Cái “vô” trong tranh thủy mặc

| 18/10/2016 | 0 Comments

Bài & ảnh: HUỆ  VIÊN ++

cai-vo-tranh-thuy-mac

Trong  tranh  thủy  mặc, yếu tố vô hình (hay những khoảng trống trong tranh) có vai trò rất đặc biệt, mang ý nghĩa như kiểu yếu tố “vô” của vũ trụ, là nơi ẩn chứa một điều lớn lao mà mắt  thường  không  thể  thấy.  Nhìn những  bức tranh phong  cảnh cổ điển của các họa sĩ phương  Đông, chúng  ta thường  bắt gặp những  chỗ mây mù lẩn khuất bằng cách để trắng giấy hay những chỗ núi được kết thúc  bằng  một  khoảng  trống  mơ màng phía sau. Điều đó khác hẳn với những bức tranh phong cảnh của châu Âu vốn tuân theo luật phối cảnh rất chặt chẽ và dù cảnh ở gần hay xa thì chúng  đều được vẽ bởi một màu nào đó (dẫu là màu rất nhạt ở phía xa), chứ không thể có khoảng trống.

Quách Hy, một  bậc thầy vẽ phong  cảnh  thời Bắc Tống, nói: “Muốn vẽ núi cao thì nên vẽ có mây phủ ở lưng chừng. Núi mà vẽ rõ ra cả thì trông sẽ không cao. Muốn vẽ sông dài thì nên vẽ nó lúc ẩn lúc hiện. Sông mà vẽ rõ ra cả thì sẽ không dài. Núi mà vẽ lộ hoàn toàn thì mất cái sắc khí tiêu biểu của núi mà chỉ giống như cái đầu chày mà thôi. Sông mà nhìn thấy đầy đủ từ đầu đến cuối thì không thể vẽ nó uốn lượn nhiều, và sẽ giống như một con giun vậy”. Tức là, phong  cảnh mà hiện lên trọn vẹn thì không có chiều sâu, hình mà không bị ẩn thì trông sẽ thô lậu. Mây phủ (tức khoảng trống) ở lưng chừng núi tuy làm cho hình của núi ít đi nhưng làm cho núi cao hơn. Cái khoảng trống đó, hẳn nó chứa đựng một lực lượng tiềm ẩn, một sức mạnh vô hình làm cho cái giới hạn chật hẹp của khung tranh bị phá vỡ, để cho ngọn núi trở thành “đại tượng”. Ví dụ, trong  bức tranh  “Buổi sớm mùa xuân” của Quách Hy chúng  ta có thể thấy rõ những  kinh nghiệm  mà ông nói ở trên. Khoảng trống ước lệ mây mù ở lưng chừng và phía sau ngọn núi làm cho cảnh trí hư hư thực thực, tiêu dao bay bổng như lên tới tận tiên cảnh. Lớp cảnh ở gần được thể hiện rõ ràng các yếu tố đất đá cây nước nên có cảm giác vững chãi, nhưng nhờ mây mù ở giữa bức tranh mà làm cho lớp cảnh phía xa như bay hẳn lên, chạm tới trời cao.

Dù sử dụng những khoảng trống nhưng Quách Hy vẫn chỉ làm cho nó ở mức mờ ảo ẩn hiện, tức là vẫn còn có thể có nét mờ đi vào cái khoảng trống  đó. Nhưng đến  Thạch Đào, một thiền sư – họa sĩ cuối đời nhà Minh, còn  mạnh  dạn  hơn  trong cách thể hiện những khoảng trống, thậm chí ông làm cho các nét đột ngột  biến  mất,  và dùng  khoảng trống tách bức tranh ra thành  hẳn các cảnh  riêng biệt, làm cho bức tranh  có khả năng  thâu  tóm  các không  gian  khác nhau  vào trong một bố cục. Ví dụ ở bức tranh “Bờ sông”, Thạch Đào tách  hẳn  ngọn núi  ra khỏi cảnh  sông  nước  vốn đang  hòa quyện vào nhau. Đây là cách bố cục ông gọi là “chấm dứt đột  ngột”. Nếu ai quen  vẽ phong cảnh  theo  luật viễn cận của châu Âu thì nhìn bức tranh này thật khó chấp   nhận.   Nhưng  khi  đã  hiểu được tư tưởng “đại tượng vô hình” của hội họa Trung Hoa thì thấy bức tranh thật thú vị. Khoảng trống vô hình đã xua tan cái cảm giác nghi ngờ luật viễn cận, biến sự vô lý của phối cảnh thành  sự hợp lý của tinh thần. Bức tranh tuy bị tách ra làm hai phần  trên dưới nhờ vào khoảng trống ở giữa nhưng nó không thể nào thiếu nhau được, bởi khi khoảng trống mở ra cho lớp cận cảnh thì nó cần có lớp viễn cảnh phía trên đóng lại, như thế mới tả được cái chuyển động của vũ trụ.

Theo Thạch Đào, “chấm dứt đột ngột” là một trong sáu cách bố cục độc đáo nhất của thể loại tranh phong cảnh. Ông viết: “Chấm dứt đột ngột  nghĩa là cảnh trí thình lình biến mất, tất cả cây đá không được vẽ cho xong, các nét bút đều bỏ lửng ở đó. Những nét bỏ lửng ấy phải làm sao như tự chúng  biết biến đi vào cõi hư vô với những đuôi bút mảnh dẻ nhất”. Bố cục kiểu này không những  áp dụng  với tranh phong  cảnh mà còn được sử dụng trong tranh hoa điểu. Ví dụ như vết mực để lửng ở phía bên phải trong bức “Hoa cúc” của Bát Đại Sơn Nhân, một người bạn của Thạch Đào đã cùng  với ông làm cuộc cách mạng trong hội họa. Cả một tập hợp hoa lá bên trái bức tranh được đối ứng với một vết mực để lửng, một vết mực đưa người xem vào cõi hư vô. Cái khoảng trống bên phải bức tranh hẳn phải chứa đựng những giá trị nào đó của hoa cúc mà những hình ảnh không thể nào diễn tả được.

Cùng thời Bắc Tống với Quách Hy, nhưng Tô Đông Pha (một cư sĩ Phật giáo) lại chủ trương một tư tưởng hội  họa  phóng  khoáng,  vẽ theo  cảm  hứng,  không cao thâm  tinh  tế  như  Quách Hy. Tô Thức  và những người bạn của ông lập ra Văn nhân họa phái với chủ trương  tả ý là chính, dùng  rất ít nét, vẽ rất nhanh  và bố cục đơn giản ví dụ như chỉ vẽ một phần của cành mai cành trúc. Văn nhân họa đặt trọng tâm vào hành động  vẽ chứ không phải kết quả của việc vẽ, đề cao cái cảm hứng xuất thần khi vẽ chứ không phải là bức tranh trông có giống mẫu hay không. Ông viết: “Xem tranh mà chỉ xem có giống mẫu hay không thì chỉ là phường  con trẻ. Nếu chỉ vì muốn làm thơ mà đặt bút làm thơ thì chắc chắn không phải là thi nhân vậy”. Với cách vẽ nhanh và không chú trọng bố cục như vậy thì bức tranh sẽ thường không cân đối và xuất hiện nhiều khoảng trống trong tranh. Và ý nghĩa của cái khoảng trống  vô hình đó được diễn giải bằng  ngôn  ngữ của thơ, văn hay một hàm ngôn, gọi là lạc khoản. Vì thế khi xem một bức văn nhân  họa, ngoài việc ngắm  nét vẽ ra chúng ta còn phải cảm nhận giá trị của bài thơ, bài từ được viết kèm nữa. Với chất lãng mạn như thế, văn nhân họa có sức ảnh hưởng rất lớn không chỉ tới các thế hệ sau của Trung Hoa như Thạch Đào, Bát Đại Sơn Nhân, Tề Bạch Thạch… mà còn lan ra cả những  nước lân cận. Ví dụ như bức tranh “Đọc sách trong nhà tranh” của họa sĩ Nhật Bản Tensho Shubun  (Thiên Chương Châu Văn), một trong những họa sĩ đặt nền móng cho nền hội họa Nhật Bản (thời kỳ Muromachi (Thất Bình), thế kỷ XV) là một ví dụ rất hay của văn nhân họa. Bức tranh vẽ một người đang đọc sách trong một lều tranh giữa cảnh núi non nhưng chỉ được bố cục ở góc dưới bức tranh. Cả một  khoảng  trống  rất lớn phía trên là một bài văn, có lẽ chính là trích đoạn sách mà người đang ngồi trong lều tranh kia đang đọc.

Không chỉ là nơi giấu  những  “đại tượng”, những khoảng trống còn là thành phần không thể thiếu trong bố cục bức tranh để tương tác với những chỗ có hình thể. Bức Cúc của Một Danna cho ta thấy sự tương tác giữa yếu tố vô hình và hiện hữu có ảnh hưởng quyết định tới bố cục một bức tranh.

Và chúng ta cứ ngẫm mà xem… Từ cái vô hình của giấy trắng (mở), nét mực được vẽ lên tạo thành  hình ảnh (đóng), rồi lại cần có khoảng trống (mở) để các nét vẽ được nghỉ ngơi suy ngẫm, chuẩn bị cho những nét tiếp theo (đóng)… Hiện hữu và vắng mặt, hình và vô hình, sắc và không – chúng là những thành  tố không thể thiếu trong một tác phẩm nghệ thuật.■„

Văn Hoá Phật Giáo số 208

(Visited 170 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , ,

Category: Huệ Viên, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com