Những cành mai trong vườn thơ Trung đại

| 28/02/2017 | 0 Comments

PHẠM  TUẤN  VŨ |

nhung-canh-mai

Trong   quan   niệm   thẩm   mỹ   của   người phương  Đông nói chung, người Việt ta nói riêng, hoa có một vị trí đặc biệt. Nhiều loài hoa được gọi bằng  những  danh  xưng mỹ lệ gắn với các giá trị tinh thần, đại diện cho một đức tính nào đó của con người. Lan được xem là hoa của bậc vương giả (vương giả chi hoa), cúc là hoa của kẻ ẩn dật (ẩn dật chi sĩ), sen là hoa của bậc quân tử (liên, hoa chi quân tử giả dã), mẫu đơn là hoa của bậc quốc sắc thiên hương  (quốc sắc thiên hương chi phú quý)…

Trong các loài hoa,  mai gốc  già cằn  cỗi, cành  lá khẳng khiu mà cốt cách thanh cao, tinh thần cứng cỏi (băng cơ ngọc cốt ngạc chi thanh kỳ) được xem là hoa của bậc tiết tháo (mai hoa sắc bạch tuyết trung minh – hoa mai sắc trắng  sáng trong  tuyết). Mai còn là biểu tượng của mùa xuân đến sau những  ngày đông  lạnh giá (mai hung sương tuyết lai tương kiến – mai vượt sương tuyết tìm đến gặp nhau [với ta]), từ lâu mai đã đi vào văn chương, trở thành  một trong  những  biểu tượng đẹp, mang  nhiều giá trị nhân  sinh quan  trọng trong thi ca. Dạo quanh một vòng vườn thơ trung đại nước ta, dễ nhận ra cha ông ta ngày trước yêu quý mai và gởi gắm vào loài hoa này những quan niệm tốt đẹp về cuộc đời. Có những đóa mai nở mãi trong vườn thơ nước ta thời ấy, ấm ngời một sắc vàng tươi, đẹp mãi trong mỗi lòng người qua bao nhiêu năm tháng.

Cành mai nở sớm nhất trong vườn thơ trung đại Việt Nam có lẽ là cành mai trong bài thơ Cáo tật thị chúng của Thiền sư Mãn Giác (1052-1096), một cao tăng của phái Vô Ngôn Thông:

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đ
ình tiền tạc dạ nhất chi mai.

(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai).

Đó là nhành  mai nở muộn  nơi đầu sân trong buổi sáng lạnh giá khi trăm hoa đã rụng hết rồi. Đó cũng là nhành mai cứng cáp của cõi lòng an nhiên, tự tại trước những  quy luật sinh tử bệnh  lão, được mất hơn thua trong  cuộc đời mà bậc tu hành  đắc đạo  nhận  chân được. Đó còn là nhành  mai vàng tươi ấm áp của lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời của bậc chân tu nhưng đồng  thời cũng là trọng thần có công lớn trong buổi đầu  xây dựng  nền  độc lập của nước nhà. Cành mai thực  nhưng  cũng  là cành  mai tượng  trưng, thoáng hiện lên ở cuối tác phẩm nhưng cứ tươi mãi, đẹp mãi trong lòng hậu thế.

Cành mai được tôn lên ngôi vị cao nhất có lẽ là mai trong hai câu thơ dưới đây của Thiền sư Huyền Quang (1254-1334), Tổ sư đời thứ ba của phái Trúc Lâm Yên Tử:

Ngự sử mai hai hàng chầu chấp
T
rượng phu tùng mấy rặng phò quanh.
Ngự sử mai cùng với trượng  phu tùng  và quân  tử trúc hợp  thành  “tam ích hữu” (ba người bạn  có ích). Sách Luận ngữ, thiên Quý thị viết: “Ích giả tam hữu: hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn” (Bạn có ích gồm ba hạng: ngay thẳng, rộng lượng, biết nhiều). Sách Nguyệt lệnh quảng nghĩa gọi tùng trúc mai là “đông thiên tam hữu”, “đông xuân tam hữu” hoặc “tuế hàn tam hữu” xuất phát từ điển trên. Mai trong câu thơ của Huyền Quang thiền sư là hình ảnh trượng trưng cho bậc lương đống  dốc lòng phò vua giúp nước, điều mà Nguyễn Trãi sẽ nói lại sau này. Bởi vậy, hình tượng mai trong câu thơ không còn là nhành  mai đơn thuần, đó là mai của một nhân sinh quan tốt đẹp biết bao.

Trong vườn thơ xưa, có một cành mai rừng thanh cao không vướng mùi tục lụy trong câu thơ thần trong bài thơ Tặng thi Hứa tăng Khắc Sơn được truyền tụng là của Hoàng giáp Thân Quốc công Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) làm trong thời niên thiếu:

Dã mai cốt cách nguyên phi tục
Hải
hạc phong tư tự bất quần.

(Cốt cách của mai rừng vốn không vướng tục

Phong tư loài hạc biển vốn chẳng phải ở trong bầy). Được xem là một trong “tuế hàn tam hữu” (ba người bạn  của tiết lạnh), mai thường  được gắn  với sương, tuyết, với giá lạnh. Trong vườn thơ nước ta xưa, có một nhành  bạch mai được so sánh với tuyết, hình ảnh rất đẹp trong bài thơ Lưu gia độ của Tể tướng Trần Quang Khải (1241-1294):

Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên
(Hoa mai như  tuyết  chiếu  xuống  dòng  sông  lúc tạnh mưa).

Mai sắc vàng cao quý, màu của vinh hiển, vua chúa, là đệ nhất đại danh hoa”. Thế nhưng trong thơ Nguyễn Trãi (1380-1442), không  chỉ có nhành  mai cao sang, quý phái mà có cả những  đóa mai vàng tươi, ấm áp,  gần gũi với cuộc đời thanh bạch của bậc đại sĩ giữa cõi đồng nội, núi rừng, như trong bài Ngôn chí 2:

Quét trúc, bước qua lòng suối
Thưởng
mai, về đạp bóng trăng.

Ức Trai có lẽ yêu mai hơn cả trong những loài hoa khác, thể hiện trong bài Đề hoàng ngự sử mai tuyết hiên:

Ngã ái mai hoa kiêm ái nguyệt
Nhất mai nhất nguyệt lưỡng giai nhân
.

(Ta yêu hoa mai với yêu trăng
Một mai, một trăng cả hai đều là trang giai nhân).

Trong bài Tự thán 16, ông tự ví mình là cây mai già tiết tháo, trung trinh:

Khổ trúc chẳng ưa lòng khách bạc
Mão mai sá học nết người thanh.

Và trong  bài Thu nguyệt  ngẫu  thành,  ông cho mai già là người bạn bên song cửa với thú vui sách đàn của kẻ ẩn dật:

Đc bãi quần thư vô cá sự
Lão
mai song bạn lí dao cầm.

(Đọc xong chồng sách không còn việc gì nữa
Bên cội mai già cạnh song cửa mà gảy đàn ngọc giao).

Bởi vì ông khẳng định trong bài Mai:

Xuân đến hoa nào chẳng tốt tươi
Ưa
mi vì tiết sạch hơn người.

Hoa mai không chỉ trang nhã ở màu sắc mà hương thơm  cũng thanh  thoát,  thuần  khiết. “Mai hoa ưu vu hương” (cái ưu việt nhất của hoa mai là ở mùi hương). Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, có một  cành  mai không chỉ mang cốt tuyết ngọc mà hương thơm cũng dìu dịu, vương vấn thêm mỗi độ xuân về:

Xuân thêm cốt cách hương càng bội
Tuyết giúp tinh thần ngọc hãy còn
[…]
Tiếc là đá sắt thêm khoe muộn
Sực
nức danh thơm kiếp chẳng mòn.

(Cây mai già – Lê Thánh Tông) Không chỉ được ví với người quân tử, đáng nam nhi, hoa mai còn được xem là cốt cách, dáng điệu của bậc giai nhân, kẻ yểu điệu. Trong Truyện Kiều, nhiều lần mai xuất hiện (Thiền trà cạn nước Hồng Mai, Thờ ơ gió trúc mưa mai, Rụng rời lộc liễu tan tành gốc mai, Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai, Nàng thì chiếc bóng song mai…) nhưng  có lẽ không ai quên được câu thơ miêu tả cốt cách thanh  tao của nàng Kiều trong những  ngày “êm đềm trướng rủ màn che”: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” và câu thơ tả dáng  vẻ “sượng sùng ngại gió e sương” trong  buổi Mã Giám Sinh mua Kiều: “Điệu buồn như cúc, nét gầy như mai”. Mai tượng trưng cho người đẹp. Trong Hương miệt hành, truyện thơ chữ Hán ra đời rất sớm từ đầu thời Lê (có giả thuyết  cho rằng đời Trần), nàng con gái xinh đẹp họ Trương cũng được miêu tả bằng cách so sánh với mai, tuyết, ngọc: “Tuyết mai cốt cách ngọc tinh thần”.

Mang khí tiết trong sạch, cốt cách thanh cao, là loài hoa cười sương cợt tuyết, ngạo với gió mưa, mai được những  bậc  trượng  phu  tiết  tháo  yêu quý, xem như người bạn tri giao:

Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là
bạn cũ, hạc là người xưa.

Hai câu thơ nổi tiếng này của Nguyễn Du làm ta nhớ là Lâm Bô, tức Lâm Hòa Tĩnh (967-1028), nhà thơ đời Tống không  có vợ con, suốt  đời chỉ thích trồng  mai nuôi hạc, được người đời gọi ông “cưới mai làm vợ, nuôi hạc làm con” (mai thê hạc tử). Ông có bài Mai hoa rất nổi tiếng được người đời truyền tụng.

Người xưa cũng đã có thú trồng mai, chơi mai.

Một bậc cao sĩ cả đời ngang tàng ngạo nghễ là Chu Thần Cao Bá Quát (1809-1855) từng  gieo ở đầu non một nắm hạt mai với niềm tin phơi phới xuân năm sau đến mai sẽ tô điểm cả bầu trời, làm đẹp cho thế gian, thể hiện trong bài thơ Tài mai:

Thí tương mai tử trịch sơn gian
Nhất ác thanh tư ký bích loan
Ký thử lai thì xuân sắc hảo
D
nhân cộng tác họa đồ khan.

Hoàng Tạo dịch thơ:

Đầu non nắm hạt mai gieo
Giống
thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi
Nửa
mai xuân điểm bầu trời
Bức
tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung.

Trong thơ trung đại nước ta ở những năm cuối thế kỷ XIX, có không chỉ một đóa, một cành mà là cả một gò mọc đầy mai trắng đầy ám ảnh với mơ ước đất nước sớm thôi bóng giặc Pháp xâm lược, mùa xuân lại ngập tràn khắp bờ cõi non sông.

Hữu nhật mai cương quy tích thụ
Hội
khan tài mĩ tận đông nam.

(Bồn trung tiểu mai nguyên vận)
(Có một ngày gò mai góp đủ trở lại cỏ cây xưa –
[Sẽ có dịp] cũng nhìn cảnh tươi đẹp khắp cõi đông nam).

Người thể hiện ước mơ đó chính là Nguyễn Thuật (1842-1911), tự Hiếu Sinh, hiệu Hà Đình, quê làng Hà Lam (nay là thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam), một trong những vị quan lớn của triều Nguyễn, suốt đời sống thanh bạch, không thôi trăn trở cho vận nước trong buổi lao đao.

Mai là hoa của mùa xuân. Một cánh mai vàng mang xuân đến. Người ta từ ngàn  xưa yêu quý mai, thì ngàn sau cũng vậy. Người xưa xem mai là bạn tâm giao, người nay xem hoa là người tri kỷ. Đóa mai vàng tươi cao khiết, nhành mai cứng cỏi hao gầy vẫn luôn là cảm hứng cho bao thế hệ thi nhân, là đề tài quan trọng trong thơ ca viết về mùa xuân. Ngày xuân mai nở, dạo quanh vườn thơ xưa, để thấy trong văn học nước ta thời trung đại có biết bao đóa mai vàng. Đó là những người bạn tinh thần tin cậy, nơi gởi gắm nhiều quan niệm nhân sinh tốt đẹp của cha ông ta, là những đóa mai lung linh, đẹp đẽ, tươi mãi muôn đời. ■

Văn Hoá Phật Giáo số Xuân 218-218

(Visited 105 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Phạm Tuấn Vũ, Thơ, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *