Lương Tâm và Làm Ăn

| 13/08/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 35 | THANH TIẾN

Những ngày gần đây, trên phương tiện truyền thông, hai chữ “lương tâm” bỗng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Khái niệm có “lương tâm” thường gắn liền với sự không làm hại cho người khác. Làm ăn có lương tâm có nghĩa là làm giàu nhưng không làm hại cho người, cho môi trường sống.

luong-tam-va-lam-anLàm giàu mà không làm hại người khác. Hai mệnh đề đó dường như đối nghịch, cái này kềm chế cái kia. Một cách phổ biến, dường như mọi người cho rằng lương tâm cản trở sự thu lợi, hay thậm chí làm suy giảm lợi nhuận. Lương tâm được xem như không tương thích với lợi nhuận. Nặng hơn có người suy nghĩ rằng, nếu sống thành thực thì không thể làm ăn gì cả và cho rằng sống có lương tâm thì nghèo. Cũng vì thế mà có người nghĩ sống nghèo cho thanh bạch. Phim ảnh ti vi luôn có những bộ phim mà trong đó những người tử tế thì nghèo, còn những người ‘mánh mung’ thì sung sướng. Lâu lâu ta có thể nghe  những câu chì chiết (trong phim, kịch…) một cách phẩn chí rằng ‘tử tế có mài ra mà ăn không?’. Điều đó có nghĩa là mâu thuẫn giữa lương tâm và làm ăn sinh lợi được nhiều người – cả người “có lương tâm” và người “vô lương tâm” – xem là mâu thuẫn đối kháng. Để có lương tâm, dường như phải có một sự “hy sinh”. Để có trách nhiệm thì phải “vượt qua những ước muốn cá nhân, phải biết vì mọi người”. Đẳng thức chung là lương tâm = không sinh lợi thua thiệt. Vì hiểu sống có “lương tâm” là phải hy sinh, nên nếu tự mình làm điều gì không đúng, thì người ta biện hộ: “cơm áo gạo tiền mà!” hay thậm chí “Tôi đâu phải là Thánh, tôi còn phải sống đã chứ”.

Trong thời ggian độ chừng chục năm trở lại đây, khi nền kinh tế thị trường phát triển, để tăng lợi nhuận trong việc mua bán nông sản thực phẩm, người ta thường sử dụng các loại hóa chất để trừ sâu, để bảo quản…Rau cải được phun thuốc trừ sâu trước khi thu hoạch để sâu rầy không kịp ăn, và bề ngoài của rau láng mướt. Nếu bạn là người được xem như “người trong nhà” thì sẽ được cho biếu những loại rau, trái còi cọc, không được đẹp và giải thích: “đây là đồ để nhà ăn, không có phun thuốc”. Nếu có người hỏi vặn: “Sao lại bán loại rau độc như vậy” thì sẽ được trả lời: “nếu không làm như vậy thì ai thèm mua, chết đói cả lũ”. Xã hội với quan hệ ngày càng phức tạp, nên sự phân biệt giữa mình và người ta thật là khó.Mình chjo người ta ăn đồ có thuốc trừ sâu thì người taq cho mình ăn loại thực phẩm có màu công nghiệp. Rồi con mình lấy cháu người ta, họ hàng người ta lấy cháu mình…hôm qua là con người ta, hôm nay là người nhà của mình. Vậy thì cái mình bán cho ‘người ta’ hại lại con cháu của mình. Tất cả đều biện minh bằng câu “vì cuộc sống”. Như vậy là “vì cuộc sống” mà mình  làm cho ‘người ta “ trở nên có khả năng bị ung thư.

Khi các nhà máy được xây dựng, các quy tắc về môi trường đã không được quan tâm từ đầu. Các nhà sản xuất đã lờ các khoản chi phí được coi là “không có giá trị gia tăng”. Trong một không khí như vậy, những người sản xuất có lương tâm dường như bị chìm lẫn và cô độc trong một thị trường ô nhiễm. Khi vụ nước tương “bẩn” xảy ra, dư luận lại nói đến khái niệm “lương tâm”. Cả người biện hộ lẫn người lên án  đều dùng cách hiểu “lương tâm, trách nhiệm” đang dùng  phổ biến với đẳng thức lương tâm = ít sinh lợi. Người phát ngôn của một công ty nói trên nền suy nghĩ ấy: “Giá thành loại nước tương này (tức là loại không có  3- MCPD) cao và mùi vị không được người tiêu dùng  ưa chuộng, nên rất khó bán”. Các cán bộ chuyên trách thì thấy việc kiểm soát thực phẩm một cách có lương tâm như việc phải làm thêm, nhọc mệt. Những người phản đối thì nói: “Tại sao lại kiếm lợi vô lương tâm như vậy trên sức khỏe của người dân, bớt đi tiền lời một ít có hơn không”. Mọi người bây giờ đều thấy sự biện bạch của công ty ấy là ngụy biện mà không để ý rằng đó là một lối suy nghĩ cũng cùng nền tảng với những người phản đối: lương tâm = nhọc mệt, thiệt hại cho bản thân.

Bây giờ thì các cơ sở sản xuất buộc phải thu hồi nước tương,  sự thiệt hại đã rõ ràng, ta có thể thấy sự “vô lương tâm” ấy đã chuyển hóa thành thiệt hại tiền bạc. Ta có một đẳng thức mới: “vô lương tâm = thiệt hại”. Chữ “vô lương tâm” từ “phạm trù đạo đức” bỗng đột nhiên biến thành thiệt hại vật chất. Nền kinh tế không chỉ thiệt đơn hay thiệt kép mà thiệt vô số mặt. Người tiêu dùng bị thiệt hại vì dùng sản phẩm độc hại. Nhà sản xuất thiệt hại vì bị thu hồi nước tương. Ngành sản xuất VN bị mất uy tín trên thị trường  thế giới, ngành du lịch bị thiệt hại vì ẩm thực cũng là một trong những yếu tố quan trọng của du lịch.  Hiện tượng có loại nước tương “bẩn” được liệt vào danh sách hàng chất lượng cao làm mọi người nghi ngờ danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”. Câu hỏi được đặt ra là: những tiêu chuẩn được đặt ra cho “hàng chất lượng cao” có đúng, có đủ không? Liệu có những người điều hành chương trình “Hàng VN chất lượng cao” có cải tiến các tiêu chuẩn xét duyệt của mình để trám những lỗ hổng như trường hợp vừa xảy ra hay không?

Hiện tượng nước tương “bẩn” vừa qua cũng biểu lộ sự thiếu vắng các loại hình phạt thích đáng cho hành vi  sản xuất hàng có hại. Cũng cùng nền tảng suy nghĩ phổ biến trong xã hội hiện nay, hình thức phạt được hiểu  là hình thức làm cho các nhà sản xuất  phải sợ và hình phạt nhằm để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Các nhà sản xuất là đối tượng và mục tiêu của hình phạt. Tuy nhiên cũng phải nói thêm, mục tiêu “làm cho những nhà sản xuất phải sợ” này hiện tại cũng chưa đạt được. Mức phạt hành chính vài triệu đồng chỉ tương tự như phạt một cá nhân xả rác tại Singapore. Người xả rác (hay hút thuốc lá không đúng chỗ) sẽ bị phạt 500 dola Singapore (khoảng trên 5 triệu đồng VN). Liệu những quan chức đã đi “tham quan học tập” tại Singapore tại Singapore có thấy sự so sánh khôi hài này? Liệu mục tiêu dành cho ‘nhà sản xuất sợ” và để ‘bảo vệ người tiêu dùng’ có đạt được với mức phạt như vậy hay không?

Nếu hiểu rằng “vô lương tâm = thiệt hại” thì hình phạt phải dựa trên một cách hiểu khác. Hình phạt không phải làm cho các nhà sản xuất sợ, không chỉ bảo vệ người tiêu dùng mà còn phải giúp cho nhà sản xuất đi đến chỗ hiểu được rằng hình phạt là một hàng rào phòng vệ, một loại vác-xin để điều chỉnh các suy nghĩ. Nếu có hình phạt thích đáng để thi hành từ khi mọi việc chưa trầm trọng thì các nhà sản xuất nước tương đã không chắc đã không sản xuất sản phẩm xấu tràn lan như hiện nay và họ đã chẳng phải bị thu hồi sản phẩm cũng như bị bêu xấu thương hiệu của mình. Chính trong ý nghĩa đó, hình phạt mang ý nghĩa phòng vệ cho chính bản thân người sản xuất. Nhà sản xuất không phải là mục tiêu của hình phạt. Hình phạt phải có mục tiêu điều chỉnh nhận thức. Hình phạt phải thiết lập cho được đẳng thức; “vô lương tâm = thiệt hại”. Hình phạt ấy sẽ là sự bảo vệ cho chính nhà sản xuất trên sân nhà. đặc biệt là sự bảo vệ và tạo một dư luận đồng thuận cho các nhà sản xuất có lương tâm. Hình phạt ấy còn cho phép xử lý các trường hợp các nhà sản xuất nước ngoài sản xuất hàng kém chất lượng tại VN.

Hơn tất cả, mỗi người trong chúng ta cần phải tự đặt câu hỏi cho chính mình: “lương tâm” có  nghĩa là phải chịu  thiệt đúng hay không? Đẳng thức “lương tâm = thiệt hại” bản thân có đúng hay không? Và ‘vô lương tâm””có phải là sẽ đem lại lợi lộc nhiều hay không? Người tiêu dùng ngày nay khác hẳn cách đây 10 năm về trước, có có thể ngồi ở nhà và mua hàng hóa không phải chỉ ở VN. Trong thế giới phẳng, hậu WTO, thế giới chỉ là một “ngôi làng lớn”. Hàng rào bảo vệ thuế quan bây giờ không quan trọng bằng hàng rào phòng vệ của lòng người. Sự đồng lòng của người tiêu dùng đã khiến Tập đoàn Wal-Mart không thành công ở Hàn Quốc. Việc hàng hóa VN kém chất lượng, ở mức độ có thể gây chết người, cũng đồng nghĩa với việc người tiêu dùng sẽ mở cửa cho các loại hàng hóa có chất lượng ở nước khác thâm nhập thị trường và cũng đồng nghĩa với sự hủy diệt các doanh nghiệp trong nước một cách lặng lẽ. Đó sẽ là một thảm họa.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 35 | THANH TIẾN

(Visited 125 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *