Festival Huế gắn liền với Phật giáo

| 15/09/2016 | 0 Comments

NGUYỄN  VĂN  TOÀN |

festival-hueCứ mỗi độ Festival về trên đất Huế, khi phố phường  vang vọng những  âm thanh  hỗn độn của trống, kèn, đàn, sáo, của nhạc điện tử, tôi lại lặng lẽ buồn  và lặng lẽ tiếc cho vùng  đất  máu  thịt  của mình. Cố đô  Huế vốn là vùng đất yên bình, thơ mộng, nơi mà con người cũng trở nên sâu lắng đến lạ kỳ. Nhưng đáng tiếc. Lẽ ra, Phật giáo Huế, sự phản ánh đầy đủ nhất về tính cách và tâm hồn của người Huế, phải được quan tâm xứng tầm trong kỳ lễ hội mang tầm vóc quốc gia và quốc tế này; thì ngược lại, khi chưa quảng  bá được văn hóa nội tại của mình, những cơ quan tổ chức Festival của Huế lại đi mời gọi những văn hóa ngoại lai đối lập hoàn toàn với truyền thống của Huế.

Không phải cứ nhiều là sẽ… hay!

Ngay khi diễn ra Festival Huế 2014, là người quan tâm đến nhiều hoạt động lễ hội và chương trình hưởng  ứng, tôi nhận thấy ngay sự dàn trải và chồng chéo. Bởi Festival Huế 2014 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển” có đến 100 chương trình nghệ thuật với 170 suất diễn của 66 đoàn nghệ thuật (43 đoàn quốc tế, 23 đoàn của Việt Nam) quy tụ 2.502 nghệ sĩ và diễn viên đến từ 37 quốc gia ở cả năm châu lục tham gia, nên du khách phải xem mỗi nơi một ít, kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”; và tất nhiên những  lễ hội cũng như các chương trình này sẽ khó để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng du khách. Chẳng hạn, qua quan  sát của chúng  tôi, khán giả muốn xem các chương trình biểu diễn của các đoàn nghệ thuật tại bia Quốc học Huế phải gửi xe ở tận phía bãi cầu Tràng Tiền rồi đi bộ lên. Địa điểm này lại cách khá xa công viên Tứ Tượng, công viên Thương Bạc, những địa điểm diễn ra rất nhiều hoạt động nghệ thuật cùng thời điểm. Trong khi đó, có những quốc gia trên thế giới như Brazil chẳng hạn, chỉ cần một lễ hội như Carnival với vũ điệu samba  truyền thống  tại những  quảng  trường lớn là đã thu hút hàng triệu du khách quốc tế đến tham gia, đủ khả năng trở thành lễ hội lớn nhất hành tinh.

Cần nhìn nhận rằng người dân Huế vẫn xem Festival Huế là một “thời cơ” để hiểu biết nhiều hơn về thế giới xung quanh; nhưng các chương trình như Lễ hội Áo dài, Đêm Hoàng cung, Đêm Phương Đông… vẫn nằm ngoài tầm với của những người dân nghèo, vốn có nhiều nhu cầu nhất trong việc tiếp nhận văn hóa nhưng lại thiếu thốn  nhất  các điều kiện để được thụ hưởng văn hóa. Trong khi đó, hầu hết số vé mời các chương trình lễ hội đặc sắc lại được phát ra dành cho các cán bộ làm việc tại các cơ quan Nhà nước, những người có đủ khả năng tài chính để mua vé (với giá 100 – 300 ngàn đồng/vé).

Bên cạnh  đó, sẽ  rất “vô duyên” khi nói  rằng  có Festival Khoa học Huế 2014 “Thành tựu Y học với sức khỏe cộng đồng” tại Đại học Y Dược và Trung tâm Học liệu Huế (diễn ra vào ngày  11 – 17/4) trong  khuôn khổ Festival Huế 2014, trong  khi lẽ ra phải dùng  các từ như “hội thảo”, “hội nghị”, “tọa đàm”, “triển lãm” thì mới chính xác. Và những  thứ chẳng ăn nhập gì với từ “Festival” (lễ hội) như Hội thảo Công nghiệp Du thuyền Việt Nam cũng được đưa vào chương trình Festiva Huế 2014, mà thành  phần  tham  gia chỉ có giới khoa học, không mang tính chất cộng đồng của một lễ hội.

Do đó, sự việc sau 8 kỳ Festival Huế, thành phố Huế đã được trao danh hiệu “Thành phố Văn hóa của ASEAN” nhiệm kỳ 2014 – 2015, và là thành phố đầu tiên của Việt Nam đảm đương nhiệm vụ này cũng khiến tôi có cảm giác hụt hẵng. Bởi so với Hà Nội, Huế thua xa về bề dày ngàn năm văn hiến; còn so với Đà Nẵng, thành phố có lễ hội pháo hoa quốc tế, thì thua hẳn về lượng khách du lịch và cung cách phục vụ. Trong khi đó, du lịch đã trở thành ngành kinh tế trọng điểm ở Huế. Thực tế hiện nay, dịch vụ du lịch của Huế đang chiếm 45% trong tổng sản phẩm GDP của địa phương. Theo dự kiến của ông Phan Tiến Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnh Thừa Thiên – Huế, thì đến năm 2015, dịch vụ du lịch Huế sẽ tăng dần về tỉ trọng và chiếm khoảng 50% tổng sản phẩm của địa phương. Đây cũng là con số cao nhất so với du lịch các tỉnh thành  trong cả nước. Tuy nhiên, nếu không tìm ra lối đi riêng và phù hợp thì du lịch Huế dễ biến thành nền kinh tế bong bóng. Bởi một số biểu tượng văn hóa – lịch sử và dịch vụ – du lịch Huế dần bị mất đi trong cơn lốc của nền kinh tế thị trường khiến du lịch Huế khó có thể phát triển bền vững.

Thử làm một trắc nghiệm: Nếu như Huế không còn gì là cổ, là xưa, là chất Huế thì du khách có còn đến viếng thăm và du lịch Huế không? Chẳng hạn, sự hình thành và phát triển của hai khu phố cổ Bao Vinh, Gia Hội có một tầm quan trọng đặc biệt đối với dòng chảy lịch sử – văn hóa đất và người Thừa Thiên – Huế. Nhưng trên thực tế, vào thời điểm bước sang thế kỷ XXI, hơn 60% địa điểm của phố cổ Gia Hội đã bị hiện đại hóa, tháo dỡ hay bán đi. Tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng có lúc đã cố gắng tạo nên ở đây “một Hội An của Huế” và mong muốn đây là khuôn mẫu cho mô hình “bảo tồn phố cổ trong lòng đô thị hiện đại” được khởi động vào năm 2002. Tuy nhiên, trong thực tế thì kết quả đã… ngược lại với những tính toán ban đầu. Chẳng hạn, không một ngôi nhà cổ nào ở đoạn đường Chi Lăng thuộc khu phố cổ này được đưa vào danh sách bảo tồn. Trái lại, nhà cao tầng lại được xây mới hàng loạt bên cạnh một vài ngôi nhà xưa sót lại. Còn tuyến phố ẩm thực Bạch Đằng thì lại trở thành phố nhậu khuya của người dân nghèo  lao động nơi đây. Đối với thị trấn Bao Vinh, tình trạng cũng chẳng khả quan hơn. Theo thống kê của tỉnh Thừa Thiên – Huế, tại thời điểm năm 1991, khu phố này vẫn còn 39 ngôi nhà cổ. Rút “kinh nghiệm” của phố cổ Gia Hội, ngày 28/10/2003, UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế ra hẳn một quyết định về quy hoạch xây dựng và bảo tồn khu phố cổ Bao Vinh. Theo đó, UBND xã Hương Vinh không cho phép xây dựng nhà mới trong khu phố cổ Bao Vinh. Nhưng đến nay, dù Bao Vinh đã được tỉnh đưa vào cụm di tích xếp hàng thứ hai về sự ưu tiên bảo tồn trong quần thể di tích Cố đô Huế (chỉ sau Kinh thành Huế và các lăng tẩm) thì số nhà cổ chỉ còn vỏn vẹn là… trên dưới 15. Thật ra, quy luật thành-hoại  của văn hóa không thể xảy ra nhanh chóng như ở hai khu phố cổ này nếu công tác bảo tồn được chú trọng đầu tư ngay từ đầu và tiến hành một cách thường xuyên. Theo tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay thì hai khu phố cổ Bao Vinh và Gia Hội ở Huế sẽ có thể bị xóa sổ trong một tương lai không xa. Và kéo theo đó, du lịch Huế sẽ bị thiệt hại về biểu tượng như thế nào? Điều này chắc hẳn không ai có thể lường trước được.

Hay chẳng hạn, nhà thơ Võ Quê, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế cho rằng việc sử dụng khuôn viên nhà Hữu Vu để chụp ảnh du khách đóng vai vua chúa triều Nguyễn là một điều không   thể chấp nhận. Theo nhà thơ Võ Quê, ở Trung Quốc cũng có dịch vụ chụp ảnh du khách đóng  vai vua chúa nhà Thanh, nhưng  lại được thực hiện ở một địa điểm riêng biệt và không có việc ngồi lên ngai vàng để chụp ảnh. Trên thực tế, du khách chỉ cần 45.000đ mua vé là có thể “lên ngôi” ngay lập tức tại nhà Hữu Vu bên trong Đại Nội. Trong kỳ Festival Huế 2012, người viết bài này chứng kiến một số du khách miền Nam mang cả “áo vua” ra ngoài khuôn viên nhà Hữu Vu để chụp ảnh với thái độ giễu cợt, cười đùa. Đặc biệt, người viết còn chụp được một bức ảnh một vị du khách nữ người Âu mang quần lửng ngồi trên đùi “vua” rất phản cảm. Bên cạnh đó, khách du lịch khi đến Huế cũng chỉ cần bỏ ra một số tiền là sẽ được phục vụ thực đơn “cơm vua” đủ món như các vị vua triều Nguyễn thời xưa. Điều đáng nói việc các ông Tây bà đầm mặc “áo vua” dùng ngự thiện một cách khá kệch cỡm. Kết quả là hình tượng vua chúa Việt Nam đã trở nên rẻ rúng trong mắt du khách nước ngoài như loại vua An-nam-mít trong tác phẩm “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc. Trong khi đó cố đô Huế tuy không còn là kinh đô của các triều đại phong kiến nữa, nhưng nét uy nghi và linh thiêng của nó vẫn còn mãi trong tâm thức của người Việt Nam.

Một điều  đáng  buồn  nữa, khi tôi hỏi anh  N.Đ.L, hướng dẫn viên du lịch của một công ty lữ hành về lộ trình tour thì được anh trả lời rằng tour của công ty anh ấy thường  chỉ dẫn khách tham quan ở Ngọ Môn Huế, Kỳ đài và lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn. Và sau dấu “chấm hết” đó, anh cười rồi hăm hở dẫn đoàn khách du lịch lên xe, quay về khách sạn để hôm sau rời Huế. Thậm chí, tôi đã từng chứng kiến nhiều tour cố nhồi nhét cả chương trình hát karaoke vào cuối lịch trình vì “cháy ý tưởng” khi du khách đòi đi chơi tiếp! Chính vì thực trạng đáng buồn này nên thực tế đã có rất nhiều du khách nước ngoài đã từ chối đi tour. Ngược lại, họ đã đạp xe hay đi bộ trên các tuyến đường  để tự trải nghiệm sự khám phá nét đẹp Huế cho riêng mình.

Thiếu Phật giáo thì chưa phải là… Huế!

Huế hấp  dẫn du khách thập  phương  bởi nét  đẹp của sông Hương, núi Ngự, sự uy nghi của các đền đài lăng tẩm và cái thơ ngây của những tà áo dài phất phới lúc chiều tà. Nhưng Huế cũng có tính hấp dẫn bởi sự trầm mặc của vùng đất này. Đó là sự tối linh thiêng của Phật giáo Huế. Và có thể khẳng định, chính Phật giáo Huế đã “điểm nhãn” để hoạt động du lịch Huế có “hồn” và có văn hóa hơn.

Khi nhà Trần được vua Champa  hiến tặng  đất  hai châu Ô – Lý, Phật giáo đã cùng người dân Đại Việt đến với vùng đất Thuận Hóa xưa. Sau này, trải qua hàng thế kỷ, Phật giáo Huế đã trưởng thành cùng với lịch sử phát triển kinh thành Phú Xuân – Huế, kể từ khi vùng đất này trở thành thủ phủ của xứ Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn (1558 – 1788), rồi trở thành kinh đô nhà Tây Sơn (1788 – 1801) và nhà Nguyễn (1802 -1945). Cho đến thời  điểm hiện tại, Thừa Thiên – Huế vẫn được mặc nhiên xem là trung tâm Phật giáo của cả nước. Bởi theo số liệu của Ban Tôn giáo tỉnh Thừa Thiên – Huế, tín đồ Phật giáo chiếm 60% dân số toàn tỉnh, trong đó có 1.035 tu sĩ, 563 tự viện, tịnh xá, tịnh thất, Niệm Phật đường…

Chùa Thiên Mụ – ngôi chùa được coi là cổ nhất ở Huế – gắn liền với huyền thoại chọn đất đóng đô của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Huyền thoại kể rằng: Khi vào trấn thủ  xứ Thuận – Quảng, chúa Nguyễn Hoàng đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này. Trong một lần đi dọc sông Hương ngược lên đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại. Người dân địa phương cho biết, đây là đồi Hà Khê, đêm đêm thường  có một bà lão mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh”. Tin vào lời sấm truyền đó, năm  1601, chúa  Nguyễn Hoàng cho xây dựng  chùa trên đồi, ngoảnh  mặt ra sông Hương, đặt tên là chùa Thiên Mụ. Trải qua hàng trăm năm tồn tại, mở rộng và phát  triển từ thời các chúa Nguyễn đến vua Nguyễn, chùa Thiên Mụ được vua Thiệu Trị  xếp vào “Thần kinh nhị thập cảnh” (20 cảnh đẹp của đất Thần kinh) và ngày nay vẫn là biểu tượng tâm linh của người dân cố đô.

Ngôi chùa Từ Đàm ở Huế cũng được nhiều người Việt Nam biết đến. Chùa được xây dựng năm 1690, đời chúa Nguyễn Phúc Thái, với tên gọi ban đầu là Ấn Tôn, đến năm 1841 được vua Thiệu Trị đổi tên thành chùa Từ Đàm. Chùa trở thành trung tâm Phật học lớn của cả nước, hàng trăm Niệm Phật đường và các khuôn hội thành lập sau này đều lấy bài trí cấu trúc và cách thờ tự của chùa Từ Đàm làm khuôn mẫu. Nếu như chùa Từ Đàm là “khuôn mẫu” cho hậu thế thì chùa Báo Quốc – được xây dựng từ thế kỷ XVII thời chúa Nguyễn Phúc Khoát – lại là trung tâm đào tạo Tăng tài cho Phật giáo cả nước. Đặc biệt, chùa trở thành nơi đầu tiên thành  lập Trường Sơ đẳng Phật học (1935) và Trường Cao đẳng Phật học (1940) của cả nước. Cũng phải kể đến chùa Từ Hiếu – hay còn gọi là chùa Thái giám – được xây dựng vào năm 1843, gắn với câu chuyện cảm động về tình mẫu tử của Thiền sư Nhất Định người sáng lập chùa để phụng dưỡng mẹ già. Chuyện đến tai Tự Đức, cảm phục trước tấm lòng hiếu thảo của sư Nhất Định nên nhà vua đặt tên chùa là Từ Hiếu tự. Năm 1848, chùa được các vị quan lại trong cung triều Nguyễn, nhất là các vị thái giám, quyên cúng đóng góp trùng tu tôn tạo quy mô hơn để lo việc thờ tự sau này. Trong khuôn viên chùa còn có nghĩa trang thái giám có một không hai không chỉ ở Huế mà còn trên cả nước.

Không những  thế, Phật giáo Liễu Quán là nét  điển hình của cái riêng Phật giáo Huế.  Liễu Quán là dòng phái thiền của người Việt Nam do chính người Việt Nam  làm Sơ tổ nhờ sự gạn đục khơi trong, hòa quyện chắt lọc những tinh hoa của hai dòng Tào Động, Lâm Tế của người Trung Quốc với thuần phong  mỹ tục của dân tộc trên tinh thần: Giáo lý chỉ như đò đưa khách qua sông, không nô lệ văn tự để chống nhau. Điều quan trọng là đẹp đạo. Đẹp đạo mới là tất cả. Không tin sấm ký, không chấp thần linh, Phật giáo Huế chỉ chọn điểm cao, thanh tịnh và tuân thủ luật phong thủy làm nơi tọa lạc của các chùa Huế. Đến các chùa Huế sẽ chẳng gặp chuyện bốc xăm bói quẻ, mà chỉ thấy cảnh nghiêm trang, trầm mặc, liên kết khứ-tại-lai, một thế giới suy tưởng vô lượng mà thu gọn. Trong những ngày lễ vía, Phật tử tín đồ ở Huế và những người dân Huế đến lễ chùa ngoài hương hoa, trái cây là tấm lòng thành kính Tín-Hạnh-Nguyện, tìm cho tâm hồn mình sự bình yên thanh  thản, trong sáng, chứ không đến chùa cầu tài, cầu lộc, bói toán.

Huế vẫn đầy bí ẩn, vẫn luôn luôn mới đối với giới nghiên  cứu, và cả với những  người ưa thích tìm hiểu khám phá. Một chương  trình lễ nhạc  Phật giáo từng được tổ chức nhiều lần ở một không gian diễn xướng rất thích hợp là Trung tâm Văn hóa Huyền Trân. Ngoài chức năng nghi lễ tôn giáo, lễ nhạc Phật giáo có giá trị nghệ thuật  được tích hợp từ những nét đặc thù trong dòng chảy văn hóa Huế nói chung, văn hóa Phật giáo Huế nói riêng. Không chỉ phục vụ đại chúng, lễ nhạc Phật giáo đang cuốn hút giới nghiên cứu tìm hiểu về sự ảnh hưởng của nhạc lễ Chăm với nhạc lễ Phật giáo Huế.

Chính vì những  nét “rất riêng” và nổi bật của mình, Phật giáo Huế có tiếng nói và sự đại diện mạnh mẽ trong giới Tăng Ni, Phật tử cả nước. Đặc biệt, chùa Từ Đàm là nơi diễn ra đại hội thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam và ký tên gia nhập Hội Phật giáo Thế giới năm 1951. Bên cạnh đó, ngôi chùa Từ Đàm cũng là trung tâm của các hoạt động đấu tranh của Giáo hội Phật giáo chống các chế độ độc tài tại miền Nam vào những năm 60 thế kỷ XX, để lại dấu ấn lớn trong  công cuộc đấu tranh  giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 – 1975).

Huế đã là một thành  phố du lịch nổi tiếng  trong  cả nước. Tuy nhiên, một thực trạng đang diễn ra là du lịch của Huế ngày càng trở nên nhàm chán và không giữ chân được du khách lưu lại nhiều ngày. Huế đẹp không? Huế giàu bản sắc văn hóa không? Vậy sao Huế chưa gọi mời, chưa giữ chân được du khách thưởng  thức hết cái đẹp, cái hấp dẫn của Huế? Nguyên nhân là do các hình thức và dịch vụ du lịch của Huế thường ngày vẫn còn nghèo nàn và ít tính thu hút đối với du khách. Du lịch của Huế (trừ các kỳ Festival) vẫn chỉ dừng lại ở mức nhỏ lẻ và không chuyên nghiệp, vẫn chưa xứng tầm với giá trị văn hóaá và lịch sử mà Huế đang có. Huế do đó chỉ là “một điểm dừng chân” trên con đường di sản miền Trung. Nhưng nếu tỉnh Thừa Thiên – Huế biết cách đưa Phật giáo Huế vào du lịch và đặc biệt là đưa vào chương trình Festival Huế thì Huế sẽ trở lại với chính mình và hấp dẫn du khách thập phương  hơn. Nhất là khi các kỳ Festival Huế lại thường trùng với Lễ hội Phật đản thu hút hàng vạn nhân dân Huế và du khách thập phương tham gia.■ „

Văn Hoá Phật Giáo số 207

(Visited 60 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Nguyễn Văn Toàn, Quan điểm, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com