Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 42"/>

Kinh tế nhân bản ở Việt Nam

| 21/11/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 42

PHẠM VĂN NGA

Lời người viết: Trong một số báo SGGP gần đây, tác giả Minh Thông đã ca ngợi nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế nhân bản đúng nghĩa với những phát triển vượt bậc trong việc xoá đói giảm nghèo hay nâng cao mức sống người dân (?). Rất tiếc là tác giả chỉ bình luận mà không đưa ra một số liệu nào để minh hoạ cho nhận định của mình. Thế nhưng tại Hội nghị bàn tròn “Để nông dân Đồng Bằng Sông Cửu Long giàu lên” diễn ra ngày 11 tháng 8 vừa qua tại Cần Thơ, tiến sĩ Trần Thượng Tuấn, dựa theo báo cáo mới nhất của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, lại đưa ra con số thu nhập bình quân nông dân trong một hộ bốn nhân khẩu là 175.000 đồng/ tháng, nghĩa là thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo hiện nay là 260.000 đồng/ tháng (?). Người dân, theo ông Tuấn, không chỉ nghèo vật chất mà còn nghèo cả về học vấn vì giáo dục ĐBSCL chỉ cao hơn vùng núi phía Bắc (!).

ve-kinh-te-nhan-ban

Trước những nhận định có phần mâu thuẫn, chúng ta hãy thực tâm nhìn lại nền kinh tế của mình xem có phải nhân bản vào bậc nhất như tác giả Minh Thông đánh giá hay còn những tồn tại chưa khắc phục?

Bài viết sau đây không nhằm nêu lên ai đúng ai sai, không ca ngợi, cũng không phê phán mà chỉ muốn trình bày thực trạng của chúng ta để chúng ta biết mình đang ở đâu trong quá trình thực hiện, cũng như những trở ngại đang cản trở chúng ta thực hiện nền kinh tế ấy.

Nhận diện nền kinh tế nhân bản

Không ai và cũng chưa bao giờ có một định nghĩa chuẩn mực thế nào là một nền kinh tế nhân bản dù rằng về mặt lý thuyết, khi phân tích một nền kinh tế, người ta cũng thường đánh giá mức độ cân đối giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội cũng như trách nhiệm mà những cá nhân hay doanh nghiệp phải thực thi đối với lợi ích chung của cộng đồng và toàn thể xã hội. Ví dụ như học thuyết Pareto nổi tiếng khi đưa ra lý thuyết cân bằng giữa lợi nhuận và chi phí, đề cập đến việc phân bổ và sử dụng những nguồn nhân lực xã hội hạn chế một cách hiệu quả, phân bổ đồng đều trên thị trường. Nhưng không thể nào làm cho một người giàu lên mà không làm cho ai đó nghèo đi được. Chính ở điểm này mà học thuyết Pareto chủ trương tối đa hoá lợi ích kinh tế cho những sản phẩm mà xã hội cần với chi phí thấp nhất khi sử dụng những nguồn tài nguyên tối thiểu. Những nhà kinh tế đi theo đường lối này biện minh rằng, khi họ tối đa hoá lợi nhuận thì tất yếu dẫn đến sự phồn vinh của xã hội. Chúng ta chợt nhớ đến Hàn Mặc Tử khi ông nói rằng: “Nghĩa tức là lợi”. Khác với Khổng Tử khi cho rằng: “Hễ là người quân tử thì hiểu về nghĩa; hễ là kẻ tuểu nhân thì hiểu về lợi” (Luận Ngữ). Nói như Phan Khôi khi bàn đến vai trò nhà nước thì: “Chữ ‘nghĩa’ đó tức là lấy thuế có chừng có đỗi, không xâm phạm đến những cái lợi nhỏ của dân. Như thế thì nhân dân no đủ mà quy phục nhà nước; mà hễ nhân dân no đủ tức nhà nước giàu; ấy là lấy nghĩa làm lợi”. (Phan Khôi – Cái ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta, báo Thần Chung, 1929). Người xưa đã phân biệt rõ ràng như thế, thì nay nhìn lại Việt Nam, chúng ta đánh giá thế nào về khuôn mặt nhân bản của nền kinh tế chúng ta?

Theo chúng tôi, khuôn mặt nền kinh tế của chúng ta mang cả hai “gam” màu, sáng, tối tuỳ ở chỗ đứng và tầm nhìn của chúng ta:

1.Một nền kinh tế phát triển hài hoà và năng động: Về điểm này, chúng ta đồng ý rằng đã có những tăng trưởng rõ rệt khi hằng năm GDP tều tăng ở mức 8% trở lên. Các mặt của đời sống đang được cải thiện. Nhưng phát triễn bền vững lại là một cách thách thức khi tỷ lệ lạm phát bảy tháng đầu năm nay đã là 6.19% so với mức tăng GDP là 7.87%. Thất nghiệp cũng vẫn còn là một vấn nạn khi chúng ta đang thiếu nguồn nhân lực có duyên môn mà lại dôi dư lực lượng lao động giản đơn”. Theo Phật giáo, một xã hội cung cấp  cho tất cả mọi người công ăn việc làm để phát triển toàn diện con người mà chỉ chú trọng đến nhu cầu tiêu thụ, đó là một xã hội đứng ngược đầu”. (Kinh tế Phật Giáo – Quán Như)

2. Thu nhập đầu người có tăng va2 GDP/ người là 2.745 USD. (Báo cáo UNDP) nhưng GNI bình quân chỉ là 548 USD/ năm. Tuy nhiên, sau khi tăng từ vị trí 150 (1997) lên đến 132 (2001), chúng ta đã ở yên vị trí ấy suốt 5 năm qua (?). Nói theo Võ Tá Hân thì: “GDP tuy vẫn tiếp tục tăng trưởng, một phần cũng nhờ dân số gia tăng, nhưng nếu chia đều cho tổng dân số thì… nghèo vẫn hoàn nghèo”. (Báo Kinh tế Sài Gòn)

3/ Phong trào nâng cao dân trí và xoá đói giảm nghèo được phát động và nhiều tổ chức tham gia. Thế nhưng, phỉa thẳng thắn nhìn nhận những nhược điểm còn tồn tại trong nền kinh tế chúng ta:

3.1. Chỉ số phát triển con người (HDI- Human Development Index) ở mức thấp, đứng thứ 109/136 quốc gia được xếp hạng, (Thái lan đứng thứ 79, Trung QuỐc 81, Phillipines 84); trong đó có những tiêu chuẩn xếp hạng như tỷ lệ biết chữ: 90.3% (?), tỷ lệ học sinh đến trường ở cả 3 cấp: 63%, tỷ lệ đầu tư cho giáo dục chiếm 9.7% chi tiêu của chính phủ(1).

Tuy nhiên, tỷ lệ đóng góp vào giáo dục từ phía người dân lại thuộc hàng cao nhầt thế giới với hơn 40% (Hoa Kỳ là 26%, Pháp 11.2%). Mức học phí ở Việt Nam thường bị các nh2 quản lý giáo dục cho là thấp so với thế giới nhưng nếu so với so với thu nhập thì không hề thấp với tỷ lệ học phí đại học trung bình 200 USD/năm tức là gần 50% thu nhập đầu người trong khi ở các nước phát triển dù họ phía đóng đến 15.000 USD cũng chỉ là 20-30% thu nhập mà thôi(2). Cần lưu ý sinh viên bản xứ ở Hoa Kỳ được hưởng những trợ cấp về học phí. Ngya tại những nước Đông Nam Á như Malaysia, 5.7 triệu học sinh trung và tiểu học đểu được miễn học phí. Chưa kể thu nhập gia đình dưới USD 320/tháng được cấp giáo trình, đồng phục miễn phí. Viết đến đây chúng ta không khỏi quan ngại cho chủ trương “xã hội hoá” hay đúng hơn “hạch toán kinh tế” nền giáo dục. Nếu làm không khéo nó sẽ là thảm hoạ cho tương lai dù hiện nay là cơ hội cho một số người.

3.2. Phân hoá giàu nghèo rất lớn: 10% những người giàu nhất chiếm 22,9% tài sản cả nuớc và 20% những người giàu nhất chiếm 45.4 tài sản. (Ở Na Uy là 3.9% và 5.9% tương ứng, còn ở Nhật là 4,8% và 10,85; thậm chí ở Hoa Kỳ chỉ là 1.9% và 5.4%)(3).

3.3. Khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị cần nhiều nỗ lực và thời gian: Đời sống nông dân còn vô vàn khó khăn và thiếu thốn những tiện nghi tối thiểu. Tình trạng đất đai phân bổ không vì nhu cầu bức thiết của người dân mà chạy theo những qui hoạch… xa vời do những quyết định đầy cảm tính và thiếu công minh của những ngườ nắm giữ quyền lực. Theo Báo Tuổi Trẻ trong loạt bài “Góc khuất dưới tán rừng”… Trong khi nông dân ở rừng thiếu đất nông nghiệp thì việc thu hồi đất đã giao cho một số đơn vị cơ quan liên doanh kiên kết vẫn diễn ra chậm chạp. Từ năm 2002, tỉnh đả có quyết định thu hồi gần 10.300ha đất lâm nghiệp đã cấp cho các đối tượng này sau khi phát hiện đa số không sử dụng đúng mục đích mà chủ yếu giao khoán, cho thuê lại. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn hơn 5000 ha chưa thu hồi được. (TT, 13/9/2007). Cũng theo báo này, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến thăm Cà Mau tháng 4/2007, sau khi khoả sát thực tế đã trăn trở trước đời sống dân trong rừng. Ông nhấn mạnh, tỉnh có tiềm năng rừng rất lớn nhưng đa số dân sống chung với rừng đều nghèo vì chuyển dịch sản xuất còn chậm. Đến cả một ông Chủ tịch UBND xã như xã Biển Bạch Đông, một người sống tại đấy, lãnh đạo nhân dân tại đấy mà cũng… ngạc nhiên: “Tôi biết bà con rất nghèo, nhưng khi phải chứng kiến thực tế vẫn không thể tin nổi bà con lại nghèo như vậy!” Và ông kết luận:”Cứ như hiện nay, nông dân sẽ còn khó khăn nhiều hơn trước. Và rừng cũng chẳng thể giữ được”.

3.4. Sinh hoạt văn hoá nghèo nàn: trong đời sống nói chung và đời sống công nhân, nông dân nói riêng: Đã có nhiều phê bình góp ý về xây dựng lối sống lành mạnh, phong phú trong cán bộ công nhân viên chức, sinh viên và cả công nhân khi họ sống cuộc đời nếu không đơn điệu đến buồn tẻ thì cũng lao mình vào những thú vui tệ hại như rượu chè, cờ bạc và …

“Việc tập trung vào sản xuất và tiêu thụ vật chất này, thiếu các loại dinh dưỡng khác mà chúng ta gọi là các loại thức ăn tinh thần cần thiết cho giá trị tối hậu của nhân loại, đã tạo nên tình trạng mất cân bằng giữa tăng trưởng cơ thể và tinh thần… Ngoại tình, hiếp dâm, buôn lậu, ma tuý, bạo lực, vô số các bất ổn xã hội; tất cả các triệu chứng này của căn bịnh béo phì xã hội thật ra là kết quả của tình trạng mất cân bằng trong sự phát triển kinh tế”. (Quan Điểm Phật Giáo về Kinh tế).

Như vậy, tâm hồn vẫn cần những dưỡng chất mà nền kinh tế sản xuất không thể đem lại nếu chúng ta không xây dựng trên nền tảng con người. Không phải ngẫu nhiên mà ở Hoa Kỳ, người ta có cả một Viện Kinh Tế Nhân Bản (Institute of Human Economics) vì con người là một trong hai loại tài sản cần phát triển (human capital) ngoài tài sản vật chất (material)

4. Nền kinh tế nhân bản không cho phép huỷ hoại môi trường và hệ sinh thái. Đây là một vấn nạn khi chúng ta đã và đang buông lỏng quản lý các nhà máy xí nghiệp để họ mặc sức đổ chất thải xuống các dòng sông, kênh rạch, tiêu diệt lần mòn sức khoẻ những cư dân sử dụng nguồn nước ấy, trong đó có cả chúng ta. Chúng ta đang phân vân khi những nhà máy giấy khổng lồ đang được đầu tư tại nhiều vùng nông nghiệp như nhà máy Lee & Man tại Hậu Giang hay một nhà máy giấy công suất 100.000 MT/năm khác sắp xây dựng ở Đồng Tháp sẽ đe doạ làm tổn hại nguồn tài nguyên thuỷ sản của đồng bằng sông Cửu Long.

Như đã nhận định ở trên rằng chúng ta có nhiều cải thiện về đời sống, mức sống và các mặt văn hoá, xã hội nhưng còn không ít những hạn chế, khó khăn không dễ gì vượt qua nhanh chóng để trở thành một nền kinh tế nhân bản đúng nghĩa. Nền kinh tế ấy phải mang bộ mặt con người và phục vụ cho lý tưởng nhân đạo vì suy cho cùng nếu không lấy con người làm mục tiêu thì đó là một nền kinh tế mà Marx đã từng ghê sợ khi cuộc đời hoá thành rừng hoa vì khi ấy “người lại là chó sói của người”.

Hãy thử đánh giá trung thực những thành tựu và nhược điểm cần phải khắc phục, để thấy con đường chúng ta sẽ đi vẫn còn rất dài. Đừng vội ca tụng nhau, chỉ nên động viên để can đảm và bước tới.

Ghi chú

1. và 2. Nguồn: Báo cáo của Liên Hợp Quốc về HDI (2006)

3. Nguồn: Theo Lê Minh Tiến (Tuổi trẻ Chủ Nhật 16/9/2007) trong bài “Tăng học phí: không thuyết phục” có trích từ nguồn Comparative indicators of Education in U.S. and Other G – 8 Countries, đưa ra con số về tỷ lệ chi cho giáo dục trên GDP ở VN là là 8,3% Hoa Kỳ là 7%; Nhật 4,2%.

PHẠM VĂN NGA | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 42

(Visited 107 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Phạm Văn Nga, Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *