Kính thưa Thầy

| 02/07/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 34 |Vấn đề

NGUYÊN CẨN

Kính thưa Thầy

Từ cái nhìn thầy giáo…

Trong buổi nói chuyện cùng Tăng chúng ở Trúc Lâm thiền viện Đà Lạt, Hòa thượng Nhất Hạnh có nói đại ý rằng, không có gì nghe gần gũi và tràn đầy cảm xúc bằng hai tiếng “Thầy ơi!”. Nó vượt lên trên mọi chức danh phong tặng trên đời như Hòa thượng Thiền sư hay Thượng tọa Tiến sĩ…Thế nên, “Thầy”hay nói theo ngữ ngôn Hán-Việt là “Sư phụ” (Thầy-cha)luôn khiến ta liên tưởng đến sự chở che, uy nghiêm và cao quý.

Ngày vào trường Đại học Sư phạm, tôi đã được nghe phân tích từ “pedagogy”là     “hướng dẫn trẻ thơ” (pede: đứa trẻ, gogy là hướng dẫn, chỉ đạo). Nghĩa là thầy giáo chính là người dẫn dắt tuổi thơ, hay nói cách khác chính là nhà giáo dục. Theo Georg Kerchenstener, một nhà sư phạm học lừng danh người Đức, thì tác động giáo dục là “a/một hành vi hiểu biết, b/một hành vi tình thương, c/một hành vi lý thuyết, d/một hành vi tôn giáo”.

Do những đặc tính này, cũng theo ông thì người ta có thể xác định những đặc điểm tâm lý căn bản của nhà giáo. Đó là phải có một cảm tình nào đó đối với trẻ em, một sự tế nhị tình cảm nào đó, một niềm vui vô vụ lợi đố với việc dạy học, một năng khiếu quan sát đặc biệt, giúp nhận ra nhanh chóng nhân cách của đứa trẻ theo khuynh hướng riêng tư của nó. Ông nhấn mạnh rằng nền tảng cần thiết là niềm tin vào những giá trị vượt thời gian, niềm tin nơi chiến thắng của lý trí với giác quan và quan trọng và niềm tin vào sự hy sinh chính mình để phát triển văn hóa và tinh thần cho cá nhân và nhân loại.

Liệu có cao xa quá đối với các nhà giáo chúng ta hôm nay, những người vẫn luôn tự hào làm nghề “sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo, cao quý nhất trong những nghề cao quý”?

Liệu niềm tin vào thiên lương của con người có là một điều xa xỉ chăng?

“Thầy ơi!”luôn là tiếng gọi trân trọng và thiêng liêng vì nó ngăn chúng ta khỏi mọi cám dỗ và suy đồi của lương tri một khi nhớ rằng sau lưng mình còn bao nhiêu cặp mắt đang hướng về với tất cả sự ngưỡng vọng dù đó là tiếng gọi một thầy giáo, thầy tu hay là thầy dạy võ đi nữa…

Nhà thơ Anh William Wordsworth đã viết trong bài thơ Rainbow: “The chid is father to the man”(tạm dịch: “Trẻ thơ ơi, mầm sinh trưởng nên người”) vì những đứa trẻ hôm nay sẽ là những người lớn của ngày mai. Cái hạt gieo bây giờ sẽ là hoa, là trái mai sau. Chúng ta muốn ươm trồng hạt tốt để có hoa thơm trái đẹp, muốn có những người trẻ tự tin, tràn đầy sức sống, nghị lực và quan trọng nhất là có văn hóa theo đúng nghĩa của từ “cultured” (được vun trồng).

Nói như J J. Rousseau, “Thiên nhiên muốn rằng những đứa trẻ là những đứa trẻ trước khi là người lớn. Do đó tuổi trẻ có vai trò của mình, địa vị của mình và sự tự trị tương đối của mình…

Người ta than phiền về tình trạng của tuổi thơ; người ta không thấy rằng loài người sẽ bị diệt chủng nếu người lớn không bắt đầu làm đứa trẻ” (Emile).

Tôi vẫn mãi nhớ những câu chuyện trong Bài ca sư phạm về nhà giáo cộng sản lừng danh của Liên Xô trước đây – Makarenko, người đã quản lý một trại giáo huấn trẻ em phạm pháp. Câu chuyện về ngày đầu vào trại, trước mặt các em, cầm tập hồ sơ dày cộm mà công an giao cho ông về những tội lỗi mà các em đã phạm khi còn ở bên ngoài, ông đã châm lửa đốt và tuyên bố: “Kể từ hôm nay, các em sẽ sống một cuộc đời khác và tôi không cần biết các em đã phạm tội gì trước đây” hay câu chuyện về việc ông giao cho một tay đầu gấu đi lãnh tiền cho trại. Cậu ta ngạc nhiên hỏi: “Thầy có biết em đã lấy bao nhiêu tiền của người khác trước đây không?”, câu trả lời của Makarenko là : “Tôi tin em”. Câu trả lời ngắn gọn và đầy tâm lý của Makarenko đã làm cậu bé bật khóc vì không bao giờ nghĩ rằng lại có người đặt niềm tin nơi mình trên đời nữa.

Thế đấy, một ông thầy luôn nhìn học sinh mình trong ánh mắt hướng thiện và hướng thượng; ông thầy luôn tin rằng con người luôn phát triển biện chứng theo những gì anh ta được giáo dục và không thể có một người xấu nếu anh ta hấp thụ một nền giáo dục nhân bản qua những người thầy ứng xử mang đậm chất nhân văn. Nói theo John Locke, một nhà giáo dục người Anh, thì “Con người hạnh phúc thật sự, đó là con người đã học được cách tự ghép mình vào kỷ luật”.

Đến cái nhìn của công an…

Người công an, ngược lại, ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới này cũng đều có nhiệm vụ bảo vệ sự công bằng và an bình bằng các biện pháp trấn áp và truy xét. Mọi quan chức, chính khách, mọi ông thầy đều có khả năng phạm tội và họ đều có nhiệm vụ hoài nghi bất kỳ ai có dấu hiệu nghi vấn.

Thế nên khi nhờ đến công an, theo ý tôi, các thầy đã dùng “hạ sách” hay là cách xử lý tệ nhất trong các cách xử lý. Chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu ông thứ trưởng, giám đốc, các tay anh chị lẫy lừng hầm hố khi gặp công an đã trở nên hoảng loạn, thất kinh hồn vía như thế nào (!). Vậy tại sao lại giao con trẻ cho những người thực thi pháp luật ở mức độ cuối cùng?

John Locke cho rằng: “Đánh đòn là một thứ kỷ luật nô lệ làm cho tính tình trở thành nô lệ”. Theo một số nhà giáo dục thì: “Hiển nhiên có lúc ta cũng phải dùng roi, nhưng mục tiêu của mọi cuộc giáo dục đạo đức vẫn là đào luyện đứa trẻ thế nào cho sự xấu hổ thắng thế sự sợ hãi bị trừng phạt. Quá nhiều nghiêm khắc, quá nhiều trừng phạt sẽ đương nhiên làm cho đứa trẻ trở thành giả dối”. (Jean Château – Triết lý giáo dục).

Các thầy nghĩ gì khi trấn áp học sinh bằng những nghiệp vụ thẩm vấn của công an?. Những hoảng loạn đầu đời sẽ để lại những vết sẹo về nhân cách và cảm xúc (emotional scars) lâu dài trong tâm thức các cháu về sau. “Sự làm nhục, cũng như sự trấn áp về tinh thần bởi những người thầy tự kỷ và thiếu hiểu biết sẽ gây ra những tác hại nặng nề không xóa được trong tâm hồn trẻ thơ, thường có ảnh hưởng tai hại lên cả cuộc đời sau này” (A. Einstein – Aus meinen sparten Jahren).

Giáo dục trẻ thơ dưới cái nhìn Phật giáo

Phật giáo lấy con người làm đối tượng và cứu cánh cũng ở con người. Giáo dục Phật giáo lấy việc xây dựng con người làm tiên quyết vì con người ấy sẽ xây dựng thế giới cho chính họ. Trong lãnh vực đào tạo con người, Phật giáo nhằm vào 3 lĩnh vực: Giới học, Định học và Tuệ học, mà các nhà giáo dục phương Tây thế kỷ XIX gọi đó là Đức dục, Thể dục và Trí dục. Về phương diện Đứcdục, Phật giáo không dạy ta lòng thương hại ban ơn. Từ bi nhẫn nhục là một sức mạnh vô song. Nới như một nhà nghiên cứu thì “Giáo dục Phật giáo là giáo dục chuyển hóa không tiêu diệt, giáo dục hòa hợp không chinh phục”, nhằm mục đích “Biến phiền não thành bồ đề. Ngôi nhà ngàn năm tăm tối, thắp đèn lên bóng tối đi đâu? Khi ngọn lửa trí tuệ bừng lên thì vô minh phiền não cũng như thế đó”. (Lý Kim Hoa – Giáo dục Phật giáo).

Về nguyên tắc, phương pháp giáo dục Phật giáo gồm trong 6 chữ: khế lý, khế cơ và khế thời. Khế là phù hợp, phù hợp lý luận và sự thật (khế lý), phù hợp căn cơ hoàn cảnh và trình độ đối tượng (khế cơ); và phù hợp nhu cầu của thời đại (khế thời).

Giáo dục trẻ thơ không thể bằng dọa nạt, đòn roi, mà phải bằng lòng yêu thương, để có thể đạt đến kỷ luật nội sinh, vì bản chất kỷ luật nhà Phật là tinh thần tự giác: “Tự thắp đuốc lên mà đi”. Nhưng trước hết chúng ta, những bậc làm cha, làm mẹ, làm thầy, hơn bao giờ hết, phái thắp sáng trái tim thơ trẻ bằng việc giáo dục lòng yêu thương và đặt niềm tin nơi các em để các em có thể tự rèn luyện mình mai sau.

Đã đến lúc người làm công tác giáo dục phải nhìn lại mình xem ngọn đuốc trong lòng mình đã đủ sáng chưa mà lại vội vã dập tắt chút lửa vừa nhen của niềm tin vào đời của con trẻ? Hay chúng ta đã đánh mất khả năng giáo dục của mình? Bất cứ hành vi giáo dục khiên cưỡng, vùi dập nào cũng để lại những di họa khó lường cho mai sau.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 34 NGUYÊN CẨN

(Visited 146 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Giáo Dục, Nguyên Cẩn, Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *