Nói về tuổi hoa niên

| 18/09/2015 | 0 Comments

Vấn đề | Nguyễn Văn Nhật

noi-ve-tuoi-hoa-nienĐể nói đến giai đoạn phát triển quan trọng nhất trong đời một con người khi chuyển từ thời kỳ trẻ thơ sang thời kỳ trưởng thành, nghĩa là nói về lứa tuổi thiếu niên, ngữ vựng Việt Nam có một danh từ rất dễ thương gọi là “thời hoa niên” hay “tuổi hoa niên”. Giai đoạn này kéo dài trong vòng gần mười năm kể từ lúc một người còn là một đứa trẻ được hơn mười tuổi cho đến lúc trở thành một thanh niên chưa tới hai mươi tuổi, tùy theo từng cá nhân. Trong tiếng Anh,giai đoạn này được gọi là teenager. Nhưng vì cộng đồng nói tiếng Anh vốn dĩ luôn tất bật, ngày nay, những người nói tiếng Anh chỉ gọi cộc lốc về giai đoạn này là teen. Với xu thế hội nhập của xã hội Việt Nam trong vài thập niên gần đây, từ “tuổi teen” hầu như đã trục xuất từ “tuổi hoa niên” ra khỏi ngôn ngữ người Việt, nhất là trong ngôn ngữ giới trẻ cũng như giới kinh doanh quảng cáo và giải trí với mọi loại hoạt động trình diễn.

Cùng chỉ về một giai đoạn sôi nổi nhất trong một đời người, mỗi từ mang lại cho từng loại người nghe những cảm giác khác nhau. Đối với những người có tinh thần hoài cổ và có tính cách nghiêm khắc, “tuổi hoa niên” gợi nên một sự chuẩn bị đầy thơ mộng để được đón tiếp vào môi trường hoạt động của những người trưởng thành có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và với xã hội trong khi “tuổi teen” mang lại cho họ cảm giác phải tiếp xúc với những người trẻ thực dụng, quyết liệt xông vào thế giới người lớn bằng sự đua chen, giành giựt. Ngược lại, với những người có tư tưởng cách tân và có tính cách dễ dãi, ba tiếng “tuổi hoa niên” nghe lạ lẫm, rườm rà, văn vẻ một cách không cần thiết trong khi từ “tuổi teen” thể hiện một tinh thần xông xáo, thực tiễn, sẵn sàng chấp nhận mọi thách thức để tự thể hiện mình. Thật ra, bản thân các từ ngữ không có lỗi gì. Sự khác biệt sở dĩ đã xảy ra vì có sự can thiệp của một bên là các hoạt động giáo dục còn bên kia là các hình thức hoạt động quảng bá và giải trí.

Theo các nhà tâm sinh lý học, tuổi hoa niên hay tuổi teen là giai đoạn có những biến đổi mãnh liệt về mặt tâm lý và sinh lý nơi con người. Về phương diện sinh lý, hiện tượng quan trọng nhất trong giai đoạn này gọi là hiện tượng dậy thì, lúc cơ thể có sự hoạt động mạnh mẽ của tuyến yên, tiết ra những kích thích tố sinh dục chuyển vào mạch máu để thúc đẩy sự hoàn thiện của các tuyến sinh dục. Hiện tượng này kết thúc vào khoảng 17 hay 18 tuổi ở trẻ nam và vào khoảng 16 tuổi ở trẻ nữ. Đó là lúc trẻ em đã trở thành người lớn. Tuy nhiên, về phương diện tâm lý, những biến đổi về nhận thức,cảm xúc và thái độ trong quá trình dậy thì không phải lúc nào cũng song hành với sự phát triển cơ thể. Trong một môi trường gia đình ổn định, những biến đổi này có thể đem lại một sự phát triển tích cực về nhân cách. Ngược lại, sống trong những hoàn cảnh bấp bênh, trẻ có thể có những biểu hiện xung đột với gia đình, học đường và xã hội. Một điểm quan trọng là trẻ trong giai đoạn dậy thì chịu áp lực rất nặng của những trẻ đồng trang lứa. Khát vọng tự khẳng định mình kết hợp với khao khát tìm biết những điều mới lạ, lại bị sự thúc giục của các kích thích tố sinh dục bơm vào trong máu, trẻ tuổi teen thường có khuynh hướng nổi loạn, một mặt, có thể đưa các em vươn đến sự hoàn thiện cá tính và nhân cách, mặt khác, có thể đẩy một số em vào tình trạng mất phương hướng. Nói chung, hầu hết giới trẻ tuổi teen tìm mọi cách để thoát khỏi những ước thúc của gia đình và học đường để sớm hòa nhập vào xã hội. Nói khác đi, giới trẻ tuổi teen bị giằng kéo giữa một bên là môi trường giáo dục còn bên kia là môi trường quảng cáo và môi trường giải trí. Do nhận thức và kiến thức chưa đầy đủ, các em dễ bị sa ngã vào những hành vi thiếu sự kiểm soát của lý trí.

Trong xã hội chịu tác động mạnh mẽ của nền thương mại toàn cầu như hiện nay, hoạt động quảng cáo đã được đẩy mạnh để phục vụ cho lòng tham vô độ của những nhà kinh doanh luôn mong muốn phát tiển lợi nhuận đến vô hạn. Một trong những đối tượng quan trọng của hoạt động quảng cáo là giới trẻ tuổi teen. Đành rằng nói chung giới trẻ tuổi teen cũng đã có một khả năng nhận thức và tư duy đáng kể đẻ có thể có những đánh giá về nội dung của các chương trình quảng cáo và những chiến dịch tiếp thị, nhưng dầu sao thì các em cũng chưa đủ kiến thức để xác định một thang giá trị đúng. Trong khi đó, với đặc điểm tâm sinh lý của tuổi teen, các em dễ dàng chịu ảnh hưởng của những hình thức hấp dẫn mà mọi chương trình quảng cáo, mọi chiến dịch tiếp thị có thể mang lại. Từ đó, giới trẻ tuổi teen trở thành những con mồi mà mọi kế hoạch tìm kiếm khách hàng tươn glai đều nhắm tới. Các nhà nghiên cứu về tác hại của quảng cáo quá độ đã báo động rằng hoạt động quảng cáo đang đặc biệt nhắm đến lứa tuổi hoa niên và đang nỗ lực biến những người trẻ trở thành chỉ là những kẻ tiêu thụ.

Một điều đáng quan ngại là hoạt động quảng cáo trên khắp thế giới đang ngày càng trở thành một ngành kinh doanh mang lại những khoản lợi nhuận kếch xù mà nhiều ngành kinh tế khác phải phụ thuộc vào. Thống kê cho biết trong năm 2006, toàn thế giới đã chi gần 400 tỷ đô la Mỹ cho các hoạt động quảng cáo. Ở nước Đức chẳng hạn, kỹ nghệ quảng cáo đã đóng góp tới 1,5% tổng thu nhập quốc dân. Có thế nói, quảng cáo và sự tăng trưởng kinh tế đã có những quan hệ trực tiếp và mang tính nhân quả. Một số nhà kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo còn đi xa hơn tới mức cho rằng quảng cáo có thể thay thế tôn giáo trong vai trò của một định chế quan trọng tác động đến tâm hồn con người. Trong điều kiện ấy, lớp trẻ tuổi teen là những nạn nhân chịu tác động nặng nề nhất.

Một môi trường khác cũng có tác động lôi kéo lớp tuổi hoa niên là ngành kỹ nghệ giải trí, còn được gọi là show-biz. Danh mục những hoạt động của kỹ nghệ giải trí ngày càng kéo dài, từ những hoạt động truyền thống như lễ hội, thơ văn, kịch nghệ, vũ trường, thể thao đến những phương tiện hiện đại như phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, truyện tranh, trình diễn thời trang, hội chợ, trò chơi điện tử, các loại công viên có chủ đề, những chương trình đố vui và các loại game show trên hệ thống truyền thanh, truyền hình và các dịch vụ truyền tin nhắn ngắn. Với sự hỗ trợ của công nghệ điện tử, công nghệ kỹ thuật số, công nghệ truyền thông vệ tinh và công nghệ định vị toàn cầu, kỹ nghệ giải trí đã có những bước phát triển vượt bực. Tính cách hấp dẫn của những hoạt động giải trí có sự hỗ trợ của quảng cáo đã thúc giục lớp tuổi hoa niên khao khát tham dự vừa với tư cách người thưởng ngoạn, vừa với tư cách người trình diễn. Những hình ảnh hoành tráng của một vài cá nhân thành công trong lãnh vực kỹ nghệ giải trí được quảng bá rộng rải càng làm cho những người trẻ chưa có định hướng mong mỏi đạt được những thành công tương tự.

Xét về tác động làm tha hóa con người, có thể nói kỹ nghệ quảng cáo và kỹ nghệ giải trí là một cặp bài trùng đã có những tác dụng tương hỗ tuyệt vời trong việc thu hút lớp tuổi hoa niên. Nhà quảng cáo sử dụng hoạt động giải trí để gây sự chú ý của lớp công chúng trẻ tuổi đối với nội dung quảng cáo của mình. Nhà tổ chức hoạt động giải trí nhờ đến kỹ nghệ quảng cáo để đưa nội dung giải trí của mình đến với công chúng tuổi trẻ. Lứa tuổi hoa niên bị vây bọc giữa trùng trùng lớp lớp những hoạt động quảng cáo và giải trí đan xen nhau. Kết quả là ngày càng có nhiều thiếu niên sau khi bị nhiễm độc của quảng cáo (lưu ý rằng ngành show-biz về thực chất cũng là một công cụ của quảng cáo), đã thích tự chứng tỏ mình bằng lối sống sành điệu, bằng việc đua đòi mua sắm các phương tiện khác người sao cho không đụng hàng…

Trong lúc quảng cáo và giải trí đặt lên giới trẻ một sức hút vô cùng lớn thì gia đình và nhà trường ngày nay lại tạo ra cho họ những lực đẩy âm thầm mà không tự biết. Mô hình gia đình trong đó cả vợ lẫn chồng đều phải lăn ra xã hội kiếm sống để nuôi con mà lại không có ông bà hỗ trợ trong việc chăm sóc và giáo dục người trẻ đã khiến cho lớp trẻ không biết trông cậy vào đâu. Ngay cả trong những gia đình có thu nhập khá mà cha mẹ đều mải mê chạy theo danh vọng giao con cái cho người giúp việc trông coi, tình trạng cũng không khá hơn. Các nhà tâm lý học đã khẳng định rằng môi trường gia đình ổn định là một khía cạnh vô cùng quan trọng trong tâm lý của người vị thành niên. Ngôi nhà ấm cúng và sự thương yêu của những người thân có một tác động quan trọng đến việc phát triển tâm thức của người trẻ. Khi thiếu vắng sự chăm sóc của những người thân yêu có kinh nghiệm sống, người trẻ sẵn sàng tìm đến sự an ủi ở các hình thức giải trí và nơi bạn bè, cũng là những người chưa hình thành được một thang giá trị đúng mực. Sự tập hợp của những người cùng chưa biết thế nào là đúng và sai tất yếu dẫn đến những hànhvi không có sự kiểm soát của lý trí.

Một thành trì khác có tác dụng ngăn ngừa sự lỡ lầm của tuổi trẻ là học đường thì học đường ngày nay cũng bày ra vô số yếu kém. Chỉ riêng việc chương trình học không thu hút và các hình thức giảng dạy không quyến rũ đã đủ đẩy lứa tuổi hoa niên ra khỏi sự bảo bọc của nhà trường. Chưa kể vô số những vấn đề liên quan đến cơ sở trường lớp, đến tình trạng an ninh trong và ngoài trường học, đến những quy định vô lý của một số trường tự đặt ra không dựa trên lợi ích của trẻ…

Trong mùa khai trường năm nay, một vài lãnh đạo cao cấp của nhà nước khi đến dự lễ khai giảng ở một số nơi đã phát biểu rằng ngành giáo dục phải quan tâm đến việc xây dựng nhân cách cho học sinh. Vấn đề đặt ra là trước hết phải có một mẫu nhân cách chuẩn không phải là một mẫu duy nhất cho mọi lứa tuổi. Lâu nay, xã hội quá chú ý đến những đề ở tầm vĩ mô, cho nên ngay từ những lớp tiểu học, học sinh đã phải tiếp thu những khái niệm quá tầm suy nghĩ của các em như tổ quốc và đồng bào. Vì thế, bên cạnh những đòi hỏi về cải cách, có lẽ ngành giáo dục cũng cần điều chỉnh những yêu cầu về nhân cách học sinh cho phù hợp với từng lứa tuổi.

Có một kinh nghiệm về việc giáo dục nhân cách cho lớp trẻ mà các nhà giáo dục Phật giáo Việt Nam đã từng áp dụng từ cách đây bảy chục năm. Lúc bấy giờ, đối với lứa tuổi từ 6 tuổi đến 11 tuổi, các nhà giáo dục Phật giáo Việt Nam chỉ đưa ra ba câu châm ngôn đơn giản: 1. Em tưởng nhớ Phật; 2. Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em; 3. Em thương người và vật. Vì là đoàn thể tôn giáo nên các nhà giáo dục Phật giáo Việt Nam có đưa vào hình tượng Đức Phật, vị thầy vĩ đại của mọi chúng sinh, mà cũng là một hình tượng quen thuộc đối với mọi trẻ em trên cả nước. Ngoài ra, tiêu chuẩn nhân cách của các em chỉ đặt ở chỗ biết kính mến cha mẹ, biết thuận thảo với anh chị em, biết thương yêu mọi người mọi vật. Đối với các thành viên từ 12 tuổi trở lên, các em đã được coi là một Phật tử có ý thức, những tiêu chuẩn nhân cách được nâng lên và cũng là tiêu chuẩn nhân cách cho cả hàng trưởng bối. Tuy vậy, những tiêu chuẩn ấy cũng không quá cao xa. 1. Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện; 2. Phật mở rộng lòng thương và tôn trọng sự sống; 3. Phật tử trau giồi trí tuệ và tôn trọng sự thật; 4. Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm; 5. Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo. Tất nhiên, là người Phật tử thì phải quy y Tam bảo và phải tự nguyện giữ vững năm giới để tự phòng hộ. Ngoài ra, những tiêu chuẩn nhân cách khác của người Phật tử từ tuổi hoa niên cho đến tuổi trưởng thành cũng chỉ đơn giản là biết thực hành theo Bi, Trí và Dũng, vì những yêu cầu khác đều đã gồm trong việc giữ giới đã phát nguyện.

Có thể nói, nhờ có những tiêu chuẩn nhân cách rõ ràng cụ thể và đơn giản mà các đoàn thể thanh thiếu niên Phật tử lúc ấy – mà quy mô nhất là tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam – đã có những đóng góp xứng đáng cho việc xây dựng những con người biết tôn trọng các quy định của xã hội, biết tham gia vào những công cuộc đem lại lợi ích chung cho cộng đồng, biết từ bỏ những quyền lợi riêng tư nhỏ nhen để lo cho công cuộc chung, và biết bảo vệ môi trường sống.

Tuy nhiên, một phần cũng nhờ bối cảnh ra đời của các đoàn thể thanh thiếu niên Phật tử khi ấy là lúc các hoạt động của kỹ nghệ quảng cáo và kỹ nghệ giải trí chưa có quy mô như ngày nay. Mặc dù vậy, những hình thức giáo dục của các đoàn thể thanh thiếu niên Phật tử thời ấy cũng đã chú trọng đến yếu tố thu hút người được giáo dục, thông qua những hoạt động thanh thiếu niên phù hợp với tâm lý lứa tuổi mà không đặt nặng vấn đề ganh đua, thành tích.

Như vậy, ngay cả khi ngành giáo dục đã đưa ra được những tiêu chuẩn nhân cách rõ ràng, cụ thể, đơn giản và thích hợp với từng lứa tuổi cho học sinh cả nước; và tiếp theo, đã xây dựng được một chương trình học có thu hút, đã tổ chức được những cán bộ giảng dạy có những biện pháp giáo dục sinh động, thì cả xã hội cũng vẫn cần phải tham gia giúp sức ngành giáo dục trong việc xây dựng nhân cách cho học sinh. Thật vậy, trong bối cảnh cả xã hội đang hàng ngày chịu những tác động tiêu cực của đủ mọi loại hình thức quảng cáo và giải trí nở rộ khắp nước, có những loại hình còn tận dụng được cả những kênh truyền thông chính thức của nhà nước, thì mọi cố gắng của riêng ngành giáo cũng sẽ chẳng thấm gì so với tác dụng xói mòn nhân cách con người của những hoạt động độc hại kia.

Đã đến lúc toàn xã hội phải ý thức được rằng sự tăng trưởng dựa trên sự xói mòn nhân cách của lớp trẻ chính là một đại họa trong một tương lai không xa. Những hiện tượng đau lòng như vụ sinh viên không đủ điểm tốt nghiệp tạt a-xít vào thầy giáo không còn là hiện tượng cá biệt, cần phải ngăn ngừa càng sớm càng tốt.

Và như vậy, bên cạnh những nỗ lực cải tiến của ngành giáo dục, kế hoạch xây dựng nhân cách cho học sinh đòi hỏi nhà nước phải có những biện pháp mạnh chấn chỉnh ngay lập tức các hoạt động kinh doanh quảng cáo và giải trí đang tỏ ra không biết đến giới hạn đạo đực. Chỉ như thế, chúng ta mới hy vọng một thế hệ thanh niên tương lai là những người công dân tốt của một xã hội lành mạnh.■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 89

(Visited 772 times, 1 visits today)

Tags: , , , , ,

Category: Nguyễn Văn Nhật, Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *