Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 20) ---  Trong suốt 150 năm qua, tại các quốc gia Tây phương đã dấy lên mối quan tâm sâu sắc đến những lời dạy của Đức Phật ngày có thêm nhiều tín đồ tại châu Âu và châu Mỹ, đã trở thành đối tượng nghiên cứu về mặt học thuật cũng như văn chương. Việc này xảy ra trong bối cảnh lịch sử khi các khủng hoảng toàn cầu về môi trường và xã hội ngày càng có chiều hướng gia tăng . (VHPG)"/>

Sự xuất hiện của Phật giáo ở Phương tây

| 16/10/2012 | 0 Comments

SỰ XUẤT HIỆN CỦA PHẬT GIÁO Ở PHƯƠNG TÂY NHẰM ĐÁP ỨNG

                 CHO NHỮNG KHỦNG HOẢNG MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI

 GS . TS. R. CLARK ,  Đại học  Stanford, CA, HOA KỲ   (Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 20)

 Trong suốt 150 năm qua, tại các quốc gia Tây phương đã dấy lên mối quan tâm sâu sắc đến những lời dạy của Đức Phật ngày có thêm nhiều tín đồ tại châu Âu và châu Mỹ, đã trở thành đối tượng nghiên cứu về mặt học thuật cũng như văn chương. Việc này xảy ra trong bối cảnh lịch sử khi các khủng hoảng toàn cầu về môi trường và xã hội ngày càng có chiều hướng gia tăng . (VHPG)

 phuong tay

Bài viết này nhằm mục đích xác nhận lại những khía cạnh khác nhau trong nền văn hóa hiện đại, cả về mặt tôn giáo và thế tục, cũng đã đóng vai trò trong tạo ra những khủng hoảng, trên mức độ là chúng đã tạo điều kiện cho những cạnh tranh trong cùng một quốc gia , những mâu thuẩn bè phái, cũng như những ham muốn vật chất đã góp phần làm cạn kiệt những nguốn tài nguyên giới hạn, làm nhiễm độc môi trường, và chúng cũng góp phần đưa đến việc gia tăng dân số thiếu bền vững.

Trong phạm vi hoạt động kinh tế, cả nền kinh tế thị trường tự do và nền kinh tế tập trung đều không thể ngăn chận một cách hữu hiệu sự gia tăng về ô nhiễm môi trường- mối đe dọa cho sức khỏe của toàn bộ hành tinh. Những hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng của ham muốn và cạnh tranh không bao giờ có thể là nền tảng cho một thế giới hòa bình, yên vui và hạnh phúc.

Khoa học cũng bị giới hạn về khả năng đưa ra giải pháp cho những khủng hoảng về  môi trường xã hội. Khoa học đã được sử dụng để khai thác này càng nhiều hơn nguồn năng lượng từ môi trường, nhưng những người được hưởng lợi từ nguồn năng lượng này lại ít có những giải pháp về mặt tài chính để đối phó hay giải quyết những sản phẩm phụ độc hại từ nguồn năng lượng này. Khoa học đã cung cấp những phương tiện để khai thác ngày càng nhiều những thực phẩm từ trái đất, tuy nhiên những người được hưởng từ thực phẩm này lại it có khả năng hay có những giải pháp nào để đảm bảo việc phân phối một cách công bằng nguồn thực phẩm này…

Như vậy nguồn động lực , tri thức và những phương tiện hữu hiệu để đề cập đến những vấn đề khó khăn ấy có thể được tìm thấy từ đâu ?

Phật giáo có thể cung cấp được nhân sinh quan và động lực cần thiết để đề cập đến những vấn đề khó khăn và phức tạp của thế giới bên ngoài chứa đựng những vấn đề về môi trường và xã hội, cũng như thế giới bên trong chứa đựng những mâu thuẫn cá nhân mà mỗi sinh vật đều gặp phải. Diều này đã được ghi nhận bởi nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử tri thức của thế giới Tây phương.

Phat giao Phuong TayAlbert Einstein, người có ảnh hưởng lớn trong giới khoa học  khi đề cập đến sự cần thiết phải có tôn giáo chung trên toàn cầu để hỗ trợ cho việc tìm hiểu thấu đáo về khoa học hiện đại , đã phát biểu :

“ Phật giáo có những đặc trưng của một tôn giáo mang tính toàn cầu trong tương lai mà mọi người mong đợi, nó vượt xa giới hạn của sự thờ cúng cá nhân một vị thần hay thánh, và tránh được chủ nghĩa giáo điều hay thần học ; nó bao gồm cả lĩnh vực tự nhiên và siêu nhiên; và nó dựa trên một cảm nhận về tâm linh xuất phát từ kinh nghiệm tiếp xúc với mọi vật, dù mang tính tự nhiên hay siêu nhiên , như một tổng hợp có ý nghĩa . nếu có được một tôn giáo nào có khả năng đáp ứng được những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó chính là Phật giáo”.

Những lời phát biểu của Einstein đã phản ảnh sự thán phục của ông về việc Phật giáo có thể đem đến cho mọi người lòng từ bi và đạo đức – hai yếu tố rất quan trọng trong nền văn hóa Do Thái, cũng như một quan điểm logic mang tính phân  tích tuyệt đối – nền tảng của những ý tưởng khoa học. Tuy nhiên, không giống như khoa học, Phật giáo lại là một nguồn lợi ích và hạnh phúc đáng tin cậy cho tất cả mọi người.

Một nhà khoa học Do Thái nổi tiếng khác. J. Robert Oppenheimer, cũng nêu ra một vài lĩnh vực tương đồng giữa quan điểm của Phật giáo và quan điểm khoa học hiện đại :

Ví dụ như, nếu chúng ta đưa ra câu hỏi là vị trí nào một electron có cố định không , câu trả lời sẽ là “không”. Nếu chúng ta đưa ra câu hỏi là vị trí của electron có thay đổi theo thời gian không . Câu trả lời sẽ là “không”. Nếu chúng ta đưa ra câu hỏi là electron có nhừng chuyển động không, câu trả lời sẽ là “không”. Đức Phật đã đưa ra những câu trả lời như vậy khi có người hỏi Ngài về những trạng thái của cái “Ngã” của một người sau khi người ấy qua đời, nhưng đó không phải là những câu trả lời quen thuộc đối với khoa học ở thế kỷ XVII và XVIII ”.

Nhà tư tưởng nhận đạo Albert Schweitzer thì phát biểu một cách mạnh mẽ quan điểm đặc sắc của Phật giáo về Tứ diệu đế và các pháp giới. Việc xuất phát từ quan điểm đạo đức Phật giáo có thể giúp tìm ra được nền tảng cho những giải pháp đối với những vấn đề của thế giới hiện đại. Nếu tuân thủ những giới luật căn bản do Đức Phật đề ra , thì xã hội sẽ được hòa hợp và mọi người sẽ có trách nhiệm đối với môi trường sinh sống . Schweitzer đã phát biểu về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni như sau :

“ Người đã đưa ra những lời diễn giải cho những sự thất có tính xác đáng tuyệt đối, và thúc đẩy sự phát triển của những nền tảng đạo đức không những cho đất nước Ấn Độ mà còn cho cả nhân loại. Đức Phật là một trong những nhà tư tưởng tài ba lỗi lạc đã từng hiện tiền trên thế giới này”.

Các nhà tâm lý nổi tiếng cũng đã tỏ lòng thán phục sâu sắc đối với Đức Phật . Sigmund Freud và Carl Jung  đã nhìn nhận những hoạt động liên quan đến nội tâm và những kỹ thuật trị liệu để làm gia tăng sức khỏe tâm lý và hòa đồng xã hội theo chiều hướng rất tương đồng với tâm lý học Phật giáo.

Freud đã từng phát biểu :

“Không điều gì có thể ngăn cản việc chúng ta quan sát bản ngã, boặc sử dụng tri thức của mình vào việc tự phê phán bản thân”.

Mặc dù Freud không thán phục trực tiếp giáo lý của Đức Phật , nhưng ông luôn luôn đề nghị việc xây dựng một quan điểm mang tính toàn cầu dựa trên việc quan sát không ngừng những hoạt động, những ý tưởng và những quá trình tâm linh của từng cá nhân. Một cá nhân thường quan sát nội tâm sẽ là một cá nhân nhận thức được mối liên hệ mang tính nhân quả giữa hành động và hậu quả, và sẽ cảm thấy sợ hãi không muốn làm thương tổn các sinh vật hay sự vật, vì biết rằng việc làm thương tổn như thế sẽ đem lại một sự trả thù .

Phuong tayNhững nghiên cứu của Carl Jung lại trực tiếp dẫn dắt ông đến với Phật giáo :

“ Là một nhà nghiên cứu Phật giáo so sánh, tôi tin tưởng rằng Phật giáo chính là tôn giáo hoàn hảo nhất mà thế giới đã từng có được. Triết lý về thuyết Tiến Hóa và luật Nhân quả đã vượt bậc rất xa so với bất kỳ tín ngưỡng nào. Căn duyên dẫn dắt tôi đến với thế giới tư tưởng Phật giáo không phải là lịch sử tôn giáo hay những nghiên cứu triết học , mà là công việc ưa thích của tôi – bác sĩ trị liệu. Công việc  của tôi là chữa trị những vết thương về tinh thần , và chính công việc này đã thúc đẩy tôi đến việc quen thuộc với những quan điểm và phương pháp của Bậc Đạo Sư về lòng nhân đạo, với đề tài chính là chuỗi nối tiếp Sinh – Lão –Bệnh – Tử”.

Jung đã viết rất nhiều về Phật giáo, và những tác phẩm của ông đã dẫn đắt rất nhiều thế hệ người Tây phương vào con đường học hỏi và thực hành đạo Phật. Từ những học thuyết Phật giáo, Jung không chỉ thấy được quá trình tiến hóa, mà còn cả một tầm nhìn rộng lớn hơn về một vũ trụ, có liên quan và hỗ tương lẫn nhau. Trong đó, bất kỳ hành động nào của một cá nhân làm gây tổn thương cho một cá nhân khác hay cho môi trường sống đều sẽ là tác nhân trực tiếp dẫn đến việc cá nhân đó sẽ chịu khổ đau  Jung chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những lời dạy của Đức Phật khi ông tuyên bố rằng, hạnh phúc thực sự được tìm thấy không phải từ việc theo đuổi và đạt được những của cải vật chất hay cảm giác dục lạc, mà là từ việc nhận biết được sự thật tiên nghiệm. Sự chữa trị những vết thương gây ra do khủng hoảng về xã hội và môi trường trong thời đại của chúng ta chỉ có thể xuất phát từ quan điểm này mà thôi.

Trong lĩnh vực triết lý Tây phương, nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng cũng đã từng ca ngợi Phật giáo về những cống hiến to lớn của nó trong việc tìm ra căn nguyên của thực tại và những ý tưởng tự do cho toàn nhân loại, cũng như hạnh phúc muôn loài. Chẳng hạn như Frederick Nietszche đã từng nhấn mạnh đến tính thực tiễn và tính nhẫn nhục – hai đặc tính của đạo Phật – như sau :

“ Đạo Phật mang tính thực tiễn cao hơn gấp hàng trăm lần so với những tôn giáo khác . Đạo Phật bắt đầu bằng việc tiếp nhận một cách hòa nhã và khách quan mọi vấn đề. Đạo Phật đã đi sâu vào đời sống sau nhiều năm phát triển về phương diện triết lý. Khái niệm về Thượng đế cũng biến mất ngay sau khi khái niệm ấy vừa xuất hiện, và việc cầu nguyện cũng không được đặt thành vấn đề. Việc tu khổ hạnh cũng thế. Không hề có những áp đặt theo khuôn mẫu. Hoàn toàn không có sự ép buộc, ngay cả trong cộng đồng tu sĩ. Vì thế, không có việc kình địch hay chống đối lại những cộng đồng hay tín đố những tôn giáo khác. Những lời giáo huấn trong đạo Phật không nhằm mục đích chỉ trích bất cứ điều gì ngoại trừ các cảm giác hiền thù , thù hận và oán giận”.

Nietszche tỏ ý rất khâm phục phương pháp mà Đức Phật đã dạy để chịu đựng kiên nhẫn các tai ương. Khi đã hiểu được rằng tai ương tồn tại và xảy ra cho bất cứ sinh vật nào trên trái đất, thì sinh vật ấy không nên hoảng sợ và tìm cách tránh né hay làm tai nạn chệch hướng đi, mà nên tuân theo con dường tu tập chính đáng .Việc này , theo như Nietszche nói rõ hơn, không hề liên quan đến các thần linh hay ma quỷ, hay đến những lời cầu nguyện những đối tượng này, Đạo Phật không chấp nhận sự ép buộc, mà nhấn mạnh việc tự giải thoát và trách nhiệm của mỗi cá nhân. Với lối suy nghĩ như thế, Phật giáo hoàn toàn có thể chung sống hòa bình với những tôn giáo khác, và chỉ nhắm đến mục tiêu tối thượng là tiêu diệt những “ kẻ thù trong tâm” – tham , sân , si .

Nhiều văn sĩ và thi sĩ vĩ đại ở thế kỷ XIX , XX , và hiện nay là thế kỳ XXI đã xem đạo Phật là một nguồn quán chiếu nội tâm và cảm hứng sáng tác. Việc ca ngợi giáo lý đạo Phật của họ đã làm cho vô số những người dân Tây phương chú ý đến đạo Phật. Một người tiêu biểu từ khá lâu đời trong số những vẵn sĩ, thi sĩ này là Sir Edwin Amold, nhà thơ được giải thưởng lớn về văn chương của Anh Quốc, người đã xuất bản tập thơ nổi tiếng The Light of Asia của mình vào năm 1879, đã viết :

“ Về niên đại, các tôn giáo khác đều rất trẻ so với tôn giáo đáng kính này. Tôn giáo này chứa đựng sự vĩnh cửu của một niềm hy vọng của toàn thế giới, sự bất tử của niềm thương yêu vô hạn, một niềm tin không thể hủy diệt được vào cái thánh thiện tột cùng, và sự khẳng định một cách tự hào nhất từ trước đến nay vì tự do nhân loại”.

Sau khi tác phẩm The Light of Asia ra đời , hàng trăm cuốn sách có giá trị khác về đề tài Phật giáo đã được xuất bản bằng tiếng Anh , và hàng trăm kinh điển Phật giáo đã được dịch ra tiếng Anh hay các ngôn ngữ Tây phương khác. Những lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được dịch ra nhiều ngôn ngữ phương Tây, đã trở thành những lời hướng dẫn rõ ràng và ảnh hưởng sâu sắc đối với những người đang đi tìm một phương thuốc chữa trị cho xã hội và môi trường .

Những nhân cách lớn thường có sức thuyết phục rất mạnh để dẫn dắt mọi người đi  vào việc thực hành đạo Phật. Tuy nhiên, những lời dạy của Đức Phật, nếu chỉ được nghe qua lời giàng của một học giả ở trường Đại học, hay từ một thi sĩ ở quán cà phê, thì không thể nào có sức thuyết phục mạnh như khi chúng được giảng bởi một người đã thệ nguyện quy y giữ giới sống trong một tu viện Phật giáo, và giữ được những giới này trong điều kiện có nhiều chướng ngại lớn lao và những áp lực từ bên ngoài. Những tu sĩ Phật giáo như Đức Dalai Lama và đoàn thể những Tăng sĩcủa Ngài đã đi sang các nước Tây phương theo lời mời của các sinh viên và các Phật tử. Họ đã thấy rằng những lời thuyết pháp của mình đã được lắng nghe một cách chăm chú bởi những thính giả Tây phương – những ngườ rất nể trọng những hy sinh mà các tu sĩ này đã phải làm để giữ được những lời phát nguyện của họ, và tiếp tục hành đạo ngay cả trong những điều kiện khắc nghiệt nhất. Những tu sĩ sẵn sàng từ bỏ mạng sống và tự do riêng của mình thay vì từ bỏ những lời phát nguyện và giới luật thì rất xứng đáng được mọi người coi trọng như thế .

Hàng ngàn cuốn sách và kinh điển Phật giáo có thể đã chỉ nằm im trong các thư viện ở các nước phương Tây, và it mang lại ảnh hưởng gì đối với mọi người .Tuy nhiên, những hành động uy hùng của các vị như Bồ tát Thích Quảng Đức đã tạo ra một hiệu quả tức thời, sâu sắc và lâu dài đối với hàng triệu người. Những lời giáo hóa của các thiền sư như Hòa thượng Thích Nhất Hạnh – người đã khéo léo và không mệt mỏi thuyết pháp cho hàng triệu sinh viên, đã có một ảnh hưởng rất lớn lao ở phương Tây.

Thế giới hiện nay có nhiều thách thức lớn lao như những nỗi đe dọa thường xuyên về khủng bố, sự áp bức, chiến tranh giữa các quốc gia, và xung đột dân sự. Những chứng bệnh mới đã xuất hiện, đe dọa sức khỏe của chúng ta, và những cải cách kinh tế cũng đe dọa đời sống chúng ta. Ô nhiễm môi trường làm nhiễm độc không khí, đất đai và mặt nước, và dẫn đến những vấn đề khủng khiếp đi kèm với hiện tượng trái đất ngày càng nóng lên. Việc bùng nổ dân số đã đặt áp lực ngày càng lớn lên những nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt, và dẫn đến tình trạng đói nghèo, bệnh tật, chiến tranh, xung đột ô nhiễm …, ngày càng gia tăng. Những thách thức này thật lớn lao. Cơ hội tìm được một giải pháp thực sự vẫn tồn tại  tuy nhiên rất ít. Chúng phụ thuộc vào việc có hay không những người có đủ tính can đảm, khắc cốt ghi tâm những lời dạy của Đức Phật, noi gương những vị Tăng sĩ của đất nước Việt Nam tươi đẹp này – những người đã chấp nhận hiến dâng cuộc đời mình để lòng từ bi của Đức Phật sẽ tiếp tục làm thế giới trở nên tốt đẹp .

( Trích Tham luận của GS .TS R. Clark, Đại học Stanford . CA . Hoa Kỳ , tại Hội thảo quốc tế “Phật giáo trong thời đại mới, cơ hội và thách thức” .TP.HCM 15-16- /7/2006 ) .

(Visited 296 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *