Hoàng Nhân với phong cách thanh dật trong tranh sơn thuỷ

| 30/07/2015 | 0 Comments

HÀ VŨ TRỌNG

Lịch sử hội họa Trung Quốc đã trHoang-nhan-tranh-son-thuyải qua một cuộc phát triển liên tục, lâu dài và dần dà tích lũy trong những thành tựu trác tuyệt của các bậc thầy thời Tống. Đến các họa gia lừng lẫy thời Nguyên, nền hội họa Trung Quốc đã tạo được sự phát triển dị biệt sâu xa, để rồi mọi phong cách được kết tinh vào cuối thời Minh và đầu Thanh. Các họa gia thời kỳ này đã sản sinh những kiệt tác với kết quả phong phú cùng những khuynh hướng tân kỳ nhất, nhờ họ dấn mình vào học tập tinh thần và bút pháp cổ phong đa dạng để làm một cuộc vượt xa toàn thể quá khứ trong nghệ thuật. Vào thế kỷ 17, các họa phái tưng bừng lần lượt xuất hiện, đây chính là thời kỳ huy hoàng với những phong cách và cá tính không ngừng xuất hiện trong một thời cuộc bất ổn, xã hội hỗn loạn.

Lòng hoài tưởng về một triều đại đã sụp đổ mang một dấu ấn quan trọng không chỉ trong lịch sử mà còn trong dòng phát triển của nghệ thuật. Chúng ta có thể chứng kiến điều này trong loại tranh sơn thủy đã trở thành một cung cách cho các họa gia biểu lộ sự bất mãn sâu xa đối với cái “thế giới mới”của nhà Thanh qua những hình tượng tinh tế làm sống dậy một triều đại đã mất;khi họ mô tả những hình ảnh sơn thủy u ám chất chứa nỗi u hoài, luyến tiếc. Cây cối, tùng bách mọc chổng ngược, những vách đá cheo leo…ngụ ý rằng họ đang sống trong một thế giới bị đảo lộn.

Hoằng Nhân thuộc trong số “di dân họa gia”đã đi từ thế tục đến cửa Phật, ông cùng với ba vị tăng nhân họa gia khác xấp xỉ cùng thời là Thạch Khê (tức Khôn Tân), Bát Đại Sơn Nhân (tức Châu Đáp), Thạch Đào (tức Đạo Tế) hợp thành Thanh sơ “Tứ họa tăng” mỗi người đều trải qua tâm trạng giống nhau về thời thế và chọn đời sống thoái ẩn. Mỗi người đều có cá tính đặc dị và tinh thần bão tố để làm nên cuộc cách tân truyền thống bằng những phương pháp sáng tạo và độc đáo riêng; do vậy các họa gia này được các nhà phê bình ngày nay liệt vào khuynh hướng độc sáng. Kỹ xảo bút mực của họ rất thành thục, cách điệu nghệ thuật cũng rất cao, họ coi trọng hứng thú bút pháp, tìm tòi một cõi siêu nhiên tỉnh tại để tâm hồn thống khổ được an tĩnh trong một thời cuộc lịch sử có nhiều biến động.

Hoằng Nhân sinh năm 1610 (Minh, Vạn Lịch 38). Quê ở Hấp huyện, thôn Đào Hoa, phủ Huy Châu, nay là tỉnh An Huy. Họ Giang tên Thao, tự Lục Kì. Khi rời An Huy khoảng năm 1645 đến Phúc Kiến ông đã đổi tên thành Giang Phảng, hiệu Âu Minh, như nhiều người đương thời với ông cũng thay đổi tên sau sự sụp đổ của nhà Minh (1368-1644), có lẽ để mang một “căn cước”mới hoặc tượng trưng cho sự tái sinh chứng thực cho lòng trung với triều Minh. Chẳng bao lâu, ông xuất gia thành Tăng sĩ, thọ giới với sư Đạo Chu Cổ Hàng tại Mạn Đình Phong thuộc núi Vũ Di (Tây bắc Phúc Kiến), lấy pháp danh Hoằng Nhân, tự Vô Trí và Vô Chấp, hiệu là Tiệm Giang (2). Còn danh xưng Mai Hoa Cổ Nạp và Mai Hoa Lão Nạp có lẽ do những người yêu mến ông đặt ra sau khi ông mất để liên hệ tính cách và sự gắn bó của ông với loài hoa mai biểu tượng tính độc lập, kiên trì và thanh cao của người văn nhân.

Gia đình Hoằng Nhân nguyên trước đó là một đại tộc trong thành, nhiều đời theo nghiệp thư hương. Thời thiếu niên, Hoằng Nhẫn đã tiếp thu giáo dục Nho gia, từng bái học giả Uông Vô Nhai làm sự, học tập Nho gia kinh điển Ngũ kinh và đã lên phủ để học thành tú tài nhưng không đi thi dể ra làm quan. Thay vào đó, Hoằng Nhẫn dành thời gian chăm sóc mẹ và trau dồi văn chương nghệ thuật. Vào tuổi thanh niên, ông đã giỏi thơ văn, cùng với Đồng Quận Trình, Hứa Sở và các bạn hữu tổ chức lập Bạch Du Xã để cùng nhau sáng tác thơ văn. Do cha mất sớm, gia đình lâm cảnh nghèo khổ, Hoằng Nhẫn đã sớm vất vả sinh kế cho gia đình, nương nhờ vào việc bán lúa và làm nghề sao khắc ấn văn để cấp dưỡng mẹ già. Từ khi thành niên, tư tưởng Hoằng Nhẫn đã thay đổi, từ đó ông chủ trương “không lấy vợ, không làm quan” (bất hôn bất hoạn). Việc không muốn kết hôn với nguyên nhân chính có lẽ do gia cảnh, còn không làm quan là do chính trị thời thế.

Hoằng Nhân chưa từng phục vụ dưới triều Thanh và thậm chí có thể ông đã có tham dự trong cuộc khởi nghĩa chống Mãn Châu ở Phúc Châu do Đường Vương lập chính thể và lãnh đạo cùng với Hoàng Đạo Chu hậu thuẫn, đó là trong thời gian ông trốn tránh từ An Huy đến Phúc Kiến. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, có lẽ ông cùng với người bạn thân là Vương Mộc Nhật (làm chức Thiếu tư mã trong quân đội) cùng trở thành Tăng sĩ. Vương Mộc Nhật lấy pháp danh là Hoằng Tế, cả hai đều quy y với Thiền sư Đạo Chu Cổ Hàng. Lúc ấy Hoằng Nhân 38 tuổi. Việc quyết định trở thành Tăng sĩ giữa hoàn cảnh này cho thấy mang động lực chính trị trong một tâm tình bi thương hơn thuần là việc trả hiếu sau khi mẹ mất. Như vậy, trường hợp cũng như Châu Đáp và Đạo Tế, Hoằng Nhẫn trở thành Tăng sĩ chủ yếu để tránh ách cai trị của nhà Mãn Thanh, không hẳn bởi lý do tín ngưỡng đặc biệt. Hành động của ông, nói cách khác, mang tính biểu tượngcho lòng trung với một triều đại đã sụp đổ và để đề kháng ngoại bang. Giống như Đạo Tế, ông vẫn tự xem mình là người trên đầu vẫn còn “tóc và mũ”, khi hứng thú ông gọi đò để đi đánh cá, bắt tôm, nhâm nhi rượu chia sẻ với bạn hữu.Hoang hai tung thach do

Trù tích tang điền cải,

Xa luân trường lí trì

Huy hào liêu hoán tửu

Dịch phục (3) toại phi truy

Tự hiệu viết Sơn Tăng,

Nhân xưng viết họa sư

Bình sinh hoài quýnh quýnh

Hải nội kỉ tằng tri?

 

(Chuyện đã qua, ruộng dâu đổi dời

Cuộc xoay vần khiến lòng quặn đau

Vẩy bút vẽ đổi lấy rượu.

Y phục bị đổi khác, thì khoác áo già lam

Tự gọi là “Sơn tăng”,

Người đời gọi là “Họa sư”

Nhưng suốt đời canh cánh

Người đời mấy ai hiểu?).

(“Tiệm Giang thượng nhân họa hòa Ngô Thương Nhị”-Ngô Gia Kỉ).

Ông ghét giàu có và phô trương và luôn giúp kẻ nghèo khổ. Theo một người bạn thân kể lại, một ngàytrước khi qua đời, Hoằng Nhân còn vẽ mấy bức tranh cho hai người nghèo để họ có thể đổi lấy đồ ăn trong mùa đông giá lạnh.

Phong cảnh Huy Châu với núi non hùng vĩ ở quê nhà từ bé đã gây ấn tượng sâu đậm đến Hoằng Nhân. Sau này đi nhiều nơi, nghệ thuật của ông trong tranh sơn thủy đã tác động rất lớn đến kinh nghiệm về cảnh tượng thiên nhiên và những cuộc tiếp xúc với các họa gia ở vùng khác. Nếu không có kiến thức về phong cảnh qua việc du ngoạn, nghệ thuật của Hoằng Nhân chắc hẳn đã khác.

Tra Sĩ Tiêu, một họa gia trong “Tứ đại Tân An phái” (4) nói rằng: “Phong cách của Tiệm Giang với cuộc du cư của ông đến Vũ Di Sơn và sau khi từ Hoàng Sơn trở về, từ đó bút pháp của ông ngày càng trở nên tuyệt diệu. Người xưa xem vạn vật của trời đất như là thầy mình. Điều này càng đúng hơn khi người ta thấy rằng sông núi có thể cảm thấu trong tranh và đưa đến tinh thần hài hòa”.

Hành trình quan trọng đầu tiên là khi Hoằng Nhân đến Vũ Di khoảng năm 1645. Hoàng Tân Hồng viết tiểu sử có nêu lên lộ trình của Hoằng Nhân đã đi qua Nghiêm Lăng Sơn gần Thường Châu, Chiết Giang). Rồi ông tiếp tục qua Tiên Hà Quan ở biên giới giữa Phúc Kiến và Chiết Giang, cuối cùng tới đỉnh Mạn Đình của núi Vũ Di, chính nơi đây ông đã trở thành Tăng sĩ. Hiển nhiên Hoằng Nhân rất ấn tượng trước cảnh tượng rặng núi này. Cuộn tranh nhan đề Vũ Di sơn thủy trục dường như là bức họa quy mô duy nhất về chủ đề này, ông đã viết trong lời đề trên bức “Vũ Di nham hác”:

Tạo vật hà chung cửu khúc khê,

Cù phong du bích hám pha lê

Đạo nhân bút tải bồng song để

Song mục sanh sanh vị cảm đề.

 

(Tạo vật sao lại un đúc chín khúc sơn khê?

Núi thon, nham bích nhấp nhô ánh pha lê

Cây bút Đạo nhân nằm trơ mạn thuyền

Mắt trừng, sửng sốt chẳng thể đề thơ)

 

Một thế giới như trong suốt qua vẻ đẹp uy nghi của Vũ Di Sơn gợi lên trong hồi tưởng và phong thái của Hoằng Nhân trước phong cảnh trong một đêm đầy ánh trăng khi hàng vạn quả núi lặng yên như thể tắm mình trong một thế giới bằng pha lê. Với cảm quan tĩnh tại, trong suốt đến độ thuần khiết này, ta có thể xem sự tĩnh tại cốt yếu của tinh thần Thiền tông thể hiện qua cảnh giới sơn thủy trong tranh Hoằng Nhân.

Từ năm 1646 đến 1651, Hoằng Nhân ở lại Phúc Kiến. Trên đường trở về An Huy, chắc ông đã thăm viếng Nam Kinh (và sẽ ở lại lâu hơn vào năm 1657). Vào đầu thế kỷ 17, Phúc Kiến và Nam Kinh đều là những trung tâm phục hưng lại phong cách của thế kỷ 9 và 11, nhiều họa gia từ Phúc Kiến đã đến Nam Kinh. Chẳng hạn như Ngô Bân (1573-1620) đã đến Nam Kinh để rèn luyện một bút pháp cá nhân, kỳ dị và mạnh mẽ bắt nguồn từ bút pháp Bắc Tống. Hoặc phong cách của Vương Kiến Chương (1628-1644), một họa sĩ khác cũng từ Phúc Kiến như Ngô Bân, đã đến Nam Kinh, tranh của ông đặc trưng bằng những hình dạng góc cạnh, hình thể trừu tượng và thường theo một phương thức kỳ quái tương tự như Ngô Bân.

Từ mùa Hạ 1657 đến đầu năm 1658, Hoằng Nhân ở lại Nam Kinh. Có khả năng thời gian này tại đây ông đã gặp họa gia Củng Hiền (1599-1689). Củng Hiền cũng quan tâm tới bút pháp chuyển hóa phong cách Bắc Tống. Hoằng Nhân đã vẽ một họa tập có bức theo phong cách Phạm Khoan cho thấy ông cũng chia sẻ trong việc phục hưng lại phong cách Bắc Tống như các họa sĩ Nam Kinh khác. Có lẽ ông cũng đã gặp Phương Dĩ Trí (1611-1671) là họa sĩ cao tăng học giả đến từ An Huy.Vào thời gian này, đa số các tự viện đều được cai quản bởi các Tăng sĩ theo hệ phái của Vô Minh Huệ Kinh thuộc phái Tào Động. Cả hai, Hoằng Nhân và Phương Dĩ Chí đều theo phái này. Như vậy có thể thấy rằng, cuộc du cư của Hoằng Nhân ở Phúc Kiến và Nam Kinh bộc lộ cho thấy ông không chỉ mật thiết đối với phong cảnh thực tế mà cũng còn đối với những phong cách nhất định để phối hợp chúng vào phong cách riêng.

Ngoài Nam Kinh và Phúc Kiến, Hoằng Nhân cũng du ngoạn đến Vô Hồ (An Huy) và năm 1652. Năm 1657, trở về từ Nam Kinh, thăm viếng Tuyên Thành (An Huy). Ông đã thăm Dương Châu và Hàng Châu năm 1661. Năm 1662, Hoằng Nhẫn đến khu vực hồ Bà Dương (Giang Tây) thăm và leo núi Lư Sơn. Trong những nơi mà Hoằng Nhân đã thăm viếng ông mê nhất là Hoàng Sơn, được mệnh danh là Thiên Đô. Ông cho rằng phong cảnh Vũ Di Sơn đặc trưng bởi những gì hiển hiện rõ nét, còn Hoàng Sơn tạo ra một ảo cảnh, một cõi kỳ diệu, vì vậy ông cho rằng Hoàng Sơn vượt qua Vũ Di Sơn trong những kỳ công từ phong cánh của nó. Nhà du hành và nhà địa lý nổi tiếng Từ Hà Khách (1686-1641) từng ca ngợi khi mô tả đỉnh Thiên Đô này đã giải thích một phần cho sự say mê của Hoằng Nhân.

Dãy Hoàng Sơn có kết cấu phong phú của đá hoa cương theo chuỗi hệ thống liên đới, sau khi bị xói mòn đã sinh ra nhiều dạng khác nhau thành những đỉnh có hình thù kỳ dị. Hoa cương thạch rạn nứt trở thành những thác nước do những thớ nứt thẳng đứng được khuếch trương. Nhiều danh xưng đặt ra mô tả hình dạng, vặn xoắn từ những kẽ đá (như Thạch Duẩn Cang, Tăng Tọa Thạch, và còn có các rằng tùng bách quằn quại dị hình, vặn xoắn từ những kẽ đá (như Nhiễu Long Tùng,v.v..) Ngoài ra còn có những cảnh “biến mây” (vân hải) phi thường xuất hiện tạo những ảo ảnh kỳ diệu luôn biến đổi. Phong cảnh Hoàng Sơn đã khơi nguồn cho hàng ngàn thơ văn du ký, từ Lý Bạch đời Đường cho đến Tiền Khiêm Ích cuối đời Minh đầu đời Thanh.

Không ít người lấy cảnh Hoàng Sơn làm thầy, thậm chí chính yếu tố tạo nên phong cách hội họa độc đáo cũng có thể nói phát nguyên từ Hoàng Sơn. Như họa gia hiện đại Lý Khả Nhiễm từng nói rằng nếu muốn vẽ Trung Quốc họa giỏi hãy đến học tập và thể nghiệm cảnh sơn thủy Hoàng Sơn.

Hoằng Nhân đã có sự đồng cảm đặc biệt về sinh quán Huy Châu của ông, nơi mà hầu hết rằng Hoàng Sơn tọa lạc. Ông đã sinh ở đây, sống phần lớn và đã qua đời nơi đây. Quan trọng hơn, Hoằng Nhân đã cho ra đời nhiều tác phẩm nhất về phong cảnh Hoàng Sơn và đã dùng như một chủ đề liên tục. Đối với ông, Hoàng Sơn gần như trở thành một biểu tượng, và việc vẽ Hoàng Sơn gần như một hành vi nghi lễ tôn sùng. Điều này cũng tự nhiên nếu người ta xét đến những người đương thời với ông sống ở vùng này, thì lãnh địa uy nghiêm của Hoàng Sơn thể hiện sự tồn tại và khẳng định một di sản văn hóa; vì vậy việc mô tả Hoàng Sơn có thể là cách tốt nhất biểu hiện đặc trưng vùng miền văn hóa. Hơn nữa, khu vực Hoàng Sơn cách biệt, hẻo lánh và không dễ tới gần cho nên đã không chịu sự tàn phá của quân Mãn Châu khi phủ Huy Châu bị chiếm. Như vậy, đối với giới văn nhân di dân trung thành, Hoàng Sơn có thể vẫn giữ nguyên trong nghĩa thật sự không bị vấy bẩn bởi gót chân ngoại bang chinh phục, như thể nó vẫn còn ấp ủ tinh thần đối với triều Minh đã mất. Những người trung thành này đã đến thăm viếng, làm thơ và vẽ tranh. Thậm chí những người như Hoằng Nhẫn đã ở lại sống. Hoàng Sơn đã trở thành ngôi đền tâm linh cho những ai muốn tránh xa khỏi sự nhiễu loạn của thế giới.

So sánh những ảnh chụp Hoàng Sơn ngày nay với tranh của Hoằng Nhẫn cho thấy họa gia dựa cơ sở nhiều trên phong cảnh thực. Ông quan tâm mô tả nham thạch bằng những đường viền với nét bút sắc và góc cạnh, và tạo hiệu quả rạn nứt bề mặt nham thạch bằng kỹ thuật tái chồng những hình thể vuông góc. Có thể là ông miêu tả Hoàng Sơn ở đây với hình dạng chiếm ưu thế thẳng tuyến, các tảng đá được cắt sắt nét, khe nứt thật sâu, dài và những vết rạn giao nhau phân cách bề mặt tảng đá thành những dạng hình học phẳng. Cách nhìn và bút pháp diễn đạt đá,núi và cây rừng này cho ta thấy gần với họa sĩ Pháp khai sáng cho xu hướng lập thể về sau này là Paul Cézanne (1839-1906), người đã củng cố một bút pháp mang tính khiến trúc và cấu trúc, qua nhận thức về những hình thể hay hình khối thuần như một hiện tượng thị giác.

Về mặt phong cách, so với Khôn Tân đương thời, điển hình với phẩm chất mà các họa luận gia gọi là “thảo mộc hoa tư” (cỏ cây hoa tốt tươi) hay “thương thâm” (xanh sẫm)”. Đối lập ở đây, phong cách Hoằng Nhân biểu hiện với đặc điểm là “tiêu sơ”có thể thấy qua họa quyển Giang sơn vô tận vẽ vào năm 1661, so với Báo ân tự đồ của Khôn Tân. Tranh sơn thủy của Hoằng Nhân được vẽ với nét bút đạm bạc nhưng lại vô cùng tinh tế, chẳng hạn bút pháp của ông tuy có ành hưởng Nghê Toản thời Nguyên, nhưng khác với Nghê Toản, Hoằng Nhân đã truyền sức sống vào núi đá và cây cối mang những đặc thù của ông.

Khi so sánh với các họa gia thế kỷ 17 nổi tiếng về tranh Hoàng Sơn, nhà phê bình và họa gia hiện đại Hạ Thiên Kiện (1893-1974) nhận xét: “Hoằng Nhân nắm được cốt của Hoàng Sơn, Mai Thanh bắt được tư [thế], còn Đạo Tế bắt được khí”. Ông cũng vạch ra nhiều kỹ pháp miêu tả trong tranh của Hoằng Nhân gần gũi với địa hình Hoàng Sơn. Còn họa sĩ hiện đại Trương Đại Thiên (1899-1983) nhận định: “Hoằng Nhân bắt được khí và cốt Hoàng Sơn, Đạo Tế bắt được cảm xuc, Mai Thanh bắt được ngoại hình đổi thay, Đới Bổn Hiếu bắt được hình thù kỳ dị”.

13 năm sau khi Hoằng Nhân qua đời, Thạch Đào viết trong Đề họa sơn thủy quyển một đánh giá tổng quan về những tiền bối đương thời, ông đã đặt Hoằng Nhẫn vào bối cảnh nghệ thuật thế kỷ 17: “Những ai đi vào cổng ngõ bình thường để đạt tới đạo [trong hội họa] thì không có chi đặc biệt…nhưng để mà danh chấn một thòi, thật khó thay! Tính cổ viễn như Khôn Tàn, Trính Chính Quy, và Khê Đạo Sơn; tính thanh dật như mai hạc của Tra Sĩ Tiêu và Hoằng Nhân; khô khan gầy mòn như Trịnh Toại; lâm li kỳ cổ như Bát Đại Sơn Nhân, hào phóng như Mai Than, đều thuộc về một thế hệ mà tất cả đều đã được nhìn nhận” (Lời đề trên bức “Sơn thủy” của Thạch Đào vẽ năm 1694).

Nhưng điều quan trọng để biện biệt Hoằng Nhân với các họa tăng khác và với hầu hết các họa sĩ cá nhân khác trong thế kỷ 17, thì gần như ông là họa sư duy nhất có nhiều môn đệ thực hành gần gũi với phong cách độc đáo của ông, và ông cũng là người sau đó trở thành thủ lĩnh của Tân An họa phái.

Phong cách độc đáo của Hoằng Nhân có thể coi là bắt nguồn từ phái Văn Trưng Minh xuất hiện như một giải pháp có thể đứng vững đối với vấn đề nghệ thuật đương thời. Hơn nữa, các họa gia phái Tân An dường như mang cảm quan mạnh mẽ về sự tự hào vùng miền, và họ có khuynh hướng khuyến khích chủ nghĩa vùng miền cùng sự nhất quán trong phong cách. Sự kỳ vĩ của Hoằng Nhân trong hội họa bằng việc phối hợp đa dạng các phong cách quá khứ để trở thành phong cách riêng. Ông đã khai triển về mô thức cũng như các khả năng biểu đạt trong tác phẩm của Nghê Toản, và cũng khai triển xa hơn trong việc sắp đặt các hình thể trên bề mặt tranh của phái Văn Trung Minh. Trong bố cục trác tuyệt của ông, các hình thể thường được giảm thiểu thành mang tính hình học. Trong nhiều trường hợp, các quy ước được Hoằng Nhân chuyển hóa bằng khái niệm vững vàng về hình thể cùng những chi tiết phụ thuộc sắc sảo trong toàn thể thiết kế. Kết quả này chính là sự tái thông giải để gây ấn tượng mạnh và đẩy tính phát minh trong truyền thống qua một phong cách nghệ thuật mang tính khổ hạnh và tập trung.

Như vậy, phần lớn họa phẩm của Hoằng Nhân có cùng những mô típ sơn thủy mang tính cấu trúc cao độ, được tái tạo từ bút pháp của những bậc thầy xưa, nhưng chúng đã được chưng cất để trở thành thuần khiết, một thế giới như huyễn mộng ra khỏi thực tế, ra khỏi sự nhiễu loạn trong chính thời đại của ông. Cái thế giới đã được “gạn đục khơi trong”đến độ tinh khiết ấy có thể xem như là lời thanh minh cuối cùng của Hoằng Nhân về nhân cách và lòng trung thực qua những đường nét nhịp nhàng thanh bình và những ký ức nhạy bén về phong cách của các bậc thầy xưa, cũng chính là sự hồi tưởng về một thế giới bền vững và một triều đại đã hưng vong.

Năm 1663, sau chuyến cuối cùng đi Hoàng Sơn về, cuối năm đó, thân thể Hoằng Nhân suy nhược và rồi ngã bệnh. Ông mất, thọ được 54 tuổi.

Các đệ tử theo di nguyện, trong khắp chu vi tháp trồng 10 gốc mai cho vong linh ông an nghĩ trong cõi vạn hộc thanh hương. Ngôi mộ tháp của Hoằng Nhân nằm dưới đỉnh Vân Phong của rặng Hoàng Sơn. Các bạn hữu như Thái Chinh tạc bài minh văn, Trình Thủ khắc chữ nơi cổng mộ tháp, còn Hứa Sở viết bài văn “Tống Tiệm Giang sư quy tháp văn”. Người ta nói, vào mỗi lần vườn mai trắng nở quanh mộ của Mai Hoa Lão Nạp lấp lánh muôn vạn ánh sao.

Một người bạn đã góp nhặt nhiều bài thơ của Hoằng Nhân để đóng thành tập Họa kệ (1668). Còn các lời đề tự rải rác sau đó cũng được gom góp để thành tập Họa lục.

Một bài thơ đề trên bức chân dung Hoằng Nhân (“Đề Tiệm Giang sư tiểu tượng”mà nay có lẽ đã mất) của người bạn thân là Thang Yến Sinh, khắc họa cho ta thấy cốt cách thanh dật của Hoằng Nhân-người mà bình sinh đã nhập thân vào với cảnh giới sơn thủy:

Thùy tùng nguyên thạch trung

Mạo xuất băng tuyết ảnh?

Minh kha đa sấu tước,

Mai tính hoàn cô vĩnh.

(Ai kia giữa ngàn thông, suối, đá,

Dung mạo hiện bóng tuyết băng?

Như thân trà gầy vóc hạc,

Như cây mai bản tính mãi cô độc).

 

Chú thích:

  1. Mặc dù có những điểm chung khi xếp Hoằng Nhân, Khôn Tàn, Bát Đại Sơn Nhân và Thạch Đào thành “Tứ họa tăng”, cũng nên lưu ý rằng cuộc đời họ không thuần giống nhau. Trường hợp Thạch Đào và Bát Đại Sơn Nhân có liên hệ đến tôn thất nhà Minh, vì vậy quyết định trở thành Tăng sĩ có thể do bắt buộc, thậm chí là cần thiết để tránh sự truy bức của Mãn Châu. Mặc khác, Khôn Tàn và Hoằng Nhân trở thành Tăng sĩ chủ yếu từ ý thức chọn lựa. Đặc biệt Khôn Tàn theo đạo nhiệt thành và uyên thâm về Phật giáo. Cuộcđời của họ cũng khác, chẳng hạn, Bát Đại Sơn Nhân đổi từ Tăng sĩ sang Đạo sĩ, và có thể đã hoàn tục lập gia đình. Thạch Đào có quan hệ với chính quyền và các nhà bảo trợ Mãn Châu (ông từng hai lần hội kiến hoàng đế Khang Hy). Trái lại Hoằng Nhân và Khôn Tàn không chịu thỏa hiệp. Trong thế kỷ 18, Bát Đại Sơn Nhân không liệt vào là “họa tăng”với mọi khái niệm bao hàm của từ này, mà được xem như là một họa sĩ lập dị. Việc xếp “tam tăng” (Khôn Tàn, Hoằng Nhân, Thạch Đào) tiếp tục đi vào thế kỷ 20 trong giới nghiên cứu phê bình, chẳng hạn,Hoàng Tân Hồng vẫn giữ nguyên theo sự sắp xếp như vậy trong cuốn Cổ họa vi của ông xuất bản năm 1925. Chỉ từ năm 1936 các nhà phê bình mới bắt đầu xếp bốn họa sĩ cao tăng này vào với nhau.
  2. Tiệm Giang, tên con sông còn gọi là Tiệm Thủy chảy ngang qua phía Tây nam Hấp huyện.
  3. Dịch phục: đạo luật Mãn Châu buộc hình thức phải ăn mặc như những kẻ chinh phục,cạo nửa đầu trướcvà để đuôi sam.
  4. Họa phái Tân An xuất hiện từ thời Minh mạt Thanh sơ với bốn người đứng đầu là Hoằng Nhân, Tra Sĩ Tiêu, Vương Chi Thụy, Tôn Dật, người ta mệnh danh là “Tân An tứ gia”. Tất cả đều là người An Huy (thuộc Hấp huyện và Hưu Ninh huyện, xưa hai huyện này đều thuộc quận Tân An).

 

Tham khảo:

  • Tiệm Giang tư liệu tập, An Huy Nhân dân xuất bản xã, 1984.
  • Tứ tăng họa tập, Trung Quốc nhân dân nhiếp ảnh Nghệ thuật Xuất bản xã, 2003
  • Hoằng Nhân, Văn vật Xuất bản xã, 1998.
  • Three Thousand years of Chinese Painting, Yale University Press 1997.
  • James Cahill, The Compelling Imagr-Nature and Style in 17th century Chinese Painting, Harvard University Press 1982.
  • Jason C. Kuo, The Austere
  • Landscape: The Paintings of Hung-Jen. University of Washington Press 1990
(Visited 260 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , , ,

Category: Hà Vũ Trọng, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *