Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo  số 22   |   Vấn đề  |  --- HT. Thích Trí Thủ"/>

Văn Hóa Phật Giáo

| 20/11/2012 | 0 Comments

Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo  số 22   |   Vấn đề  | 

HT. Thích Trí Thủ

LTS: Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909-1984) là một danh tăng của Việt Nam thế kỷ XX. Về tư tưởng, Hòa thượng đã để lại nhiều tác phẩm, được tập thành trong Tâm Như Trí Thủ toàn tập. Về hoạt động, Hòa thượng là một bậc lãnh đạo Phật giáo suốt đời phụng sự Đạo pháp và Dân tộc, ngài nguyên là Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN, VHPG xin trân trọng giới thiệu một trong những chỉ đạo của Hòa thượng, về hoạt động văn hóa Phật giáo, một trong những ưu tư nổi bật của Hòa thượng lúc sinh tiền.

Van Hoa Phat GiaoNói đền văn hóa là nói đến một ý hướng tự lực thăng tiến. Văn hóa là làm cho đẹp, làm cho sáng. Tự nơi mỗi người không có cái đẹp, không có cái sáng bản nhiên thì không thể nói đến chuyện làm cho sáng làm cho đẹp được. Đó là bản sắc văn hóa Đông phương, và nói riêng văn hóa Phật giáo. Đó là ý nghĩa của “chư trưởng tự thành minh vị chi tính, tự minh thành vị chi giáo” của đạo Nho, là căn bản thể nghiệm của “Thường đạo” của Lão giáo, là nỗ lực hòa đồng với “Đại ngã” của Ấn giáo, là ý hướng viên thành trí tuệ Bát nhã của đạo Phật.

Cách đây hơn 25 thế kỷ, Thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ quyền lực thế tục, từ bỏ ngôi vị đế vương, gia đình đầm ấm hạnh phúc để một mình ra đi cũng chính vì ý hướng thành đạt một yếu chỉ và phương thức hữu hiệu để thỏa mãn được ước vọng tự lực thăng tiến đó. Ngài đã từ bỏ quyền lực thế tục của một tiểu quốc miền Bắc Ấn, ngài đã từ bỏ ngôi vị đế vương của một nước nhỏ chẳng phải để trở thành vua của thiên hạ, vua của các vị vua, để trở thành Thượng đế hay kẻ độc quyền đại diện Thượng đế. Ngài từ bỏ tất cả để trở thành một Tỳ kheo , nghĩa là một hành khất, để trở thành một nhà sư, nghĩa là một bận Thầy, một người khuyên nhủ chỉ dạy chứ không phải là một nhà cai trị, một kẻ thống trị, một người có quyền ra lệnh và trừng phạt những kẻ không tuân lệnh. Nói rõ hơn , Ngài đã từ bỏ tất cả để trở thành một nhà văn hóa, tự hiện giá trị bản nhiên của mình và mời gọi dùng thành quả chứng ngộ đó như một gương sáng để cảnh tỉnh, để mời gọi khuyên nhủ kẻ khác đang còn trong vòng mê mờ hãy tiếp theo con đường tự làm được, tự làm sáng giá trị bản nhiên hay Phật tính sẳn có của mình.

Có thể có trăm ngàn cách để làm văn hóa, nhưng người làm văn hóa theo tinh thần Phật giáo thì không thể nào quên kinh nghiệm văn hóa, bao bọc văn hóa mà chính Đức Bổn Sư đã thực chứng.

Vì tôn trọng giá trị tự tại của những người chưa giải thoát có thể giải thoát và đang giải thoát, cho nên hoạt động văn hóa của Phật giáo không phải là một hoạt động cực đoan, cuồng tín, quá khích. Bản sắc của hoạt động văn hóa của Phật giáo là khế hợp, là thích ứng. Nhờ tinh thần bao dung, khế hợp đó mà Phật giáo phát triển đến đâu thì đã trở thành di sản tinh thần, sức mạnh tâm linh của chính địa phương đó chứ không phải là một thế lực văn hóa hay một áp lực ngoại lai. Đức Phật đã trở thành Đức Phật của người Việt và Phật giáo đã trở thành Phật giáo Việt Nam. Cũng bởi vậy mà Phật tử miền Bắc mới thường xưng niệm câu: “Nam Mô Phật Tổ Hồng Bàng Thị”.

Nhờ có khả năng Việt hóa, dân tộc hóa đó nên Phật giáo Việt Nam mới có những đóng góp lịch sử lớn lao trong thời lập quốc và đấu tranh tự chủ Ngô, Đình, Tiền Lê lẫn trong thời bảo vệ tự chủ và phát huy độc lập Lý, Trần. Đó không chỉ là công lao của người Phật tử Việt Nam, đó là công quả đương nhiên của một đường lối giải thoát bằng nguyên tắc “Phụng hành Chánh Pháp là phục vụ dân tộc”.

Thành công của các thời đại vàng son Lý, Trần vẫn được nhắc nhở như là những thành công chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự. Nhưng xét cho cùng, thàng công đó trước tiên chính là một thành công của tinh thần, của tâm linh, của đạo đức, nghĩa là một thành công văn hóa, một thành công tổng hợp Tam giáo và Phật giáo, là thành phần khởi sáng, và chủ động vậy.

(Tựa đề do VHPG đặt, bài trích từ Đạo từ của Hòa thượng trong Đại hội Văn hóa Phật giáo toàn quốc năm 1972, tại Trung tâm Phật giáo Quảng Đức)

Đại đức Thích Phước Nghiêm
(Chùa Báo Quốc, Huế)

Phật giáo cần có những thay đổi để phù hợp với xu  hướng phát triển của xã hội và con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Chúng tôi nghĩ rằng, Giáo  hội cần có những tổ chức cụ thể và những sinh họat Văn hóa Phật giáo một cách thiết thực, cần lập những dự án thích hợp cho các sinh hoạt văn hóa. Cho đến bây giờ, chúng ta vẫn chưa có phương án rõ ràng nào cho việc sinh hoạt văn hóa Phật giáo từ trung ương đến các tỉnh thành. Ở đây cần có tính thống nhất và phổ biến. Chúng tôi mong rằng, Giáo hội sớm xây dựng những Trung tâm văn hóa tại từng địa phương để tổ chức các sinh hoạt văn hóa Phật giáo. Đó không chì là nơi tạo diễn đàn cho các giới Phật tử sinh hoạt, giao lưư mà còn để các giới trí thức và sinh viên có điềukiện tiếp cận với Phật giáo. Bên cạnh hình bóng các vị tu sĩ đức hạnh, mẫn tiệp, chúng tôi nghĩ rằng, Giáo hội cần nêu cao vai trò của giới cư sĩ Phật tử, vì chính họ là những người dễ đưa đạo vào đời nhất.

Trần Tường Nhi pháp danh Chúc Oanh
(Tổng Giám đốc IDP Việt Nam)

Theo tôi để thực hiện kế hoạch phát triển Phật giáo Việt Nam. Giáo hội cần có một lực lượng nhân sự vững mạnh, có năng lực thực sự, đặc biệt là nhân sự lãnh đạo và nhân sự thực hiện kế hoạch. Trước hết người Phật tử chúng tôi nghĩ tiêu chuẩn cho một vị lãnh đạo Phật giáo là: có đạo hạnh, có ý chí, quyết tâm, nhạy bén, sáng suốt, có trình độ văn hóa cao, có kiến thức về đạo và đời, tôn trọng nguyên tắc dân chủ, được Tăng Ni, Phật tử kính tín, có óc sáng tạo, có sức khỏe tốt. Lại nữa, các vị đứng đầu các chuyên ngành phải là những người có kiến thức, kỹ năng về chuyên ngành đó, dồn hết tư duy, công sức để phát triển ngành. Các thành viên của bộ phận, chuyên ngành cũng là người chuyên môn, có thiện tâm, có thời giờ để chuyên tâm đóng góp Phật sự. Tôi tin chắc rằng, nếu làm được điều này, Phậtgiáo Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ, xứng đáng với một đất nước có 2.000 năm lịch sử Phật giáo.

Đinh Ngôn Pháp danh Nguyên Thuyết
(huynh trưởng GĐPT An Giạ-Quảng Trị)

Tôi mong ước Giáo hội có những trang web hay, những sách báo có sức thu hút đối với giới trẻ theo cách riêng của mình để từ đó có thể gieo vào tâm hồn giới trẻ một niềm tin về tôn giáo. Bởi vì theo tôi niềm tin tôn giáo giúp con người, nhất là giới trẻ, vượt qua những sự kích động, căng thẳng, trống rỗng mà cuộc sống vật chất đem lại. Được biết, Giáo hội đã và đang quan tâm nhiều đến hạnh phúc của người dân vùng sâu vùng xa  bằng các công việc như xây dựng trường học, nhà tình nghĩa, tình thương, cầu đường, giếng nước, cứu trợ, cấp thuốc, chữa bệnh miễn phí, trao học bỗng. Nhưng tôi thấy nhiều trẻ em vẫn chưa biết đọc, biết viết, chưa được học vi tính và ngoại ngữ ở trình độ cơ bản. Người dân nơi đây đang rất cần đến hình ảnh và tấm lòng người tu sĩ Phật giáo trong vai trò là thầy giáo. Tôi nghĩ, đáp ứng nhu cầu chính đáng của mọi  người là cơ hội để thực tập lời Phật dạy, để kiến thức học được trở thành năng lực đem lại hạnh  phúc cho cuộc đời chứ không phải là những bằng cấp thiếu thực lực. Tôi mong muốn đường hướng Giáo dục và hoằng pháp của Giáo hội sẽ hướng  đến việc lợi sanh thiết thực đó.

Nguyễn Hải Hà
(Du học sinh CHLB Đức)     

 Người Phật tử trẻ có lối sống trẻ, cách nghĩ trẻ, tình cảm và nhận thức cũng trẻ. Nhưng xin đừng hiểu từ “trẻ” bằng cách đúc khuôn những hình thức giống như cái mà họ đang thường ngày tiếp xúc bên ngoài xã hội. Sức “trẻ” của người Phật tử cần được tô bồi tinh thần và nếp sống đạo để giữa đời sống phồn hoa giả tạm họ có thể giữ vững được mình, bảo vệ đời sống gia đình mình, sáng tạo và cống hiến những điều tốt nhất cho xã hội. Điều họ cần chính là những cái họ đang thiếu. Giáo hội nếu trả lời được câu hỏi “Giới trẻ thiếu cái gì?” thì gần như đã giải quyết được hướng đi của vấn đề. Theo tôi, “hiện đại hóa” Phật giáo là tìm cách đưa các nội dung Phật giáo vào đời sống, chứ không phải xây chùa chiền cao lớn với nhiều nhà ăn, phòng ở sang trọng, hiện đại. Ở điểm này, chúng tôi quan tâm nhiều đến những lễ hội mang bản sắc tâm linh Phật giáo. Giáo hội nên chú trọng điều này, bởi khi Phật giáo đi vào đời sống, những Phật tử trẻ và những người trẻ quan tâm đến đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc sẽ không là người đứng ngoài.

Nguyên Trực (TP. HCM)                    

Từ sau năm 1986 đến nay, đất nước có những đổi thay. Trong sự đổi thay đó, cái tốt cũng nhiều và cái xấu chen chân vào không ít. Đạo Phật ở nước ta có truyền thống gắn bó với dân tộc, với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đất nước đổi thay, từ trong qua những bước đi mang tính căn bản, đó là sửa đổi Hiến pháp và các văn bản luật. Giáo hội từ khi thành lập (1981) đến nay, dường như vẫn chưa có một sự thay đổi căn bản nào đáng kể, ngoài sự mở rộng mang tính tự phát của các phong trào bề nổi. Do đó, dường như Giáo hội chưa có những chỉ đạo phát triển mang tính chiến lược. Chúng tôi nghĩ, Giáo hội cần có những thay đổi, từ trong Hiến chương, một văn kiện ra đời trong một bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh nay đã khác, nhưng văn kiện đó vẫn chưa có gì thay đổi đáng kể. Người Phật tử chúng tôi mong ước sao, Giáo hội có một diện mạo, một tầm vóc và chương trình hoạt động tương thích với truyền thống lịch sử 2.000 năm Phật giáo gắn bó với dân tộc hòa quyện và trở thành nền tảng văn hóa của Việt Nam.

Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo  số 22   |   Vấn đề  |  HT. Thích Trí Thủ

(Visited 91 times, 1 visits today)

Tags:

Category: HT. Thích Trí Thủ, Tạp Chí VHPG, Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *