Nghĩa tử sinh

| 21/08/2015 | 0 Comments

Phước Thắngnghia-tu-sinh

 Sinh tử sự đại

Hai sự việc trọng đại của một kiếp người là sinh ra và chết. Trọng đại, bởi vì sinh được thân người là khó và khi điều khó có được thì quý vô cùng. Cho nên, một mai cái quý đó mất đi thì sự tiếc rẻ, thương đau nuối tiếc, ca ngợi, sợ hãi cũng lớn vô cùng đối với kẻ còn, người mất. Cứ nhìn vào các lăng tẩm và những bia mộ thì rõ mọi điều đã nói. Và cũng chính vì vậy mà thế gian này không thiếu những xác ướp để lưu danh…. Đạo Phật không đặt nặng kiểu xử lý cái chết như vậy, mà quan tâm đến sự tái sinh sau khi nhắm mắt xuôi tay. Có đến sáu nẻo luân hồi mở ra sau khi chết, đó là : Trời, Người, A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Được tái sinh trong lòng nhân loại hay trong lòng chư Thiên là cả vấn đề phước báo lớn lao sanh khởi từ mọi điều thiện đã tạo tác trong suốt quá trình sống hành nghiệp. Chính các thiện nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thân trung hữu nhập vào y xứ của Người hay Trời. Còn đối với ác nghiệp thì sự thọ nghiệp của thân trung hữu là bốn nẻo còn lại khác nhau tủy theo nặng, nhẹ của ác nghiệp đó.

Tụng văn trong Câu Xá luận đã cô đọng vấn đề này như sau: “Không có ngã chỉ có các uẩn, do phiền não nghiệp tác động từ thân trung hữu tiếp nối vào thai, giống như ngọn đèn”.

Ngọn đèn dù bị chuyển dịch ở mọi vị trí khác nhau và tuy bị tiêu diệt trong từng sát-na song tính chiếu sáng của nó vẫn hiện hữu. Thân trung hữu giống như ngọn đèn nhưng đặc điểm của thân trung hữu là chiêu cảm thọ nghiệp nên duyên theo nghiệp thiện hay nghiệp ác dẫn dắt sự tái sinh ở cõi này hay cõi khác trong sáu nẻo luân hồi.

Luận Đại Trí Độ đề cập đến thế giới Tất-đàn là thế giới mà tánh của nó không phân biệt, do nhân duyên hòa hợp mà thành. Người cũng thế, do năm ấm nhân duyên với nhau mà có và báo nghiệp là nhân duyên theo chốt hình thành pháp giới. Kinh ghi: “Do tạp báo nghiệp mà tạp sanh thế gian, mà tạp xúc, tạp thọ”. Điều này cho chúng ta thấy sáu nèo luân hồi là một tạp sanh thế gian hay là thế giới Tất-đàn trong nghĩa thù thắng. Để làm rõ nghĩa thù thắng này, Long Thọ Bồ-tát đã dẫn lời Phật dạy để minh chứng thế giới Tất-đàn là thật. Đức Phật dạy: “Ta dùng thiên nhãn thanh tịnh thấy các loài chúng sanh, theo nghiệp thiện ác mà chết ở chỗ này, sanh ở chỗ kia, chịu các quả báo, kẻ có thiện nghiệp ở cõi trời, cõi người, kẻ có ác nghiệp thì đọa vào ba đường dữ”.

Như vậy, không còn nghi ngờ gì cái y xứ mà thân trung hữu được dẫn dắt bởi thiện nghiệp hay ác nghiệp. Tuy nhiên, để phá hết mọi nghi ngờ, mọi tà kiến ở đời sau, kinh “Phá Quần Tà”đã nêu rõ lý do khai ngộ: “Vì có kẻ nghi ngờ đời sau, không tin tội phúc, làm việc bất thiện, đọa vào kiến chấp đoạn diệt, muốn dứt nghi ngờ của kẻ ấy để cởi bỏ việc ác của kẻ ấy, muốn nhổ đoạn kiến của kẻ ấy, nên nói: Tạp sanh của thế gian, tạp xúc, tạp thọ”.

“Họa phúc đáo đầu chung hữu báo”, chẳng may cái họa báo nghiệp của thân trung hữu, báo đúng cái “tạp sanh, tạp xúc, tạp thọ”nơi cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì muôn đời, nghìn kiếp để được tái sanh vào cõi trời, cõi người thậm chí là cõi A-tu-la đi nữa cũng vô cùng khó khăn, vô cùng trọng đại. Hãy quý trọng hành vi thiện đối với hiện tại được mang thân con người quý hóa này.

Nghĩa tình với người chết

Việt Nam tân từ điển của Thanh Nghị, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, Từ điển tiếng Việt phổ thông của NXB Khoa học Xã hội 1975 đều giải thích từ “cô hồn”giống nhau, đó là : “Hồn bơ vơ của người chết không ai tưởng nhớ thờ cúng”.

“Mê tín dị đoan ư?!” Xin hãy thương xót, khói hương điều này: Thành cổ Quảng Trị còn đó mọi vết tích tang thương, trơ xương hình hài còn lại, và “hình hài”của cả nước như Thành cổ khốc liệt kia trở thành những tượng đài sừng sững mọc lên suốt mấy mươi năm qua…”Ngọc trong đá, tượng chẳng cần ai tạc” (Vũ Hoàng Chương), nhưng vẫn là “tuyệt tác”của dân tộc này của hậu bán thế kỷ 20. Ngậm ngùi, tiếc thương, khói hương, thờ cúng cho những hồn thiêng đầy hào khí anh hùng, âu cũng là nghĩa lớn vậy.

Với Phật giáo Đại thừa Việt Nam kết hợp với Mật tông, không luận thời nào, luôn lấy lời kinh, sự nguyện cầu trân trọng tất cả chiến sĩ trận vong, những oan hồn uổng từ để hương khói họ, cúng kính mong họ được hưởng Cam lồ vị, giũ sạch tham lam, sân hận và chắc chắn hồn của họ khi nghe lời kinh công phu chiều với thần chú no đủ của sơn tăng sẽ nhẹ nhàng, phơi phới trong cảnh giới an lành. Dân tộc ta, hơn ai hết, có thi hào Nguyễn Du cảm nhận được sự linh thiêng mầu nhiệm ấy nên đã làm ra “Văn tế chiêu hồn”. Ở đó, Cụ đã nhìn thấy những hồn kia đang ru mình trên cánh võng thiên nhiên, trong tàng cây ngọn cỏ, nơi khe núi, hang sâu mà não người:

      Não người thay buổi chiều thu
      Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng đầy

Bởi thế, thi hào Nguyễn Du đề nghị:
    Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
      Của có chi bát cháo, nén nhang.

Nhân mùa Vu-lan báo hiếu, mùa giải đảo huyền cứu độ vong linh, toàn thể Phật tử Việt Nam hãy làm một cuộc hành hương tâm linh đi qua những vùng đất quê hương có nhiều vạn hồn tử sĩ còn phưởng phát, phiêu bồng thăm viếng nguyện cầu, bày tỏ “nghĩa tử sinh”.

Kinh có câu: “Nhất niệm thông tam giới”. Nguyện cầu cho kẻ còn, người mất cùng nhau nhất tâm niệm Phật để nối liền tưởng nhớ nghĩa tình lên nhau, tạo nên sự giao cảm ruột rà, tác động niệm thiện lên nhau, bước qua mọi gián cách của thế gian để tìm về với sự giải thoát và giác ngộ.

Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng
Nam-mô nhất thiết siêu thăng Phật đài

                  (Văn tế thập loại chúng sanh).

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 87 Vu lan

(Visited 129 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Phước Thắng, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *