Ngày của mẹ

| 20/08/2015 | 0 Comments

Nguyễn Văn Nhật

Nếu ngày Vu-lan trở thành ngày lễ hội của cả dân tộc để vinh danh mẹ, người Việt có thêm một ngày  lễ hội nữa có khả năng thắt chặt tình đoàn kết giữa những người không cùng tôn giáo.

ngay-cua-me

 1

Người Việt là một dân tộc sống bằng nông nghiệp và đã sớm phát triển nền văn minh lúa nước. Khi công thương nghiệp chưa phát triển, quanh năm người dân lo gieo mạ, cấy lúa và gặt hái khi lúa chín. Từ rất lâu, người Việt đã biết làm lúa mỗi năm hai vụ; vụ chiêm trồng lúa trên đất trũng gặt vào tháng Năm âm lịch, và vụ mùa trồng lúa trên đất cao gặt vào tháng Mười âm lịch.

Khi việc gieo cấy hay gặt hái đã xong, người dân chỉ còn việc chờ đến vụ kế tiếp. Ở những nơi đồng ruộng phì nhiêu, vào lúc mưa thuận gió hòa và trong thời đại nhân khẩu chưa có sự khủng hoảng thừa, áp lực công việc chắc không nặng nề lắm, người dân có nhu cầu giải trí. Có thể vì thế mà những ngày Thượng nguyên (rằm tháng Giêng), Trung nguyên (rằm tháng Bảy) và Hạ nguyên (rằm tháng Mười) được chọn để tổ chức lễ hội vì những ngày ấy cũng rơi vào những thời điểm sung túc nhất trong năm.

Tuy nhiên, tháng Bảy lại là tháng có mưa dầm. Trong cái ướt át, mù mịt của ngày mưa, lại được hưởng sự sung túc của những ngày mới gặt hái từ vụ lúa chiêm vừa hoàn tất trong tháng Năm, con người dễ có khuynh hướng nhớ đến những người quá vãng mà họ cho rằng đang phưởng phất nơi đầu cây ngọn cỏ. Vì thế, lễ hội Trung nguyên có ý nghĩa tưởng nhớ đến tiền nhân hay những người đã khuất.

 2

Là một dân tộc có sức sống mãnh liệt và sớm biết định canh định cư để xây dựng nền văn minh lúa nước, hằn là người Việt đã có một nền văn hóa riêng trước khi tiếp xúc với người Trung Hoa. Tuy nhiên, chắc chắn nền văn hóa ấy đã có những biến đổi sâu sắc với những ảnh hưởng của Hán tộc khi người Việt đã chịu sự đô hộ của Trung Hoa suốt hơn một ngàn năm. Trong quá trình ấy, những lễ hội của người Việt dần dần mang hơi hướng lễ hội Trung Hoa.

Ở miền nam Trung Hoa, ảnh hưởng của đạo Hoàng Lão rất quan trọng. Người Trung Hoa theo đạo Hoàng Lão đã phát triển nghệ thuật phù chú và các quan niệm về một trật tự vũ trụ riêng, có chịu ảnh hưởng của đạo Phật truyền vào đất này từ thế kỷ thứ nhất Tây lịch. Có thể những ý niệm về việc xã hội vong nhân, phá cửa địa ngục….trong ngày rằm tháng Bảy đã là một sự pha trộn giữa quan niệm nhân quả luân hồi của nhà Phật với những quan điểm về trật tự vũ trụ của đạo Hoàng Lão. Ý niệm ấy cũng đã được người Việt tiếp thu.

 3

Người Việt ở ven bờ đại dương ngăn cách giữa Ấn Độ với Trung Hoa nên nếu đạo Phật truyền vào Việt Nam trước Trung Hoa thì cũng là một điều có thể lý giải được. Dù trước hay sau thì rõ ràng người Việt đã chịu ảnh hưởng của Phật giáo từ hơn hai ngàn năm nay, và có thể nói, chính nhờ tư tưởng Phật giáo mà người Việt đã quật khởi để dựng lại nền độc lập của dân tộc và luôn đuổi được giặc ngoại xâm trong các giai đoạn sau.

Dưới những triều đại độc lập đầu tiên của người Việt, đạo Phật đóng vai trò quốc giáo. Do vậy, đối với người Việt, ngoài ý nghĩa của ngày Tết Trung nguyên, ngày rằm tháng Bảy còn là lễ Vu-lan.

Trong Đại việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, phần Bản Kỷ, kỷ nhà Lý, quyển III, đoạn nói về Nhân Tông hoàng đế có ghi, “Năm Mậu Tuất, Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (1118 theo Tây lịch), mùa thu, tháng 7, bãi cỗ bàn Tết Trung nguyên vì gặp ngày lễ Vu-lan bồn, cầu siêu cho Linh Nhân hoàng thái hậu”. Tiếp theo, đoạn nói về Thần Tông hoàng đế cũng viết, “Năm Mậu Thân, Thiên Thuận thứ nhât (1128 theo Tâylịch), mùa thu, tháng 7, tiết Trung nguyên, vua ngự điện Thiên An, các quan dâng biểu mừng. Vì hôm ấy là ngày lễ Vu-lan bồn cầu siêu cho Nhân Tông nên không đặt lễ yến”. Như vậy, các vua đời Lý đã vì lòng hiếu đối với cha (trường hợp Ly Thần Tông) và mẹ (trường hợp Lý Nhân Tông) mà bày những cỗ bàn xa hoa trong ngày Tết Trung nguyên để tập trung vào việc tổ chức lễ Vu-lan, cầu cho các bậc sinh thành được siêu thoát.

Vì “đức người quân tử như gió, đức kẻ tiểu nhân như cỏ, gió thổi thì cỏ rạp”, khi nhà vua đã không nghĩ đến cỗ bàn tốt nhất mà lo cho đạo hiếu, hẳn là dân Việt bấy giờ cũng bảo nhau giảm việc mừng Tết Trung nguyên mà quan tâm nhiều hơn đến lễ Vu-lan, hướng tâm vào việc báo hiếu cho cha mẹ nhiều đời đã khuất.

4

Lễ Vu-lan là lễ hội của người Phật tử, tổ chức dựa theo lời dạy của Đức Phật được ghi lại trong kinh Phật thuyết Vu-lan-bồn, thường được gọi tắt là kinh Vu-lan, một bản kinh ngắn có lẽ được biết đến và được trì tụng nhiều nhất. Kinh này kể lại chuyện Tôn giả Mục-kiền-liên nương oai thần của Đức Phật và của chư Tăng vào địa ngục cứu mẹ nhân ngày chư Tăng tự tứ.

Trong thời Đức Phật, ngày Tự tứ chính là ngày chư Tăng kết thúc thời an cư suốt ba tháng mùa hè. Vào ngày ấy, chư Tăng tự giao mình cho Tăng chúng phán xét về hạnh kiểm của mình trong thời gian an cư. Do trong suốt thời gian an cư, chư Tăng đều cố gắng sống hòa hợp tịnh tu, nên vào ngày Tự tứ, chư Tăng thành tâm cầu mong Tăng chúng chỉ lỗi mà hầu hết không ai có lỗi, cho nên Đức Phật hoan hỷ.

Khi Tôn giả Mục-kiền-liên cầu Phật chỉ cho biện pháp cứu mẹ đang chịu khổ nạn trong địa ngục, Đức Phật khuyên Tôn giả nên cúng dường chư Tăng vào ngày Tự tứ để nương nhờ thần lực của chúng Tăng thanh tịnh mà giải nạn cho mẹ của Tôn giả. Đến ngày Tự tứ năm ấy, Tôn giả Mục-kiền-liên thực hành theo lời Phật dạy. Sau đó, với thần thông của mình, Tôn giả nhận biết mẹ mình đã thoát khổ địa ngục. Ngài bạch Phật và xin Phật chỉ dạy phép cúng dường nhân ngày Tự tứ cho mọi người. Nhân đó, Đức Phật khuyên mọi người, nếu muốn giải các sự khổ địa ngục cho cha mẹ nhiều đời về trước, chờ đến ngày Tự tứ thành tâm cúng dường chư Tăng thanh tịnh thì sẽ được như nguyện.

Theo truyền thống Đại thừa, chư Tăng bắt đầu an cư vào ngày 16 tháng Tư âm lịch và sự kiện chư Tăng tự tứ được tiến hành vào ngày rằm tháng Bảy âm lịch, do vậy Phật tử Việt Nam cũng như Phật tử Trung Hoa tổ chức lễ hội Vu-lan vào ngày rằm tháng Bảy hàng năm, với mong muốn báo hiếu cho cha mẹ nhiều đời đã khuất.

 5

Đã nghĩ đến việc báo hiếu cho cha mẹ nhiều đời đã khuất, hiển nhiên người Phật tử cũng phải nghĩ đến việc báo hiếu đối với cha mẹ hiện tiền. Ngoài kinh Vu-lan, về đề tài hiếu hạnh, Phật tử còn trì tụng kinh Phật thuyết Đại báo Phụ Mẫu trọng ân. Kinh này kể việc Đức Phật hướng dẫn cho Tôn giả A-nan biết phân biệt trong đống xương khô, đâu là xương người nam đâu là xương người nữ. Kế đó, Đức Phật giải thích cụ thể về ân đức của người mẹ đối với con, từ đó, khuyên người làm con phải biết báo đền ơn cha mẹ.

Ở đây, người con phải biết báo đền công ơn của cha mẹ hiện tiền. Để báo đền công ơn cha mẹ hiện tiền, Đức Phật dạy người Phật tử: Nếu cha mẹ chưa an trú trong chánh pháp, hãy giúp đỡ và dẫn dắt để cha mẹ an trú trong chánh pháp; nếu cha mẹ chưa an trú trong thiện pháp, hãy hướng dẫn cha mẹ an trú trong thiện pháp; nếu cha mẹ chưa quy y Tam bảo, nên tạo điều kiện để cha mẹ quy y Tam bảo. Chỉ khi cha mẹ được giải thoát, an vui thì hiếu đạo của người con mới thành tựu.

Tuy kết luận của kinh Phật thuyết Đại báo Phụ Mẫu trọng ân nói về việc báo đáp công ơn cha mẹ, nhưng nội dung của kinh chỉ nêu lên công ơn cụ thể của người mẹ, nhất là về thời gian chín tháng mười ngày khi người con còn nằm trong bào thai. Vì vậy, đối với cha mẹ hiện tiền, việc thể hiện hiếu hạnh của người con có phần thiênvề người mẹ. Điều này xét về phương diện tâm lý cũng thích hợp, vì người cha ít quan tâm đến việc bày tỏ tình cảm , trong khi người mẹ dễ bị mủi lòng hay xúc động trước thái độ của con cái.

 6

Những năm gần đây, lợi dụng xu thế hội nhập, bên cạnh ngày lễ Giáng sinh 25-12 đã trở nên phổ biến và quen thuộc đối với quần chúng cả nước, nhiều người đang tìm cách du nhập thêm những lễ hội phương Tây khác vào đời sống văn hóa người Việt, chẳng hạn ngày Lễ Tình Nhân (sic!) 14 tháng Hai dương lịch, còn gọi là Valentine’s day và gần đây hơn là các Ngày của Cha và Ngày của Mẹ. Chỉ mới góp mặt vào đời sống văn hóa của người Việt được vài năm, ngày lễ tình nhân đã lộ rõ tính chất thương mại của lễ hội vụ lợi không có nội dung văn hóa.

Ngày của Mẹ dự định du nhập từ phương Tây là một lễ hội xuất phát từ Hoa Kỳ được ấn định vào ngày Chủ nhật thứ hai trong tháng Năm dương lịch. Nguyên cách đây khoảng 150 năm, một phụ nữ ỏ vùng Appalachia là bà Anna Jarvis tổi chức một ngày hội với mục đích nâng cao nhận thức của công chúng về tình trạng vệ sinh tồi tệ trong cộng đồng dân cư của mình, một kiến nghị mà ba ta tin rằng khi do những bà mẹ nêu lên thì sẽ được quan tâm nhiều hơn; gà gọi ngày ấy là “Mother’s Work Day (Ngày Hành Động của Mẹ)”. Vào năm 1905, khi bà mất, con gái của bà, cũng có tên là Anna Jarvis, tiếp tục công việc của mẹ. Truyền thuyết cho rằng Anna Jarvis con đã được mẹ di chúc hãy cố gắng tạo lập một ngày đẻ kỷ công các bà mẹ, vì cho đến bây giờ, người phương Tây đã có quá nhiều ngày dành cho nam giới mà chẳng có ngày nào nói về nữ giới. Bằng sự kiên trì, Anna Jarvis con đã vận động để ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm hàng năm được công nhận là Ngày của Me. Năm 1914, Tổng thông Woodrow Wilson ban hành một đạo luật công nhận Ngày của Mẹ là ngày lễ công cộng trên toàn quốc. Ban đầu, người Hoa Kỳ mừng ngày này bằng cách đến nhà thờ, viết thư cho mẹ, gửi cho mẹ các thứ quà tặng, thiệp chúc mừng và hoa. Tuy nhiên, khi các tổ chức thương mại nhảy vào ăn theo ngày lễ này bằng cách quảng cáo quá lố về việc tặng quà cho mẹ thì chính bà Anna Jarvis cảm thấy bị xúc phạm. Bà cho rằng tinh thần của ngày này đã bị hy sinh cho sự tham lam và lợi nhuận. Trước khi mất vào năm 1948, người ta cho rằng Anna Jarvis từng công khai bày tỏ sự tiếc nuối đã vận động cho Ngày của Mẹ trở thành ngày lễ chung của cả nước.

 7

Trên thế giới, tùy theo các nền văn hóa và tôn giáo, cũng có nhiều dân tộc có những ngày kỳ công người Mẹ. Người Hy Lạp cổ đại từng có lễ hội Cybele để mừng Mẹ Đất, thực ra chỉ có tính cách thần thoại; nhưng với người La Mã cổ đại, trong lễ hội Matronalia để tưởng nhớ nữ thần Juno, thì những người phụ nữ đã là mẹ thường nhận được quà từ con mình. Ở châu Âu và ở Anh,theo truyền thống vẫn có một ngày Chủ nhật trong tuần chay (trước ngày lễ Phục sinh) được tổ chức thành lễ hội, vào ngày đó, các bà mẹđược tặng quà. Phần lớn những cộng đồng theo Thiên Chúa giáo chọn ngày kỷ niệm Đức Mẹ Maria để bày tỏ lòng tưởng nhớ đến người mẹ; trong khi các cộng đồng theo đạo Hồi chọn ngày nhớ mẹ là ngày sinh nhật của thánh nữ Fatima, con gái của Mohamed.

 8

Trong các tài liệu về dân tộc học, có các tác giả-kể cả tác giả ngoại quốc, cho rằng ở Việt Nam, ngày lễ Vu-lan tương đương với Ngày của Mẹ.

Điều đó cũng có phần đúng, vì trong quá khứ đã có những buổi đại lễ Vu-lan được tổ chức trang nghiêm trên toàn quốc. Trong dịp ấy, ngoài việc cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời về trước, dân chúng cũng thể hiện những tình cảm quý mến và biết ơn đối với người mẹ đang tại thế. Gần đây, các buổi lễ Vu-lan cũng được tổ chức rộng rãi ở nhiều nơi trong mọi ngôi chùa, Phật tử đến làm lễ cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời đã khuất, cầu quốc thái dân an, tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ của dân tộc và được cài hoa trên ngực áo đển tưởng nhớ đến mẹ hiền.

Tuy nhiên,tinh thần lễ Vu-lan ngày nay vẫn chưa nhuần thắm lòng người Việt. Và những hình thức thương mại hoa lễ hội cũng đã mon men tiến vào lễ hội Vu-lan, nêu không chấn chỉnh sớm, cũng có thể có những biến thái như việc du nhập một Ngày của Mẹ xa lạ từ phương Tây vừa diễn ra trong vài năm qua. Và cũng khó có thể xác định rằng lễ Vu-lan đã trở thành lễ hội của cả dân tộc.

9

Khác với ý niệm về Ngày của Mẹ do những truyền thống phương Tây và truyền thống Hồi giáo phổ biến, ngày Lễ Vu-lan không nhằm đến công hạnh của một người mẹ cụ thể nào trong lịch sử. Ngày lễ Vu-lan chỉ thể hiện lòng hiếu và ý muốn báo hiếu của mọi con người.

Mọi người đều phải có cha mẹ mới có mình. Việc báo hiếu là việc mà mọi người phải nghĩ đến, vì hiếu đứng đầu mọi hạnh. Cha mẹ có thể có những sai lầm vì cha mẹ cũng chỉ là những chúng sinh vô minh có thể chưa hiểu rõ lý nhân quả, chưa biêt đến thuyết luân hồi, chưa từng quy y điều thiện.

Nhưng chính vì muốn dạy con nên người, lo lắng cho tương lai của con mà đôi khi cha mẹ phạm vào điều ác. Đó chính là công ơn trời biẻn cả cha mẹ. Người con, hiểu được điều ấy, quyết tâm cứu vớt cha mẹ ra khỏi trầm luân của ác đạo. Việc cứu vớt được thực hiện dựa trên hạnh bố thí của người con Phật thể hiện qua việc cúng dường chư Tăng trong ngày Tự tứ là những người có đức độ đã được thực chứng qua một mùa an cu.

Lễ Vu-lan thể hiện tinh thần ấy của người con Phật. Lễ Vu-lan cũng nhấn mạnh đến công ơn của người mẹ suốt chín tháng mười ngày cưu mang con trong bào thai. Ý nghĩa ấy khiến ngày Vu-lan xứng đáng trở thành một ngày lễ hội của cả dân tộc nhằm tôn vinh Me.

 10

Ngày Giáng sinh 25-12 hàng năm là ngày lễ trọng đại của mọi tín đồ Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới. Tuy chưa phải là một ngày lễ chính thức nhưng ngày Giáng sinh đã trở nên một lễ hội quá quen thuộc đối với người Việt. Trong mùa Giáng sinh, người tín đồ Thiên Chúa giáo Việt Nam hân hoan tổ chức nhiều sinh hoạt tôn giáo để mừng ngày Chúa Jesus – đấng cứu chuộc của mình – đi vào cuộcđời.

Tuy không nhìn nhận Chúa Jesus là đấng cứu chuộc, nhưng nhiều người Phật tử Việt Nam, trong tinh thần tùy hỷ, vẫn hòa mình vào với các sinh hoạt của mùa Giáng sinh. Họ cũng tham gia các hoạt động lễ hội, kể cả tham dự các thánh lễ, các bữa tiệc nửa đêm, chia sẻ với niềm vui của người đồng bào khác tôn giáo, thể hiện tình đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng khác biệt.

Nếu ngày Vu-lan trở thành ngày lễ hội của cả dân tộc để vinh danh mẹ, người Việt cũng có thêm một ngày lễ hội nữa có khả năng thắt chặt tình đoàn kết giữa những người không cùng tôn giáo.

Việc đưa ngày Vu-lan trở thành một ngày sinh hoạt truyền thống trong mọi gia đình Việt Nam với mục đích báo hiếu cha mẹ nhiều đời và thể hiện lòng biết ơn người mẹ hiện tiền cũng như tất cả những ngươi có công với đất nước với dân tộc đòi hỏi nỗ lực của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có kế hoạch vận động hướng dẫn từng người con Phật nêu cao ý thức đạo đức xã hội, nêu cao hiếu hạnh, chú ý đến việc thực hiện những hoạt động có ý nghĩa xã hội nhân ngày Vu-lan, làm rõ tinh thần của ngày lễ Vu-lan là một lễ hội mang tính văn hóa truyền thống; từ đó, tinh thần của ngày Vu-lan sẽ tỏa sáng , tác động đến ý thức của mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc, biết phát huy một truyền thống hiếu hạnh đặc biệt không dựa trên hình ảnh của bất kỳ một người nào khác trừ ra chính tâm thức của mình.■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 87 Vu lan

(Visited 158 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Nguyễn Văn Nhật, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *