Cảm nhận về ca khúc Ánh Đạo Vàng của nhạc sĩ Hằng Vang

| 28/05/2016 | 0 Comments

Kỷ niệm Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo tròn 200 số |

THÍCH QUẢNG TRÍ ++

cam-nhan-anh-dao-vang

Trong tuyển tập “Nhạc Sống” của Gia đình Phật tử Việt Nam xuất bản năm 1965, cố Đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu, bấy giờ là Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, đã giới thiệu: “Con đường vào đạo có hai lối, một là suy tưởng để trực nhận chân lý, hai là rung cảm để dọn đường cho thông cảm. Đường trên là lối vào Phật pháp, đường dưới là nẻo đi văn nghệ”. Chính con đường thứ hai đã mở lối cho tôi vào đạo. Bằng con đường thứ hai, ngay từ buổi đầu, ca khúc Ánh Đạo Vàng đã gieo vào lòng tôi một khái niệm về lịch sử của Đức Từ phụ Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, là hiện thân và kết tinh của muôn hạnh Từ bi và Trí tuệ. Con đường này đã chinh phục được tôi không phải vì tôi có máu nghệ sĩ và say mê nghệ thuật âm nhạc. Điều này tưởng chừng mâu thuẫn song đây lại là sự thật. Vì rằng tôi sinh ra tại Huế nhưng trưởng thành tại Đắc Lắc, một vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên. Tuy các gia đình cùng nhau vào lập nghiệp nơi đây đều có truyền thống kính Nho tin Phật, nhưng bước đầu còn phải lo ổn định đời sống, mãi đến hơn mười năm sau – năm 1988 – vùng tôi mới thành lập được khuôn hội Phật giáo. Lúc ấy vùng tôi cũng chưa có chùa, Phật tử thành tâm chỉ làm lễ tạm vào những ngày sóc vọng (mồng một, ngày rằm) và các ngày lễ lớn để tu dưỡng tâm linh tại nhà của một vị Phật tử vẫn giữ trường trai (ăn chay trường).

Ở vùng kinh tế mới xa xôi, tài sản của khuôn hội lúc ấy chỉ là mái tranh thô sơ, chỗ gọi là chánh điện cũng chỉ được tôn trí một bức tượng Bổn sư bằng giấy, thật là khiêm tốn. Kinh sách thì vỏn vẹn chỉ có hai cuốn Nghi thức tụng niệm. Trong hoàn cảnh đó, và lại cũng không có thầy dạy đạo giảng kinh, dù muốn thì người Phật tử cũng không thể “suy tưởng” để “trực nhận chân lý Phật-đà”. Nhưng may mắn thay, chỉ sau một năm tồn tại, vào mùa Phật đản, khuôn hội đã thỉnh được ở đâu đó hai cuốn băng cassette, một cuốn là băng kinh cầu an-cầu siêu, còn một cuốn là băng nhạc Ánh Đạo Vàng hay Trường thanh Phật ca. Trong dịp đón mừng Phật đản là ngày vui chung của nhân loại, băng nhạc được phát nhiều lần trong ngày. Nhờ vậy, sau bao lần đến khuôn hội, tôi đã hiểu được phần nào về Phật giáo và đại cương lịch sử Đức Bổn sư Thích-ca qua ca khúc Ánh Đạo Vàng của nhạc sĩ Hằng Vang.

Đây cũng chính là thời điểm khởi đầu để tôi vào đạo và cũng là nguyên nhân gợi cảm sâu sắc khiến tôi viết cảm nhận về ca khúc này nhân mùa Phật đản.

Mở đầu băng nhạc là lời giới thiệu mang đậm triết lý nhà Phật: “… đời là cõi tạm; kiếp người như một giấc mộng ảo huyền; nhưng cũng xin quý vị hãy bước theo ánh đạo vàng đểu yêu đời, yêu người, yêu quê hương, nhân loại. Dù đời gặp nhiều ngang trái khổ đau, nhưng đạo đức và tình yêu thương lẫn nhau vẫn là con đường giải thoát cao đẹp nhất…”. Ôi, đạo Phật thật là vi diệu! Nhưng trước khi đi vào nội dung ca khúc, người viết xin giới thiệu đôi nét về nhạc sĩ Hằng Vang, tác giả ca khúc Ánh Đạo Vàng.ns-Hang-Vang

Nhạc sĩ Hằng Vang tên thật là Nguyễn Đình Vang. Ông sinh năm 1933 và là người con xứ Huế. Cảm đức từ bi, nhạc sĩ đã quy y Tam bảo từ sớm, có pháp danh Như Niên. Ông cũng là một huynh trưởng Gia đình Phật tử gắn liền với Phật giáo Việt Nam từ trên sáu mươi năm qua. Tuy hiện sinh sống tại Đắc Lắc nhưng ông luôn gắn bó với với các hoạt động của Phật giáo tỉnh nhà cũng như ở các tỉnh, thành hội Phật giáo gần xa. Ông luôn tâm niệm rằng âm nhạc có ảnh hưởng quan trọng trong việc nói lên giáo lý và đã đóng góp tích cực vào việc hoằng truyền Phật pháp trên phương diện sáng tác âm nhạc khi nhận biết Phật giáo Việt Nam đã có một hướng đi mới nhắm đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, được cổ động từ khi có phong trào chấn hưng Phật giáo.

Là Phật tử, hầu hết các tác phẩm của nhạc sĩ Hằng Vang đều mang tư tưởng giải thoát, khuyến thiện, xiển dương chân lý đạo Phật; giai điệu và ca từ luôn toát lên chất liệu từ bi, vị tha, vô ngã, thể hiện tình yêu thương nhân loại và tinh thần dân tộc. Vào năm 1965, ông được giải nhất trong cuộc thi sáng tác Phật nhạc do Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tổ chức với tác phẩm “Lời Sám Nguyện”, nhờ vậy, tên tuổi của ông được khắp nơi biết đến. Từ đó về sau, ông chuyên tâm sáng tác và hoạt động văn nghệ Phật giáo. Đặc biệt, ca khúc Ánh Đạo Vàng của ông ngày càng được thính giả đón nhận qua sự thể hiện thành công của các ca sĩ Vũ Khanh, Hoàng Bá Tước, Thanh Tuyền, Thùy Dương, Vân Khánh… Không những vậy, trong các chủ đề về ca khúc Phật giáo thì hầu như Ánh Đạo Vàng luôn làm chủ đạo cho các băng nhạc đã ra đời như Ánh Đạo Vàng, Tiếng Chuông Chùa, Nhạc Từ Bi, Mây Đầu Hạ, Kính Mừng Phật Đản… Như vậy, tâm nguyện nhạc sĩ Hằng Vang đã thành hiện thực. Cuộc đời ông sống vì đạo pháp song song với nghệ thuật, lấy từ bi để tô vẽ cho nốt nhạc của mình.

Trở lại với tác phẩm Ánh Đạo Vàng. Người thưởng âm thấy tác phẩm được viết ở chủ âm Rê thứ theo luật nhạc cân phương với ba mươi hai trường canh (ô nhịp); mỗi phân đoạn gồm tám ô nhịp với giai điệu mượt mà, sâu lắng, thể hiện lòng thành kính, trang nghiêm; lời ca mộc mạc, không trau chuốt, nghe như chuyện kể đời xưa mà ca từ của mỗi phân đoạn là một quãng đời của Đức Phật. Do am hiểu giáo lý nhà Phật, tác giả đã xây dựng những ca từ đượm nhuần chất liệu Phật giáo. Mỗi ca từ vang lên đều có thể đi thẳng vào lòng người nghe vì nó mang đậm tính tự sự: kể về lịch sử Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Chính cách dùng chữ mộc mạc mang tính trần thuật đó mà lời hát của toàn bài dễ thấm vào lòng người, tạo cho người nghe một sự kính trọng sâu sắc vào tính từ bi và trí tuệ của Đức Bổn sư, gieo niềm tin cho những người mới bước đầu biết đến đạo Phật. Đây quả là một ca khúc mang tính nghệ thuật cao.

Chỉ trong vòng 132 từ mà nhạc sĩ Hằng Vang đã thể hiện được cuộc đời cao quý và vĩ đại của Đức Phật. Điều này sở dĩ nhạc sĩ Hằng Vang có thể làm được vì ông là một Phật tử, có đời sống gắn liền với Phật giáo. Với hai khổ nhạc đầu, mỗi khổ 36 ca từ, hình ảnh cuộc đời Đức Phật hiện ra, từ lúc niên thiếu đầy lòng từ bi đến lúc dũng cảm dấn bước tìm đạo:

“Từ ngàn xưa vương thành Ca-tỳ-la-vệ, Tất-đạt-đa thái tử con vua Tịnh Phạn; thời niên thiếu sống trong nhung lụa êm ấm; Thương chúng sanh lạc loài trong kiếp luân hồi”.

 “Rồi một hôm bên thành Ca-tỳ-la-vệ, Tất-đạt-đa quyết chí xuất gia tầm Đạo; Lìa vua cha lánh xa cung điện nguy nga, cắt tóc xanh khoác mình chiếc áo nâu sồng”.

Quá khứ lịch sử cách đây 25 thế kỷ hiện về; một vị Thái tử sống trong nhung lụa giàu sang của bậc vương giả nhưng lòng luôn trầm tư về cuộc đời đau khổ của chúng sanh trước cảnh sinh già bệnh chết. Ngài đã suy nghiệm về ý nghĩa của sự lạc loài trong kiếp luân hồi; và chính lòng mong muốn cứu độ chúng sanh đã thôi thúc Ngài vượt thành xuất gia tầm đạo. Ngài đã từ bỏ tất cả những gì thân yêu nhất của đời mình giữa lúc đang ở tuổi thanh xuân tràn đầy hạnh phúc mà ai cũng khao khát để khoác lên mình chiếc áo nâu sồng. Quả là một sự từ bỏ vĩ đại.

Chính sự gợi ý của lời ca đã thôi thúc người nghe tìm hiểu, để biết rằng sau bao năm tầm sư học đạo, sống ẩn dật khổ hạnh trong rừng già, vị Thái tử lúc trước, bấy giờ đã trở thành Sa-môn Cồ-đàm, nhận chân được chỉ có con đường Trung đạo mới là phương pháp tu hành đích thực; rằng Ngài đã đến ngồi dưới gốc cây bồ-đề bên dòng sông Ni-liên-thuyền với lời thề quyết liệt   là

sẽ không rời chỗ khi chưa chứng ngộ đạo lý nhiệm mầu; rằng sau 49 ngày đêm tư duy thiền quán, Ngài thực sự chứng đắc quả vị vô thượng, thành Phật, hiệu là Thích-ca Mâu-ni; rằng sau đó, Ngài đã được chư thiên thỉnh cầu nói Pháp, được hàng trời người tôn xưng là bậc Pháp vương, bậc Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi đem ánh đạo vàng ban bố khắp nơi. Trong ca khúc Ánh Đạo Vàng, sự thành đạo của Ngài được thể hiện một cách cô đọng ở khổ nhạc thứ ba, một phiên khúc:

“Rừng núi ca vang muôn tia hào quang chiếu sáng bóng Ngài . Chim vui chào đón mười phương thành tâm kính lạy Bổn Sư”.

Đức Phật đã không vì hạnh phúc riêng tư hạn hẹp, mà chỉ vì lòng thương xót tất cả chúng sinh, Ngài đã từ bỏ mọi lạc thú trần gian, tự mình tìm ra con đường đạt được giải thoát rồi ban bố cho mọi chúng sinh. Tinh thần Bi-Trí-Dũng của Ngài đã làm cho chúng ta quy phục, tôn kính. Điều này được nhạc sĩ thể hiện bằng 36 ca từ cuối:

Ngài là đấng cha lành cứu độ nhân loại. Đức từ bi Ngài gieo ánh sáng Đạo Vàng. Đời dương thế si mê tham giận lầm lỗi. Con cúi xin ơn Ngài cứu độ chúng sanh”.

Qua ca khúc Ánh Đạo Vàng, người nghe được biết về một con người nhờ tu tập bản thân mà đã trở thành một bậc hoàn thiện, một vị thánh giữa thế gian; những lời giáo huấn của Ngài, là tinh hoa của quãng đời tu tập chứng ngộ, đã được kết tập thành ba tạng kinh điển. Giáo lý của Đức Phật không phải là lý thuyết suông mà cần phải thực hành mới cảm nhận và thực chứng được. Với chủ trương nhân quả nghiệp báo, giáo lý đạo Phật nói lên tinh thần trách nhiệm cá nhân và cộng đồng trước đau khổ và hạnh phúc của loài người. Chúng ta ngày nay thừa hưởng ân đức cao vời đó thì phải sống sao cho xứng đáng là con Phật.

Hơn năm mươi năm trôi qua kể từ khi ra đời, ca khúc Ánh Đạo Vàng tiếp tục vang lên trong hầu hết những buổi sinh hoạt của người Phật tử, không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài, và thấm vào lòng người khiến họ bước theo ánh đạo vàng để yêu người, yêu đời, yêu quê hương, đất nước, nhân loại. Bằng âm nhạc, nhạc  sĩ Hằng Vang đã mang lại cho các sinh hoạt của người Phật tử Việt Nam một sức sống tươi mới, thực sự có đóng góp quan trọng cho việc hoằng truyền Phật pháp. Lấy ca từ, âm khúc để xiển dương Chánh pháp của Đức Phật, nhạc sĩ Hằng Vang đã cống hiến nhiều cho nghệ thuật Phật giáo. Ở tuổi ngoài tám mươi, ông vẫn tiếp tục hoạt động sáng tác và nghệ thuật Phật giáo, quả là“gừng càng già càng cay”. Hy vọng ông tiếp tục sẽ cho ra đời thêm nhiều ca khúc bất hủ để phụng Đạo giúp Đời như ông đã từng tâm sự, “Âm nhạc Phật giáo có tác dụng hữu hiệu trong việc góp phần chuyển tải tư tưởng giáo lý Phật giáo và có thể nói là phương tiện tối ưu, nên mỗi người con Phật chúng ta cần chung tay vun xới cho vườn hoa âm nhạc Phật giáo tốt hơn”.

Anh-dao-vang

Văn Hoá Phật Giáo số 200 – Phật Đản

(Visited 288 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , ,

Category: Thích Quảng Trí, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *