Con đường văn hóa Việt Nam

| 25/12/2015 | 0 Comments

Nguyễn Thế Đăng ++

 con-duong-van-hoa

  1. Toàn cầu hóa văn hóa trong mặt một nhà triết học Tây phương

Chúng ta thấy hiện nay thế giới có ba nền văn hóa lớn vẫn tồn tại và làm nền tảng cho sự tiến bộ của con người.

– Tây phương: văn hóa Hy Lạp và văn hóa Cựu Ước (gốc sinh ra Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo)

– Trung Hoa: Khổng giáo, Lão giáo ảnh hưởng sâu đậm vào các nước có lối ‘chữ vuông’ như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…

– Ấn Độ: Ấn giáo và Phật giáo.

Dĩ nhiên, từ rất xưa ba nền văn hóa ấy đã tương tác và trộn lẫn với nhau ở một số phương diện. Như người ta vẫn nói, hệ ngôn ngữ Tây phương là hệ ngôn ngữ Ấn Âu. Nhờ sự du nhập của Phật giáo vào Trung Hoa mà Khổng giáo và Lão giáo đã có một nền tảng triết học vững vàng hơn, được nâng cao thêm, đến nỗi ngày nay nói về văn hóa Trung Hoa thì không thể không nói đến Phật giáo. Do đó mà có cái gọi là Tam giáo đồng nguyên. Cả ở Việt Nam cũng thế. Hàn Quốc ngày nay, khi xem phim của họ ta thấy cáo cốt cách, cái tôn ti trật tự gia đình theo truyền thống Khổng giáo rất rõ ràng.

Những vấn đề nan giải, những lệch lạc đưa đến mất hạnh phúc của cá nhân và của một quốc gia phải được tìm thấy trong sự lệch lạc của từng nền văn hóa. Chẳng hạn nếu thế giới chịu ảnh hưởng đậm đà của Ấn giáo và Phật giáo thì đã không có vấn nạn ô nhiễm sinh thái toàn cầu.

Với ý định tìm cách giải quyết những vấn đề nan giải của cá nhân và thế giới hiện nay, Tiến sĩ Lou Marinoff, Chủ tịch Hội Những người Thực Hành Triết Học Hoa Kỳ (APPA) đã viết cuốn The Middle Way, Finding Happiness in a World of Extremes, New York, 2007, 596 trang (Trung Đạo, Tìm kiếm Hạnh phúc trong một Thế giới những Cực đoan).

Ở đây chúng ta chỉ tóm lược sơ vài ý tưởng của cuốn Trung Đạo này.

Phần I: ABCs. A. là Aristote của Tây phương. B là Buddha (Phật) của Ấn Độ. Và C là Confucius (Khổng Tử) của Trung Hoa. Ba đại diện cũng là ba gốc của ba nền văn hóa văn minh. Cuốn sách bắt đầu bằng Chương 1: “Toàn cầu hóa và những bất mãn của nó”.

Chúng ta đã biết Trung Đạo của Phật giáo là thế nào rồi. Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật nói về Trung Đạo, con đường giữa hai cực đoan khổ hạnh và hưởng lạc. Khoảng 6 thế kỷ sau, Long Thọ, vị luận sư vĩ đại nhất của Phật giáo khai sáng Trung Đạo tông (Madhyamaka school), với tác phẩm chính yếu là Trung Đạo luận (Madhyamaka-karika, mà Trung Hoa dịch là Trung Quán luận) và những cuốn luận khác nói về Trung Đạo hay con đường giữa của tánh Không. Trí Giả đại sư lập ra Thiên Thai tông ở Trung Hoa cũng căn cứ trên ba phương diện của tánh Không là Không, Giả, Trung.

Khổng giáo có hẳn một cuốn nói về Trung Đạo của Khổng Tử là cuốn Trung Dung. Lão Trang thì có Thiên Quân, mà có thể dịch là ‘sự quân bình thiêng liêng’.

Ở đây chúng ta sẽ theo dõi về Trung Đạo của Aristotle theo cái nhìn của Lou Marinoff.

“Thế nên chúng ta hãy tưởng tượng ảnh hưởng cao chót vót của Aristotle, người đã được tôn kính ở Tây phương như triết gia trong suốt 2.000 năm” (tr. 8). “Nếu bạn xem những phát minh kỳ lạ đã cách mạng và đang còn làm biến chuyển ‘ngôi làng thế giới’, thì không phải là điều ngẫu nhiên mà rất nhiều trong số đó phát sinh từ Tây phương. Một phần danh sách ấy gồm báo in, viễn vọng kính, kính hiển vi, kính lục phân, máy hơi nước, điện và ắc quy, bóng đèn, xe hơi, máy bay, điện thoại, máy phát thanh, truyền hình, thuốc chủng ngừa, máy phản lực, hỏa tiễn, transitor, máy tính cá nhân, Internet và mạng thế giới… Chúng đều là những sản phẩm của hiêu quả tương tác giữa khoa học của Aristotle và tôn giáo Do Thái – Thiên Chúa giáo – vốn nhấn mạnh vào chủ nghĩa cá nhân – cái làm nên đặc trưng của văn minh Tây phương” (tr.10).

Những đóng góp của Aristotle, vượt khỏi những cái của Socrates và Plato, thì vượt trội theo những trích dẫn sau được tìm thấy trong khắp không gian vi tính: ‘Aristotle, trong bất kỳ tư tưởng gia nào khác, đã xác định hướng đi và nội dung của lịch sử trí thức Tây phương. Ông là tác giả của một hệ thống triết học và khoa học, trải qua những thế kỷ trở thành chỗ dựa và phương tiện cho các tư tưởng kinh viện Thiên Chúa giáo và Hồi giáo: Cho đến cuối thế kỷ 17, văn hóa Tây phương thuộc về Aristotle. Và ngay cả sau những cuộc cách mạng trí thức của những thế kỷ sau đó, những khái niệm và ý tưởng của Aristotle cũng mọc rễ trong tư duy Tây phương” (45).

“Trung Đạo theo Aristotle là Phương Pháp Vàng (Golden Mean). Phương tiện vàng này là sự cân bằng , một Trung Đạo giữa những cái thái hóa. Sự cân bằng này có tính hình học, nghĩa là tạo ra cái đẹp” (49). “Sự cân bằng này cũng tạo ra cái tốt, cái thiện, và cái tốt cái thiện này đi kèm với hạnh phúc” (47).

Với Trung Đạo này, với sự Cân Bằng này – lý tưởng chung cho cả ba nền văn hóa-tác giả dùng phần II của cuốn sách để giải quyết những vấn đề hiện đại, xã hội, văn hóa, kinh tế, chiến tranh…cho đến vấn đề giới tính và bệnh Aids. Phần II có nhan đề: Những cực đoan và ABCs.

Chẳng hạn, chương 6, “Những cực đoan chính trị” (167-205), đã gây ra hai cuộc Đại chiến Thế giới và “Khủng bố và Chống khủng bố” hiện nay. Chương 7: “Những cực đoan thiêng liêng và phàm tục”. Chương 9 “Những cực đoan chính trị hóa sự khác biệt về Nam và Nữ”. Chương 10: “Những cực đoan trong nhận thức, những truyền thống Nói, Viết, Nhìn và Kỹ thuật số”. Chương 11: “Những cực đoan về giáo dục”. Chương 12: “Về Kinh tế”. Chương 14: “Những cực đoan của Trung Đông”. Chương 15: “Những cực đoan của chủ nghĩa khủng bố”…

Phần III là Ba nhà Hiền Triết ABC ở đây và Bây giờ chỉ có một chương 16, “Nhập khẩu ABCs vào đời sống của bạn, và xuất khẩu họ vào môi trường chung quanh của bạn”. Chương này trích dẫn một câu nói nổi tiếng của Gandhi: “Bạn phải là sự thay đổi mà bạn muốn thấy nơi thế giới” (587).

2.Việt Nam trong thế giới

Chúng ta thấy cả ba nền văn hóa văn minh Ấn Độ, Trung Hoa và Tây phương hiện giờ đều có mặt ở Việt Nam và đã thâm nhập vào đời sống dân tộc, tuy mức độ ‘tiếp biến’ thì có khác nhau. Tam giáo đồng nguyên (Phật, Khổng, Lão: Ấn Hoa) đã có ở Việt Nam ít nhất từ đời Lý và với Tây phương thì người Việt Nam cũng đã được tiếp xúc từ gần 4 thế kỷ. Văn minh Tây phương chính thức đặt chân vào Việt Nam từ giữa thế kỷ 19, với một cuộc tiếp biến bất đắc dĩ, khi người Việt bị Pháp đô hộ. Thế kỷ 20 ở Việt Nam là những cuộc chiến tranh trên đất nước giữa các ý thức hệ của Tây phương. Các cường quốc Tây phương đều đã từng có mặt ở Việt Nam, không bằng con người thì ít nhất cũng bằng ý thức hệ: Pháp, Mỹ, Nga. Hiện giờ không chỉ riêng chúng ta, mà hầu như tất cả châu Á đều học tập theo kinh tế xã hội Tây phương.

Ngày trước người Pháp gọi chúng ta là Indochine (Đông Dương), có nghĩa là Ấn (Indo) và Hoa (Chine). Họ đã thấy đất nước chúng ta là nơi hợp lưu của văn hóa Ấn Hoa. Cộng thêm sự hiện diện kể từ người Pháp, chúng ta đã có đủ ba nền văn minh căn bản hiện đại, trong đó cái gốc là văn hóa Á Đông. Cái giá phải trả cho sự tiếp biến văn hóa Tây phương là đắt, nhưng cũng có thể là điều may bởi vì chúng ta hiểu sâu Tây phương đồng thời vẫn giữ được cái gốc văn hóa của mình, hơn một số nước Á châu, Phi châu và Nam Mỹ khác. Chẳng hạn cùng nền văn hóa Ấn Hoa, Phật, Khổng, nghĩa là tương tự như các nước Đông Á, nhưng khi chúng ta nhận ra khả năng uyển chuyển của mẫu tự Latin, chúng ta đã chấp nhận cách viết ký âm theo lối Tây phương mà không tiếp tục viết theo lối chữ “vuông” như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Chúng ta có cả ba nền văn hóa và nền văn hóa nào cũng ăn sâu và trở thành thành phần của đời sống của nhân cách chúng ta. Sự chọn lọc, tổng hợp ‘lai ghép’ là công việc của mỗi thế hệ người Việt Nam. Nói như Marinoff, đó phải là ‘chuyện làm hàng ngày’ của mỗi người Việt.

Sau đây chúng ta tìm hiểu tổng hợp Tam giáo đồng nguyên, cái gốc của văn hóa Việt Nam từ hai ngàn năm nay, ở một con người Việt Nam là Trần Cao Vân. Dĩ nhiên đây là văn hóa Việt Nam trước khi có sự hòa nhập của văn hóa Tây phương.

  1. Tìm hiểu văn hóa Việt Nam qua một bài thơ của Trần Cao Vân (1866-1916)

Chọn một bài thơ của Trần Cao Vân, ít nhất vì hai lý do. Đó là văn hóa Việt Nam trước khi có văn hóa Tây phương hòa vào. Thứ hai, đây là bài thơ cuối cùng của một người yêu nước trước khi chết vì bị kết án tử hình. Như chúng ta thường nói văn hóa là cái còn lại của một người, văn hóa là cái giúp cho người đó biết sống và biết chết, do đó bản lĩnh văn hóa sẽ rõ ràng hơn nơi một thời điểm cuối cùng như vậy.

Trần Cao Vân sinh năm 1866 ở Điện Bàn, Quảng Nam. Ông là một nhà Nho, nhưng có lúc ở chùa, pháp danh là Như Ý. Lúc ở chùa Cổ Lâm, ông nghiên cứu sâu về Kinh Dịch và phát kiến ra Trung Thiên Dịch. Dịch từ xưa có Tiên Thiên và Hậu Thiên. Ông đặt thêm Trung Thiên đề cao vai trò của con người giữa Trời và Đất. Chúng ta cần chú ý chữ Trung của ông trong bối cảnh bài này. Trong cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên, ông là cố vấn cho nhà sư Võ Trứ trụ trì chùa Đá Bạc. Ông chịu nhiều ảnh hưởng Phật giáo và có thể nói ông là một trong những nhà Tam giáo đồng nguyên cuối cùng ở nước ta, trước khi văn hóa Việt Nam tiếp biến văn hóa Tây phương.

Nam mô nguyện trả xong rồi nợ

Mối thánh đem về cõi Hạ, Thương.

Tâm huyết của ông là Trung Thiên Dịch, như được bày tỏ trong câu đối của ông, khóc nhà chí sĩ Châu Thương Văn, một vị lãnh đạo phong trào Duy Tân ở Quảng Nam đã tuyệt thực đến chết trong ngục, được Huỳnh Thúc Kháng dịch ra tiếng Việt:

Ta có tiếc sống đâu

Ngặt vì Dịch Trung Thiên mới mở đầu

Dũ Lý bảy năm chưa kịp diễn

Người hãy theo nghĩa đấy

Khó nhất kinh muôn đời hay giữ chắc

Thú Dương nghìn thuở vẫn còn nghe.

Ông là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Duy Tân. Thất bại, vua Duy Tân bị Pháp đày sang đảo Réunion, còn ông bị xử chém tại Huế, cùng với Thái Phiên và các nhà cách mạng khác. Trước giờ ra pháp trường, ông để lại hai bài thơ, trong đó có bài Vịnh Tam Tài. Sau đây chúng ta sẽ diễn giải bài ấy bằng ngôn ngữ Phật giáo. Sở dĩ như vậy vì hai lý do:

Thứ nhất, Phật giáo là một phần tư tưởng của ông, nên dùng tư tưởng Phật giáo để giải thích một bài thơ dùng những khái niệm Trung Hoa của ông chắc không phải là điều ngăn ngại. Cũng như thế đối với những tác phẩm trước ông như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…

Thứ hai, ngay đối với Trung Hoa, khái niệm Thiên (Trời) cho đến Khổng Tử và Mạnh Tử cũng còn mơ hồ. Phải đến khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, nhờ triết học Đại thừa, những khái niệm Thiên Địa Nhân (Trời Đất Người) mới dần dần sáng tỏ. Do đó mà có sự phục hưng mạnh mẽ của Khổng giáo vào thế kỷ thứ nhất ở thiên niên kỷ thứ hai với Chu Liêm Khê, Trương Hoành Cừ, Trình Minh Đạo, Trình Y Xuyên, sau đó là Chu Hy, Vương Dương Minh…

Ở đây chúng ta xác định lại Tam Tài:

– Thiên(Trời) là lĩnh vực siêu hình học (mà Trung Hoa gọi là hình nhi thượng), tức là thực tại tối hậu, không hình không tướng, mà Lão Tử gọi là Đạo, Kinh Dịch gọi là Thái Cực, Tây phương gọi là Hữu Thể (l’Être), Phật giáo gọi là tánh Không, Như Lai tạng…Thiên là cái Một, cái Nhất Thể, là Tinh Thần thuần túy vượt khỏi ý thức. Nói theo Phật giáo, đây là Chân lý tuyệt đối.

Địa (Đất) là lĩnh vực của thế giới biểu lộ thành hình tướng, muôn hình vạn trạng, đa thù. Đây là thế giới của vật lý, của vật chất, đối tượng của các giác quan. Tất cả phạm trù Địa nằm trong Chân lý tương đối hay quy ước.

Tư tưởng chủ yếu của Trung Hoa là Thiên Địa Nhân nhất thể, tư tưởng Phật giáo là ‘Tất cả là Một, Một là Tất cả’, chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối là một (Sắc tức là Không, sanh tử là Niết-bàn).

Vịnh Tam Tài

Trời đất sinh ta có ý không?

Chưa sinh trời đất có ta trong

Ta cùng trời đất ba ngôi sánh

Tròi đất in ta một chữ đồng

Đát nứt ta ra trời chuyển động

Ta thay trời mở đất mênh mông

Trời che đất chở ta thong thả

Trời đất ta đây đủ hóa công.

 

Trời đất sinh ta có ý không? Trong chân lý tương đối, chúng ta sinh ra là do nghiệp, tức là những hành động đã làm trong những đời trước của mình. Nhưng đâu là ý nghĩa thật sự của sự có mặt của con người trước hai thực tại. Thực tại tuyệt đối và không biểu lộ, và thực tại tương đối đang biểu lộ? Chúng ta nhớ lại ba câu hỏi của Kant: “Tôi có thể biết gì? Tôi phải làm gì? Tôi được phép hy vọng gì?” Đây là câu hỏi căn bản của cả hai nền văn hóa Đông Tây. Câu hỏi đầu tiên và cuối cùng của thân phận con người.

Chưa sinh trời đất có ta trong: Dù chưa sinh hay đã sinh, chúng ta vẫn luôn luôn ở trong Như Lai tạng, trong tánh Không, trong Phật tánh. Đây không phải là triết lý, mà là sự chứng nghiệm của rất nhiều người kể từ sự giác ngộ của Đức Phật, nếu chỉ tính trong Phật giáo.

Ta cùng trời đất ba ngôi sánh: Con người bình đẳng với Trời Đất, đồng một thể tánh với Trời Đất, đồng một Như Lai tạng, đồng tánh Không, đồng Phật tánh. Ba ngôi ấy là ba mặt của thực tại tối hậu: không biểu lộ thành hình tướng (Thiên); biểu lộ thành hình tướng (Địa), và biểu lộ ở bình diện sự sống cao cấp và tinh tế là con người (Nhân). Chúng ta có thể trích một bài kệ của Thiền sư Thường Chiếu (thế kỷ 13):

Ở đời làm thân người

Tâm là Như Lai tạng

Chiếu sáng khắp mọi phương

Tìm nó, không một vật.

Trời đất in ta một chữ đồng: Con người đồng nhất với Như Lai tạng, đồng nhất với tánh Không: Sắc tức là Không, Không tức là Sắc… Đây cũng là tư tưởng Thiên Địa Nhân nhất thể của Trung Hoa.

Đất nứt ta ra trời chuyển động: Thân con người là Đất, tâm con người là Trời. Con người là sự hợp nhất của Đất và Trời trong hiện hữu của nó. Thế nên chỉ có nó mới biết được Đất là một biến tướng, một ‘khúc xạ’ một hóa thân của Trời. Chỉ có nó mới biết chân lý tương đối là một phản ảnh của chân lý tuyệt đối, sắc tức là Không và ngược lại.

Ta thay trời mở đất mênh mông: Con người vốn là Như Lai tạng vô tướng vô hình ấy ở nơi thế giới hữu tướng hữu hình (vốn là một phương diện khác của Như Lai tạng). Mặt khác con người nhiếp dẫn Đất, như là sự phóng xuất của Trời về với cội nguồn của chính nó (là Trời). Nói cách khác con người cứu độ được thế giới vật chất bằng cách nối kết nó với thế giới tinh thần. Định mệnh cao cả của con người là kết nối được Đất với Trời, kết nối được chân lý tương đối với chân lý tuyệt đối.

Ở đây ta có thể nói thêm một chút về ‘triết lý hành động’ của Đông phương. Trong văn hóa Tây phương nghiêng về chủ nghĩa cá nhân của thời hiện đại, con người càng hành động càng cô đơn, càng hành động càng tàn phá trái đất. Trái lại, con người Đông phương càng hành động càng hài hòa. Hài hòa Tam Tài.

Trời che đất chở ta thong thả: Cái cảm giác luôn luôn sống (và chết) trong Như Lai tạng làm con người an vui thong thả. Bởi thế mà người Đông phương nói: ‘Sống gởi thác về’. Khi nhớ lại đây là bài thơ cuối cùng của một con người trước khi ra pháp trường, chúng ta mới thấy được ‘năng lượng’ của sự ‘thong thả’ của cái ‘nhàn’ của người xưa là thế nào.

Trời đất ta đây đủ hóa công: Con người luôn luôn gồm đủ cả Trời Đất trong cuộc hiện sinh của mình, luôn luôn sống trong Như Lai tạng biểu lộ và Như Lai tạng không biểu lộ. Hóa công hay vũ trụ là ba ngôi Trời Đất Người một thể, và cái đó luôn luôn hiện diện nơi ta ở đây và bây giờ (ta đây). Nói đơn giản, ‘ta đây’ là tất cả vũ trụ. Tất cả vũ trụ là ‘ta đây’. Phải nói rằng đây là sự tự tin tối hậu của con người. Câu nói ‘tri thiên mệnh’ của Khổng Tử cần phải được hiểu là sự tự tin tối hậu như vậy.

  1. Tạm kết

Dĩ nhiên chúng ta phải thu hóa, tiếp biến văn hóa và văn minh Tây phương. Hiện giờ có một vật dụng gì chúng ta sử dụng mà không phải từ khoa học kỹ thuật Tây phương? Ngoài khoa học kỹ thuật ra, chúng ta cần phải tiếp biến những tinh hoa từ đầu nguồn Tây phương, và cũng phải coi chừng những gì lệch lạc, những phát triển ‘cực đoan’ của Tây phương.

Trong thế kỷ 20 ở Tây phương, chúng ta chứng kiến ‘nỗi mất quê hương’ của thời hiện đại và hậu hiện đại. Trước kia, triết học còn có (và là) sự nhớ nhung quê hương, sự hoài niệm Hữu thể, (nostalgie de l’Etre). Bây giờ với hậu hiện đại, con người bác bỏ hữu thể học và siêu hình học (hữu thể học và siêu hình học chỉ là một ‘đại tự sự’) cho nên ngay cả sự nhớ quê hương Hữu thể cũng không còn.

Sở dĩ ra nông nỗi như thế là vì Tây phương đã bác bỏ một vị Trời, một vị Thần (God) tối cao (một đại tự sự) được biến dịch theo các tôn giáo hữu thần ở Tây phương. Trong khi làm việc đó, họ phá hủy luôn siêu hình học và hữu thể học khác, cắt đứt tính thiêng liêng và tính siêu việt nội tại của con người. Phá bỏ con đường hướng thượng của nền văn minh, đó là hư vô chủ nghĩa.

Nhìn qua như thế để thấy rằng chúng ta cần học cái gì cần bỏ cái gì của Tây phương, nhất là Tây phương hiện đại.

Qua bài thơ cuối cùng của một con người Việt Nam, chúng ta có thể thấy một tư cách Việt Nam trước đời sống và trước cái chết như thế nào. Đó là một nhân cách văn hóa Việt Nam, mà từ xưa gọi là Tam giáo đồng nguyên.

Nói cho cùng, văn hóa là cái tạo cho chúng ta một nhân cách để biết sống và để biết chết. Trải qua thế kỷ 20 với nhiều cuộc chiến tranh, với nhiều cuộc thử nghiệm lai ghép với tư tưởng Tây phương, hiện nay chúng ta đang ở thời kỳ đất nước hòa bình. Chúng ta đã đủ bình tĩnh để nhận ra đâu là cái hay của ta và cái hay của người, cái dở của ta và cái dở của người, nhất là trong một thời đại mà Tây phương đang tham khảo cội nguồn của Đông phương để nhìn rõ và tìm lại cội nguồn của chính mình. Thế nên chúng ta phải biết “nhập khẩu” những tinh túy Tây phương thế nào để cho nhân cách Việt Nam càng thêm đúng hơn, tốt hơn và đẹp hơn.■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 94

 

(Visited 175 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , ,

Category: Nguyễn Thế Đăng, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *