Đức Phật và tương lai Phật giáo

| 01/08/2015 | 0 Comments

Bhimrao Ramji Ambedkar  | Hoang Phong dịch

(Tiếp theo VHPG số 77 và hết)

duc-Phat-tuong-lai-Phat-giaoTrong số những người tin rằng nếu các người Ấn giáo biết noi theo những lời giáo huấn của Phật thì họ có thể tự cứu lấy mình được, nhưng trong số ấy cũng có những người không khỏi cảm thấy đau buồn khi nghĩ rằng sự hồi sinh của Phật giáo ở Ấn Độ ngày nay tỏ ra hết sức mơ hồ. Tôi không chia sẻ cái quan điểm yếm thế ấy.

Nếu căn cứ vào thái độ hiện nay của các người Ấn giáo thì người ta có thể phân chia họ thành hai nhóm: nhóm thứ nhất chủ trương khái niệm cho rằng tất cả các tôn giáo đều đúng, kể cả tôn giáo khác cũng đang chủ trương cùng một chủ thuyết như thế, tuy nhiên, người ta không thể tìm thấy một chủ thuyết nào lại có thể sai lầm hơn như thế, dù rằng những người chấp nhận chủ thuyết này nhất định sẽ được rất nhiều tín đồ của các tôn giáo khác ủng hộ. Nhóm thứ hai thì trái lại, tuy hiểu rằng giáo lý thuộc tôn giáo của họ có

rất nhiều điểm không phù hợp với lương tri, nhưng mặc nhiên họ không công khai tố cáo những sai lầm đó, và đồng thời họ nhắm mắt chịu chấp nhận trong tận cùng thâm tâm những điều phi lý ấy. Thái độ thứ hai vừa kể dù sao đi nữa cũng dễ hiểu hơn so với thái độ thứ nhất.

Thực ra thì tôn giáo vẫn là một gia tài của con người. Sự sống của con người, phẩm giá và lòng kiêu hãnh của họ đều căn cứ vào đó, và việc chối bỏ tôn giáo không phải dễ. Hơn nữa, tình yêu tổ quốc lại còn chen thêm vào đấy nữa, có phải người ta thường vẫn nói: “tôn giáo của Tôi” tốt hoặc là xấu, “quê hương của Tôi” tốt hoặc là xấu. Thay vì chối bỏ tôn giáo của họ khi nhìn thấy những sai lầm thì người Ấn giáo lại tìm cách tự bào chữa bằng những biện pháp giả tạo không chân thật. Một số người thì tự an ủi và nghĩ rằng tất cả tôn giáo đều sai lầm như nhau, chẳng có gì phải quan tâm cho lắm. Thái độ bảo thủ quá đáng cũng có thể là một lý do ngăn cản họ trở về với Phật giáo một cách công khai. Thái độ như thế chỉ có thể mang đến một hậu quả nhất định: bắt buộc Ấn giáo sẽ tàn lụi và không còn giữ được vai trò thúc đẩy sự sống trong xã hội nữa. Một khoảng trống không sẽ làm phát sinh những mối hiểm nguy làm cho xã hội Ấn Độ tan rã, viễn ảnh ấy sẽ bắt buộc những người Ấn giáo phải chọn một thái độ tích cực hơn. Và chính trong trường hợp đó Phật giáo sẽ hiện ra như một phương pháp cuối cùng.

Theo ý tôi, còn có nhiều lý do khác để hy vọng nữa. Thật vậy, bất cứ một tôn giáo nào cũng phải đưa ra một câu trả lời cho câu hỏi chánh đáng sau đây: Tôn giáo phải làm thế nào để xoa dịu trên phương diện tinh thần và đạo đức cho kẻ thấp hèn và bị áp bức? Nếu một tôn giáo không đủ sức mang đến một sự trợ giúp nào không trên phương diện tinh thần và đạo đức cho hàng triệu con người thuộc các giai cấp thấp kém và những người “Tiện dân”? Nhất định câu trả lời sẽ là không. Những người Ấn giáo có thể tin chắc hay không là những kẻ bị gạt ra bên ngoài pháp luật như thế sẽ vĩnh viễn chấp nhận sống trong quy luật của Ấn giáo, những quy luật chỉ toàn mang đến cho họ sự thất vọng? Chỉ có điên rồ mới tin như thế mà thôi. Ấn giáo đang ngồi trên một ngọn núi lửa. Hôm nay ngọn núi lửa có vẻ như đã tắt. Nhưng thật ra đấy chỉ là một giấc ngủ yên, nó sẽ thức dậy một ngày nào đó khi hàng triệu người ý thức được là họ đang bị tước hết các quyền hạn chỉ vì triết thuyết xã hội của Ấn giáo. Người ta cũng chưa quên sự thất bại của Dị giáo (17) do Thiên Chúa giáo gây ra cho đế quốc La Mã. Khi quảng đại quần chúng nhìn thấy các vị Tông đồ thuyết giảng một tôn giáo hứa hẹn với họ sự giải thoát và xoa dịu tinh thần mà Dị giáo không đủ sức mang đến cho họ, thì ngay lúc đó Dị giáo bị kết án ngay. Những gì đã xảy ra ở La Mã trước kia sẽ không tránh khỏi sẽ xảy ra sau này ở Ấn Độ với những nguyên do giống như nhau. Một khi đã bừng tỉnh thì tất nhiên sẽ có những đám người Ấn giáo đông đảo quyết tâm quay về với Phật giáo.

                               *          *          *

Đến đây chúng ta cũng chỉ mới đưa ra những nhận xét về Phật giáo bằng cách so sánh với Ấn giáo. Vì thế còn cần phải đặt Phật giáo song song với các tôn giáo khác ngoài Ấn giáo để so sánh nữa. Cách phân tích chi tiết liên quan đến mỗi tôn giáo nhất định sẽ dưa chúng ta đi quá xa. Vì thế chỉ cần đưa ra một vài kết luận có lẽ cũng đủ:

1) Một xã hội chỉ có thể tồn tại và duy trì được thăng bằng và đoàn kết bằng sự trợ lực của luật pháp hoặc bằng đạo đức. Thiếu các yếu tố trợ lực đó, xã hội sẽ phân hóa.

Trong tất cả các xã hội con người, vai trò của luật pháp rất yếu. Luật pháp hầu hết chỉ có sứ mạng duy trì các nhóm thiểu số để đặt họ vào khuôn phép của một trật tự xã hội. Trái lại nhóm đa số thì nắm giữ trọng trách và các quyền hạn để kiến tạo một đời sống xã hội, dựa trên một số những định đề nào đó về luân lý. Tôn giáo, nếu được định nghĩa như một hệ thống gồm các quy tắc đạo đức, thì tất nhiên sẽ trở thành một nguyên tắc căn bản không thể thiếu sót trong việc quản lý một xã hội.

2). Tôn giáo như vừa được định nghĩa, bắt buộc phải phù hợp với khoa học. Không phù hợp với khoa học, tôn giáo sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ mà thôi, và tôn giáo sẽ tự mình đánh mất sức mạnh trong việc quản lý sự sinh tồn, kể cả sự kính trọng của tín đồ. Nói một cách khác, tôn giáo không thể nào đi ngược với lý trí, và lý trí thì rốt lại cũng chỉ là một tên gọi khác của khoa học.

3) Quy tắc đạo đức là thành phần căn bản của tất cả mọi tôn giáo, nhưng đồng thời cũng không phải là điều kiện duy nhất mà tôn giáo cần phải có. Giáo lý của các tôn giáo còn cần phải được xây dựng trên những nền móng nhân bản vững chắc và phải thiết lập được những khái niệm căn bản về tự do, công bằng và nhân ái. Bất cứ một tôn giáo nào không thiết lập được những nguyên tắc ấy thì sớm hay muộn cũng sẽ biến mất.

4) Trong bất cứ trường hợp nào, tôn giáo không được tự nhận là có bổn phận thần thánh hóa hay cao thượng hóa sự nghèo đói. Sự chối bỏ của cải của những người giàu có thì cũng có thể xem như là một phúc lành, nhưng đối với sự nghèo đói thì nhất định không. Tôn vinh sự cao cả tự tại trong sự nghèo đói là tìm cách đánh lạc hướng tôn giáo, bởi vì đó chỉ là một hình thức đồng lõa để biến quả đất này thành một địa ngục sinh động, và đồng thời duy trì những thói xấu và tội ác do sự nghèo đói sinh ra.

Vậy thì tôn giáo nào đây có thể đáp ứng được những đòi hỏi như vừa kể? Khi đã nêu lên câu hỏi ấy thì phải hiểu rằng giai đoạn của Mahatma (18) đã qua rồi, và trên địa cầu này không còn chỗ nào cho một tôn giáo mới có thể phát sinh. Vậy chúng ta đành phải lựa chọn những tôn giáo đã có sẵn.

Cũng có thể là một trong những tôn giáo sẵn có hiện nay đáp ứng được điều kiện này hay điều kiện kia trong số bốn điều kiện vừa được nêu lên trên đây. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là phải tự hỏi xem có một tôn giáo nào đủ sức đáp ứng được tất cả bốn điều kiện cùng môt lúc hay không. Theo sự hiểu biết của tôi, chỉ có Phật giáo là đáp ứng được tất cả bốn điều kiện như đã trình bày. Vì vậy, thiết nghĩ cũng không phải là quá đáng khi kết luận rằng Phật giáo đương nhiên sẽ hiện ra như một tôn giáo duy nhất có thể phù hợp cho toàn thể loài người, tất cả các dân tộc phải góp công để xây dựng cái thế giới mới ấy, trong cái thế giới mới của Phật giáo tất cả sẽ trở nên khác biệt một cách thật sâu xa so với những gì đang xảy ra trên thế ngày nay.

Tất cả những điều vừa trình bày trên đây có thể làm cho nhiều người ngạc nhiên. Nếu như những ý kiến mà tôi vừa phát biểu tỏ ra kỳ lạ, chẳng qua vì lý do một phần lớn những người viết về Đức Phật đã quảng bá một ý nghĩa rất sai lầm cho rằng giáo lý duy nhất do vị Thầy của chúng ta thuyết giảng chỉ gồm có ahimsa (19). Đương nhiên tôi không có một lý do chính đáng nào để giới hạn tầm quan trọng của ahimsa mà Đức Phật thật sự đã thuyết giảng. Quả thật ahimsa là một giáo điều vĩ đại và tuyệt với, thế giới này chỉ có thể tự cứu lấy mình khi biết noi theo giáo điều ấy. Tuy nhiên, điều đó không thể giới hạn được những lời giáo huấn khác của đấng Như Lai. Trong khuôn khổ giáo lý mà Đức Phật đưa ra, Ngài còn thuyết giảng về sự tự do trong xã hội, trong đời sống tinh thần, và cả trên phương diện kinh tế và chính trị, cũng như sự bình đẳng giữa nam và nữ và giữa con người với nhau. Quả thật hết sức khó để tìm thấy một vị thầy đủ tư cách thuyết giảng một giáo lý gồm thật nhiều lĩnh vực và khía cạnh khác nhau liên quan đến đời sống xã hội con người nói chung và cả trên lĩnh vực quốc gia nữa, giáo lý ấy lại đủ sức vượt qua một cách dễ dàng mọi loại thử thách và cả yếu tố thời gian, nhất là trước những khó khăn của thời kỳ hiện đại. Sau cùng còn phải nêu lên mục đích to lớn nhất của giáo lý ấy là cứu vớt con người ngay trong cuộc sống của họ trên hành tinh này, nhưng không hứa hẹn với họ một bầu trời cao rộng sau khi họ đã chết rồi.

Những biện pháp thực tiễn nào có thể giúp để truyền bá Phật giáo? Có thể đề nghị các biện pháp theo thứ tự như sau:

1) Soạn thảo và phổ biến một quyển Thánh kinh Phật giáo.

2) Cải tiến cơ cấu, mục đích và vai trò của Tăng đoàn.

3) Thành lập một phái bộ Phật giáo thế giới.

Phát hành và phổ biến một quyển Thánh kinh Phật giáo là một việc thiết yếu và khẩn cấp. Kinh sách Phật giáo thật mênh mông, không thể nào có thể trông cậy ở một tín đồ còn non nớt mới bước vào con đường Phật giáo để nhờ họ nghiên cứu con số kinh sách khổng lồ về Phật pháp. Lợi thế của các tôn giáo khác là đã có sẵn một quyển Phúc âm mà mỗi người có thể mang theo bên mình để đọc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Một quyển Thánh kinh tỏ ra hết sức tiện lợi, nhưng tiếc thay Phật giáo lại không có. Bản kinh Dhammapada (Pháp Cú kinh) của Ấn Độ có thể giữ vai trò đó, nhưng đã không thành công.

Các tôn giáo lớn đều dựa vào đức tin. Tuy nhiên nếu là một đức tin tượng trưng cho sự tin tưởng và những giáo điều trừu tượng thì quảng đại quần chúng không thể nào hấp thụ và tiếp nhận được. Phải biết tạo ra những điểm mốc cụ thể để trợ lực cho trí tưởng tượng giúp cho các huyền thoại, các câu chuyện dị thường hay truyền thuyết có thể bám vào đó. Trong bản kinh Dhammapada không có những thứ ấy, bởi vì bản kinh này chỉ trình bày sự tin tưởng căn cứ vào những giáo lý trừu tượng.

Quyển Thánh kinh Phật giáo phải gồm có: a) tiểu sử thật ngắn của Đức Phật; b) kinh Dhammapada theo văn bản tiếng Hán của Trung Quốc; c) một vài mẫu đối thoại của Đức Phật, nên chọn những mẫu chuyện ý nghĩa nhất; d) giải thích một số nghi lễ Phật giáo, chẳng hạn như ngày Phật đản, lễ quy y, lễ cưới và lễ cầu siêu cử hành trong các đám tang.

Soạn thảo một trước tác như thế phải thật cẩn trọng nhất là trên phương diện ngữ pháp không được cẩu thả. Ngôn từ phải sinh động để tạo ra cho toàn bộ trước tác một không khí thiêng liêng qua những câu tụng niệm, nhưng tuyệt nhiên quyển Thánh kinh không phải là phương tiện để thuật lại những câu chuyện dông dài hay là để nêu lên những bài giảng mang tính cách đạo đức. Văn phong phải giản dị và trong sáng, nhưng đồng thời phải tạo được sự xúc động.

Giữa một vị sannyasi (giáo sĩ) Ấn giáo và một vị bhikhu (Tỳ-kheo) Phật giáo có cả một vực thẳm ngăn cách. Vị thứ nhất hoàn toàn thoát tục,, như một người đã chết trong cõi đời này; vị thứ hai thì trái lại, đang vận hành giữa xã hội, là một thành phần của sự sống và đang sinh hoạt trong thế giới này. Vì thế người ta cũng sẽ tự hỏi Đức Phật đã tạo ra Sangha (Tăng đoàn) trong mục đích gì, nếu như tập thể ấy hoàn toàn bị tách rời khỏi môi trường xã hội đang bao quanh họ? Nhất định một trong những mục đích của Đức Phật khi tạo ra Tăng đoàn là trình ra một tập thể gương mẫu cho người thế tục noi theo, gương mẫu ấy phải đáp ứng một cách trung thực những lý tưởng Phật giáo. Đức Phật cũng thừa hiểu là những con người bình dị như chúng ta không thể nào đủ sức để thực hiện một lý tưởng toàn vẹn như thế, nên Ngài đã cố gắng chỉ cho chúng ta trông thấy trước mắt một tập thể đang xả thân vì lý tưởng ấy. Chính vì lý do đó mà Tăng đoàn đã được thành lập, và Đức Phật đã quy định và hướng dẫn những thành viên của Tăng đoàn bằng một hệ thống quy luật gọi là Vinaya (Luật tạng).

Còn mục đích khác nữa trong việc thành lập Tăng đoàn, đấy là mục đích nhắm vào việc tạo dựng một tập thể tinh hoa với trình độ tri thức ưu tú, đủ sức hướng dẫn những kẻ thế tục một cách vững chắc và vô tư. Chính vì mục đích này mà Đức Phật cấm không cho người Tỳ-kheo được giữ của cải, vì sự chiếm giữ của cải là một trong những chướng ngại lớn nhất cản trở sự tự do của trí tuệ. Mục đích thứ ba của Đức Phật khi thành lập Tăng đoàn là tạo dựng một tập thể mà các thành viên hoàn toàn phải xả thân để phục vụ dân chúng, và ngoài nhiệm vụ ấy ra thì không được quan tâm đến bất cứ một thứ gì khác nữa. Cũng vì thế mà Đức Phật đã cấm các vị Tỳ-kheo không được lập gia đình.

                                          *          *          *

Tăng đoàn ngày nay còn đáp ứng được sứ mạng đó hay không? Chúng ta đành phải trả lời là không. Ngày nay Tăng đoàn không còn đủ sức hướng dẫn và phục vụ dân chúng đúng như trọng trách của họ. Trong tình trạng như hiện nay, họ không còn lợi ích gì nữa trong công việc phổ biến Phật pháp. Trước hết con số Tỳ-kheo quá đông. Phần lớn trong số họ thật ra chỉ là những vị sadhu (20)và những vị sannyasi (21) suốt ngày chìm đắm trong suy tư và lười biếng, cái sứ mạng giáo huấn và phục vụ của họ thì không ai trông thấy đâu cả.

Khi phải nêu lên vấn đề giúp đỡ dân chúng đang khổ đau, thì người ta nghĩ ngay đến Sứ mệnh của Ramakrishna (22) nhưng không mấy ai nói đến các Tăng đoàn Phật giáo. Người ta chỉ cần một số nhỏ Tỳ-kheo nhiều khả năng cũng đủ để thay cho cả một đạo binh khổng lồ gồm toàn những kẻ ăn không ngồi rồi.

Tốt hơn Tăng đoàn nên rút kinh nghiệm từ một vài khía cạnh sinh hoạt của các giáo sĩ Thiên Chúa giáo bành trướng ở Á châu phần lớn là nhờ vào các công tác y tế và giáo dục. Để thực hiện mục đích truyền đạo, Thiên Chúa giáo đưa vào các quốc gia mà họ muốn truyền bá Phúc âm những nhà truyền giáo, ngoài khả năng giáo lý học còn phải thông thạo trong các lĩnh vực thế tục về khoa học và văn hóa. Thực ra đó cũng là những phẩm tính của các vị Tỳ-kheo trong quá khứ. Chỉ cần nhìn lại các đại học như Nalanda, Taxila từng được các nhà sư quản lý, nhất định các vị ấy phải có trình độ học vấn thật cao. Sau hết cũng nên ý thức rằng các công tác xã hội là những công cụ không thể thiếu sót trong việc quảng bá đức tin. Những người tu hành ngày nay phải quay về với lý tưởng đó. Tình trạng hiện thời của Tăng đoàn không cho thấy một khả năng nào có thể thu hút được dân chúng.

Sau cùng phải nói là Phật giáo sẽ không có một hy vọng nào bành trướng được nếu thiếu một Phái bộ có tính cách toàn cầu. Quảng bá tôn giáo cũng như phổ biến giáo dục đều đòi hỏi những phương tiện thật mạnh: cả nhân lực lẫn tiền bạc. Ai đứng ra cung cấp những thứ ấy ngoài những nước mà Phật giáo còn sinh động? Chính các quốc gia này phải đảm trách việc cung ứng các phương tiện tài chính và đào tạo các nhà truyền giáo, ít nhất là trong giai đoạn đầu. Nhưng các quốc gia đó có sẵn sàng đi vào thực hiện hay không? Thật là đáng tiếc, hình như trong số các quốc gia Phật giáo, người ta không tìm thấy một chút nhiệt tình nào cả trong công tác quảng bá Phật pháp.

Tuy nhiên, thời đại ngày nay thật hết sức thuận lợi để thực hiện sứ mạng ấy. Trong quá khứ tôn giáo không hề đặt thành vấn đề, vì đã nằm sẵn trong thành phần gia tài mà mỗi cá nhân được thừa hưởng. Một đứa bé khi chào đời đương nhiên thừa hưởng tôn giáo của cha mẹ, kèm thêm cái tên và cả quốc tịch của cha mẹ mình nữa. Không có ai đem ra xét đoán cái tôn giáo mà mình thừa hưởng xem nó có xứng đáng và đầy đủ những phẩm tính cần thiết hay không. Thời gian đã thay đổi: ngày nay mọi người đều có quyền thắc mắc và một số đông đã có đủ can đảm để từ bỏ một đức tin mà họ thấy sai lầm, để đón nhận một tôn giáo khác mà họ cho là hữu lý và đích thật. Các khám phá khoa học, có những chủ thuyết đã gây ra hoang mang trong quần chúng, đưa đến kết luận rằng tôn giáo là một sai lầm cần phải loại bỏ, vì nó đã thúc đẩy người nghèo tùng phục những kẻ giàu có. Dù cho tìm kiếm những lý do nào đi nữa thì cũng phải công nhận một sự kiện thật quan trọng là ngày nay con người biết sử dụng lý trí để phán đoán những vấn đề tôn giáo, giống như những vấn đề thuộc các lĩnh vực khác. Thời cơ đã thuận lợi để mang Phật giáo đến với những người chưa hề biết tôn giáo này là gì, và biết đâu họ cũng đang chờ đợi chúng ta đến gần với họ. Các quốc gia Phật giáo cần phải nhận lấy trọng trách quảng bá Phật pháp. Các quốc gia Phật giáo phải hiểu rằng bổn phận của một Phật tử không phải chỉ có việc tu tập trong khuôn khổ quy định bởi tôn giáo của mình mà còn phải giúp kẻ khác biết được cái tôn giáo ấy và yêu mến cái tôn giáo ấy. Các quốc gia này phải vững tin rằng quảng bá Phật giáo là lý tưởng phục vụ cho toàn thể nhân loại.

 

Chú thích:

  1. Đối với Phật giáo, Dharma có nghĩa là Đạo pháp hay Phật pháp, đối với Ấn giáo chỉ có nghĩa là những nghi thức lễ bái.
  2. Purvamimamsa là một tập luận triết học quan trọng của Ấn giáo gồm 3.000 câu kinh do vị hiền triết Jaimini soạn vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch, tập luận chỉ nhất thiết nhắm vào việc thực thi các nghi lễ.
  3. Giết sinh vật để tế thần.
  4. Cúng tế
  5. Bhagavad Gita: nguyên nghĩa tiếng Phạn là “tiếng hát của Thượng đế”, là một trong những văn bản nòng cốt của đạo Bà-la-môn, văn bản này được trước tác vào khoảng thế kỷ thứ II trước Tây lịch. Bhagavad Gita gồm một chuỗi dài những tiết thơ trường thiên mang ý nghĩa triết lý thuật lại cuộc đối thoại giữa Krishna và một vị tướng lĩnh là Arjuna đang cầm quân ra trận.
  6. Nishkam karma là những hành vi không chờ đợi kết quả, những hành vi ấy dùng để tinh khiết hóa tâm thức.
  7. Nitya Karma là những nghi thức lễ bái phải thực thi mỗi ngày, nếu không tuân thủ sẽ bị tội. Chữ Nitya trong tiếng Phạn có nghĩa là thường hằng, thường trú, vĩnh viễn.
  8. Naimitika karma là những nghi thức lễ bái để tẩy uế, các nghi thức này có tính cách bất thường không định kỳ và phải do một vị đạo sư chủ lễ.
  9. Chartuvarna: sự phân chia giai cấp, đẳng cấp.
  10. Sudra: là giai cấp thứ tư và thấp nhất trong xã hội gồm những người tôi đòi và hầu cận. Xin ghi chú thêm là những người tiện dân không được phép có giai cấp.
  11. Sannyasa: là phép tu tập du già thiền định, sống độc thân, từ bỏ mọi tiện nghi và xa lìa thế tục, mục đích là đạt được sự giải thoát để hội nhập với Thượng đế.
  12. Đạo Jain là một tôn giáo lâu đời, tách ra từ đạo Bà-la-môn, xuất hiện từ thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, chủ trương bất bạo động, tu tập khổ hạnh và không sát sinh dưới bất cứ hình thức nào.
  13. Samkhya: tạm dịch là Số luận thuyết, một hệ thống triết học Ấn Độ rất xưa, xuất hiện từ thế kỷ thứ VII trước Tâylịch. Nguyên tác của số luận thuyết là tìm kiếm và xác định các thể loại của hiện thực vật chất Nguyên thủy (Prakrti) gồm có ba phẩm tính hay thể dạng (guna) trong thế thăng bằng. Nếu một trong ba thể dạng lần lướt hai thể dạng kia sẽ sinh ra trạng thái mất thăng bằng và quá trình biến động của vũ trụ sẽ đột khởi làm phát sinh ra sự trống không (không gian), gió, lửa, nước, đất; sự biến động tiếp nói và tạo ra vô số những thể dạng cấu hợp khác nhau. Mỗi cá thể con người cũng gồm có ba guna như thế. (Sở dĩ mạn phép dài dòng vì số luận thuyết ảnh hưởng khá lớn trong Ấn giáo và các cách luyện tập du-già, vì thế muốn hiểu Ấn giáo cần có một ý niệm về hệ thống triết học này)
  14. Câu này có nghĩa là khi công nhận vật chất bất động một cách tất yếu, tức gián tiếp công nhận sự hiện hữu của Trời vì Trời sáng tạo ra sự linh hoạt cho vật chất. kapila thì cho là vật chất tự nó đã mang bản chất linh hoạt rồi nên không càn đến sự hiện hữu của Thượng đế.
  15. Guna: là ba phẩm tính chính hàm chứa trong tất cả mọi dạng thể của sự sáng tạo. Các phẩm tính ấy là:
    – Sattva: sự thăng bằng (an bình,rạng ngời, bất thân thiện, khổ đau, an vui…)
    – tamas: năng lượng, sự đam mê, tính chất linh hoạt.
    – rajas: bóng tối, sự nặng nề, u mê, tính chất bất động…
  1. Nếu như bản chất của một cá thể gồm có ba guna, và một trong ba guna dù có lần lượt để tạo ra sự biến động đi nữa,thì vi thể của mỗi guna vẫn còn nguyên, vậy làm sao một anh thợ vẽ quảng cáo và một anh thợ hồ lại có thể trở thành những nhà lãnh đạo độc tài. Sự lập luận của tác giả cho thấy tính cách phi lý của học thuyết Samkhya, không thể dựa vào đó để bào chữa cho nguyên tắc phân chia giai cấp.
  2. Dị giáo: Paganism, thật sự ra là tôn giáo đa thần của người La Mã , Hy Lạp và Á Rập trước khi có Thiên Chúa giáo. Thiên Chúa giáo gán cho tôn giáo này cái tên là Dị giáo, và định nghĩa Dị giáo như một tôn giáo vô thần vì không tin vào một Thượng đế duy nhất.
  3. Tác giả muốn nói đến Mahatma Karamchand Gandhi (1869-1948) người đã giành độc lập cho Ấn Độ bằng cách tranh đấu bất bạo động. Hành vi bất bạo động của Gandhi có thể xem là thiêng liêng như một tôn giáo.
  4. Ahimsa: nguyên nghĩa của chữ này là “hành vi không gây ra thiệt hại cho bất cứ ai”. Chữ này gồm có phần đầu chữ a có nghĩa là không, ghép với chữ hims là một biến dạng đồng hóa của chữ han và chữ han có nghĩa là giết hại, sát sinh. Đây là một khái niệm đạo đức xuất hiện trong những văn bản ngắn mang tính cách triết học gọi là Upanisad, từ thế kỷ thứ V trước Tây lịch, Đạo Jain và Phật giáo khai triển và xem trọng hành vi đạo đức này Ấn giáo chỉ chính thức du nhập khái niệm ahimsa vào thế kỷ thứ II.
  5. Sadhu: theo ý nghĩa của Ấn giáo là các vị thánh nhân sống một cách hão huyền xa lìa thế tục.
  6. Sannyasi: các vị tu khổ hạnh và thoát tục theo lối Ấn giáo.
  7. Ramakrshna Mission: là một phong trào, nhưng đúng hơn bên trong là một giáo phái Ấn giáo, chủ trương dấn thân trong các công tác xã hội.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 78

(Visited 129 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Bhimrao Ramji Ambedkar, Hoang Phong, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *