bị đe dọa. Trong cuộc chiến tranh lạnh của mấy thập niên trước, các cường quốc chế tạo không biết bao nhiêu vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học. Tiếp đến bây giờ là chiến tranh khủng bố. Mong rằng các vũ khí hạt nhân và những chất độc hóa học sẽ không bị thất thoát. Nếu không, số tử vong sẽ có thể lên đến hàng triệu.

Trong một xã hội có Phật Tâm trong sáng, con người sẽ biết bảo vệ môi trường sống, biết vun xới những giá trị tinh thần văn hóa đạo đức xã hội. Khoa học kỹ thuật được áp dụng để nâng cao tiện nghi đời sống, phụng sự hòa bình. Thay vì ưu tiên cho quốc phòng, nhà nước nên ưu tiên vào các ngành giáo dục, văn hóa, khoa học, mỹ thuật, âm nhạc, hội họa…Trong xã hội tươi sáng này, con người thích ăn rau quả hơn thịt cá. Nạn sát sanh giảm xuống rõ rệt. Con người yêu quý các loài động vật khác, thúc đẩy làm điều lành tránh điều ác nhiều hơn.

Trong xã hội mới, số người giàu có giúp đỡ người nghèo tăng lên nhiều. Chính quyền đã có những chính sách hữu hiệu bảo vệ bền vững công ăn việc làm cho người dân, khiến người dân yên tâm hơn trong cuộc sống. Các nhà kinh doanh triệu phú tỷ phú đóng góp từ thiện phong phú hơn để giúp đỡ những người nghèo khó. Nạn tham quan ô lại đàn áp dân lành gần như biến mất. Tất cả những tốt đẹp đó xuất phát từ tấm lòng trong sáng của mọi người. Số những gia đình hạnh phúc đầm ấm tăng lên. Cha mẹ hòa thuận thương yêu lẫn nhau, săn sóc cho nhau, cùng nhau chăm sóc con cái, lo cho con cái ăn học nên người.

Trong xã hội tươi sáng này, người ta ít nghe thấy những lời ngồi lê đôi mách, những lời phê bình thiếu xây dựng. Người ta chỉ biết thương yêu kính trọng lẫn nhau. Người ta biết kính lão đắc thọ. Không hề thấy con cái khinh khi ông bà cha mẹ chú bác. Người ta chỉ biết tặng cho nhau những lời khích lệ, an ủi, quý trọng, hiểu biết, quý trọng đạo đức hơn những mảnh bằng cấp. Bằng cấp sẽ trở thành một mảnh giấy vụn nếu học mà chẳng hề hành, sẽ dần dần sét rỉ hết sạch giống như người chưa từng cấp sách đến trường. Mang một “ mảnh giấy vụn” như thế mà người ta cứ ngỡ mình đang mang một kho tàng kiến thức uyên bác, để rồi khoe khoang phách lối. Những thái độ đó, những con người đó hiếm tìm thấy trong một xã hội trong sáng.

Con người trong một xã hội thấm nhuần đạo đức Phật giáo không còn thích thú với cờ bạc, rượu chè, hút xách nghiện ngập ma túy. Họ không còn thích thú những sách vở phim ảnh khiêu dâm, mê tín, hung bạo. Vả lại, những thuốc phiện đó, những phim ảnh đó hiếm tìm thấy trong xã hội mới. Những người buôn bán thuốc phiện đã đổi nghề tốt lành hơn. Những tài tử đạo diễn đã đóng những loại phim ảnh nối trên bây giờ chỉ thích đóng những phim hiền hòa đầy sắc thái đạo đức, tình thương yêu học hỏi và hiểu biết. Bây giờ nhiều lắm người ta chỉ uống một ít rượu hay bia trong mỗi bữa ăn, để bồi bổ thân thể và làm cho bữa ăn ngon miệng hơn. Người ta không còn ngồi chè chén cả mấy chai rượu mạnh hay cả mấy chục chai bia, say mèm ăn nói hỗn láo. Sở dĩ được vậy bởi vì con người trong xã hội ấy ý thức được sự cần thiết của một thân thể khỏe mạnh, một trí óc trong sáng lành mạnh để chăm lo bản thân, gia đình, xã hội.

Có một câu hỏi cần được làm sáng tỏ: Phải chăng chỉ có những người tu Phật mới có thể có một đạo đức Phật giáo?

Mọi sự vật cũng như sự sống đều liên quan phụ thuộc lẫn nhau, biến đổi không ngừng và cùng thuộc vào một thể thống nhất. “Cái anh” hôm nay có thể trở thành “cái tôi”ngày mai. Phật giáo vốn hình thành từ cái không Phật giáo và ngược lại. Cái gọi là “Phật tử” được hình thành từ cái “không Phật tử” và ngược lại. Không có lý do gì chỉ có Phật tử mới có thể có đạo đức Phật giáo. Bởi vì nếu vậy thì Phật tử và không Phật tử thuộc hai loại riêng rẽ độc lập nhau. Phật không hề dạy chúng ta vậy, và hơn nữa bây giờ khoa học đã minh chứng một cách hùng hồn rằng không thể có sự phân chia như vậy.

Phật vốn trong tâm mọi người, dù người đó là một Phật tử hay không. Có Phật Tâm là có lòng hướng đến đạo đức Phật giáo. Hướng đến đạo đức Phật giáo là một bản chất của sự sống con người.

Có Tâm lòng thấy lâng lâng

Có Tâm lòng thấy mười phân vẹn toàn.

Sự xuất hiện hai chữ “ Phật giáo”trong chùm từ ngữ “đạo đức Phật giáo” có thể làm nhiều người ngộ nhận rằng đây là những luật lệ dành riêng cho Phật tử. Như tôi đã trình bày, đạo đức Phật giáo không phải là những luật lệ, trái lại, là một bức họa mô tả quá trình sống của một vị đắc đạo, như là một kim chỉ nam để noi theo. Không nhất thiết chỉ Phật tử mới đủ tư cách noi theo. Phật giáo hình thành từ cái không Phật giáo và ngược lại. Chúng ta có thể thay thế cụm từ “đạo đức Phật giáo” bắng “đạo đức X”rồi muốn thay chữ X bằng từ ngữ nào cũng được. Hay gọn nhẹ hơn, chúng ta chỉ cần dùng hai chữ “đạo đức” cũng đủ. Từ ngữ không phải là vấn đề. Vấn đề là chúng ta phải hiểu từ ngữ đó như thế nào. Nếu ai hỏi tôi đạo đức là gì, tôi chỉ trả lời đại khái thô thiển gồm những gì tôi đã viết trong bài này.

Biết bao nhiêu người không phải là Phật tử nhưng đời sống của họ chẳng khác nào những vị Bồ tát. Mohandas Ganghi, đã dùng phương pháp đấu tranh bất bạo động để Ấn Độ được thoát khỏi ách đô hộ của Anh Quốc, là một thí dụ. Một thí dụ khác là mẹ Terasa đã cống hiến cả cuộc đời cứu giúp những người nghèo khó mồ côi, già nua bệnh hoạn vô gia cư. Và còn biết bao nhiêu người khác nữa.

Tôi hình dung một tương lai (có lẽ còn xa lắm) khi loài người đã có một nếp sống đạo đức (nghĩa là đạo đức Phật giáo), câu hỏi sau đây sẽ trở thành rất ngớ ngẩn: Anh (hay chị) thuộc tôn giáo nào? ■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo  số 23   |   GS. TS. TÂM  ĐÀN

(Visited 212 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Tâm Đàn, Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *