Những gì trong gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp cho nền hòa bình và an vui trên thế giới

| 02/02/2012 | 1 Comment

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 2Những gì trong gia san Viet Nam
Những gì trong 
gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp cho 
nền hòa bình và an vui trên thế giới
Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh

Tôi biết một anh chàng họa sĩ sống ở Hoa Kỳ, người Huế. Ngày xưa anh rời quê hương một cách rất khó khăn. Anh ta đã xin làm bồi trên một chiếc tàu thủy để đi qua một nước Tây phương. Anh ta nghĩ rằng mình sẽ có một tương lai ở đó. Cái đêm anh từ giã bà mẹ của mình, hai mẹ con đã khóc rất nhiều. Bà cụ là một người đàn bà Huế không biết đọc biết viết nhưng bà đã dặn người con trai như thế này: “Khi con qua bên nớ, mỗi khi nhớ mạ nhiều lắm thì con đưa bàn tay lên và con nhìn bàn tay con cho kỹ, con sẽ bớt nhớ mạ”. Trong suốt mấy mươi năm ở Mỹ, chưa có cơ hội trở về Việt Nam, anh ta thường đưa bàn tay lên ngắm và thấy được an ủi. Cố nhiên bà mẹ Việt Nam đó chưa bao giờ từng học triết học, chưa từng học khoa học nhưng bà có tuệ giác của cha ông để lại. Bà biết rằng mình có mặt trong bàn tay của con trai mình.

Chúng ta biết rằng tất cả gia tài di truyền của tổ tiên, của cha ông mà chúng ta được tiếp nhận và các thế hệ tổ tiên cũng như cha mẹ mình đang có mặt đích thực trong từng tế bào của cơ thể mình. Đó là một sự thực khoa học. Tất cả kinh nghiệm, trí tuệ, những hạnh phúc của tổ tiên, của ông bà và cha mẹ đã được trao truyền cho chúng ta. Tất cả những khổ đau, khó khăn, những bức xúc của tổ tiên, của ông bà, cha mẹ cũng đã trao truyền cho chúng ta. Tổ tiên chúng ta, kể cả thế hệ tổ tiên trẻ nhất là cha mẹ đang có mặt một cách đích thực trong từng tế bào của cơ thể. Vì vậy cho nên người mẹ kia, tuy không biết khoa học, không biết triết học nhưng đã nói lên tuệ giác đó, này con mỗi khi con nhớ mẹ, con chỉ cần đưa bàn tay lên, con sẽ thấy đỡ nhớ. Tuy bà không nói nhưng trong lời dặn dò với người con trai đó đã ẩn chứa ý nghĩa là mẹ đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể con. Sự thực khoa học đó hiện bây giờ đã được mọi người chấp nhận.

Chúng ta thường nói với nhau rằng, con cái ở đâu thì ông bà ở đó. Điều này cũng là một sự thực khoa học. Ông bà đi theo con cái không phải đi theo sau lưng, hoặc đi theo bên phải, hoặc bên trái hay đi trước mặt mình, mà ông bà đi theo ngay từng tế bào của cơ thể. Chúng ta đi đâu thì chúng ta đem tổ tiên ông bà đi theo nơi đó. Điều đó có thể hiểu một cách rất khoa học. Chúng ta đi Mỹ thì tổ tiên ông bà của mình đi Mỹ. Chúng ta đi Hòa Lan thì tổ tiên của mình đi Hòa Lan. Chúng ta đi Úc thì tổ tiên của mình đi Úc. Chúng ta lên thiên đường thì tổ tiên của mình sẽ lên thiên đường. Chúng ta xuống địa ngục thì tổ tiên của mình cũng sẽ xuống địa ngục với chúng ta.

Xã hội chúng ta trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, con người có cảm tưởng là mình mất gốc, cảm thấy bơ vơ, lạc loài mà không cảm thấy được sự liên hệ giữa mình với tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình. Có những người trai trẻ lớn lên giận cha, giận mẹ, phủ nhận văn hóa, dân tộc và đất nước của mình. Đó là vì họ phải gánh chịu quá nhiều khổ đau. Có người giận cha mình đến mức tuyên bố: “Ông đó hả, tôi không muốn có liên hệ gì đến ông đó hết! I do not want to have anything to do with him! Nói như vậy không có nghĩ là không có những người thanh niên Việt Nam có nghĩ và nói như vậy khi cảm thấy những đau khổ của mình là do cha mình, mẹ mình gây ra thì mình sẽ thù hận cha, mẹ và không muốn có sự liên hệ đến cha mẹ mình nữa. Đó là những con người phóng thế, con người không có gốc rễ. Và khi không có gốc rễ thì không thể nào chúng ta có được hạnh phúc.

Thời đại chúng ta đã chế tạo ra không biết bao nhiêu con ma đói. Những con ma đói bằng xương bằng thịt, đi trong xã hội, đi trong cuộc đời để kiếm một chút hiểu và một chút thương, kiếm một nơi nương tựa, nhưng lại hoàn toàn bơ vơ. Chỉ cần nhìn quanh, chúng ta sẽ nhận diện ra được những con ma đói đó. Họ đói nhưng không phải đói cơm áo, mà họ đói hiểu biết, đói tình thương. Cái hiểu và thương đó, gia đình không cung cấp được cho họ. Họ không tin vào nơi hạnh phúc gia đình mà nghĩ rằng hạnh phúc gia đình là một ảo tưởng không bao giờ có. Bởi vì từ lúc họ được sinh ra, họ chưa bao giờ thấy gia đình có hạnh phúc, cha làm khổ mẹ, mẹ làm khổ cha; cha đay nghiến mẹ, mẹ đay nghiến cha… Tất cả điều đó đã gây ra vết thương rất sâu đậm nơi người con trai, con gái. Và khi giữa cha mẹ không có sự truyền thông (communication), khi giữa cha con không có truyền thông, cha không nhìn mặt con được, con không nói chuyên với cha được thì làm sao có được hạnh phúc. Gia đình không phải là nơi mà người trẻ muốn trở về và người trẻ đi tìm quên lãng ở những lĩnh vực khác, và vì thế mà người trẻ sa vào hầm hố của tội ác, của tội phạm, của ma túy, trác táng…

Ở Pháp, mỗi ngày có khoảng 33 thanh niên tự tử. Họ tự tử không phải vì thiếu cơm thiếu áo mà họ lâm vào trạng thái tuyệt vọng. Trong cuộc đời của họ, họ chưa bao giờ tiếp nhận chất liệu hiểu và thương từ cha mẹ, từ xã hội. Cuộc sống đối với họ không có một ý nghĩa gì cả và họ nghĩ rằng phương pháp chấm dứt khổ đau duy nhất còn lại là chấm dứt cuộc đời của mình. Mỗi ngày có 33 thanh niên Pháp tự tử, con số đó là hơi nhiều đối với tôi. Các nước khác ở Âu châu, tình trạng cũng tương tự. Tôi không biết tại Việt Nam mỗi ngày có bao nhiêu thanh niên tự tử, nhưng số lượng các gia đình trong đó người cha không truyền thông được với người mẹ, con không truyền thông được với cha, mọi người trong gia đình cảm thấy không hạnh phúc, số lượng gia đình như vậy càng ngày càng tăng. Tỷ lệ những cặp vợ chồng ly dị cũng càng ngày càng tăng.

Tôi nghe được rằng tỷ lệ của những cặp vợ chồng ly dị ở Hòa Lan là trên 50%. Cấu trúc gia đình tại xã hội Tây phương bây giờ rất là lỏng lẻo và mong manh. Cấu trúc đó có thể tan rã bất cứ lúc nào. Ngày xưa chúng ta có một cấu trúc gia đình vững chải hơn nhiều. Khi chúng ta có những khó khăn trong gia đình của mình, mình có thể chạy qua nhà ông chú, bà thím, ông bác…để “tỵ nạn”, và sau đó chúng ta có thể trở về nhà được. Còn bây giờ gia đình trở nên nhỏ xíu, mỗi gia đình ở trong căn hộ rất nhỏ hẹp trong khu chung cư. Những gia đình như thế gọi là gia đình hạt nhân (nuclear family), chỉ gồm hai vợ chồng và một hoặc hai đứa con. Khi mà chúng ta cảm thấy rằng mình không có gốc rễ, không bám vào được gia đình mình, mình không có gốc rễ trong gia đình, không có gốc rễ trong truyền thống tâm linh và trong xã hội, trong văn hóa, trong đất nước thì lúc đó mình sẽ trở thành con ma đói. Xã hội Tây phương hiện nay sản xuất rất nhiều con ma đói như thế.

Những trung tâm tu học của chúng tôi tại Pháp quốc và Mỹ quốc luôn luôn sẵn sàng chấp nhận những con ma đói. Chúng ta chỉ nhìn ai đó qua cách họ đi, ngồi, nhìn, nói chuyện trong một phút là có thể nhận diện ra họ có phải là một con ma đói đích thực hay không, họ có phải là người đói tình thương, đói hiểu biết, đói một cái gì đó để mình có thể đồng nhất hóa, thống thuộc vào và hoàn toàn bơ vơ.

Trong những năm hành đạo tại Tây phương, chúng tôi đã giúp cho không biết bao nhiêu người Tây phương trở về được với gia đình của họ, tái lập được truyền thông với cha, với mẹ và xây dựng lại được tình thân trong gia đình. Chúng tôi đã giúp được vô số cặp vợ chồng, cha con, mẹ con hòa giải được với nhau. Chúng tôi đã sử dụng những yếu tố của văn hóa Việt Nam để làm việc đó.

Tôi đã từng nói với một thanh niên: Anh nói rằng anh không muốn có một sự liên hệ gì với cha anh cả, điều đó thật là buồn cười. Bởi vì, nếu dành chút thì giờ để nhìn lại thì anh sẽ thấy rằng anh chính là sự tiếp nối của cha anh, anh chính là cha anh đó! (You are continuation of your father. You are your father!). Anh hãy nhìn một hạt bắp người ta mới gieo xuống đất, vài ngày sau hạt bắp nẩy mầm, mình sẽ thấy một cây bắp con được biểu hiện bằng hai lá, ba lá. Khi cây bắp con được biểu hiện ra rồi thì mình không thấy cái tướng, hình tướng của hạt bắp nguyên sơ nữa. Hạt bắp coi như đã chết để cho cây bắp được sinh ra. Nhưng kỳ thực, hạt bắp không chết. Hạt bắp chỉ luân hồi thành cây bắp. Không có cái chết. Tự tính của hạt bắp là vô sinh, bất diệt. Khi anh là người có trí tuệ, nhìn vào cây bắp, anh sẽ thấy được hạt bắp, không phải với cái tướng cũ của nó mà với cái tướng mới, tại vì cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp, cây bắp chính là hạt bắp. Khi cây bắp lớn lên, có bông có trái thì đó cũng là sự tiếp nối của hạt bắp ban đầu. Khi nhìn cờ bắp, những trái bắp mới ta phải thấy được hạt bắp ban sơ. Cũng vậy, anh hãy nhìn lại mà xem, anh là sự tiếp nối của cha anh, anh là sự tiếp nối của mẹ anh; và anh chính là cha anh, anh chính là mẹ anh. Đây là một sự thực hiển nhiên anh phải công nhận rằng cha anh, mẹ anh có mặt một cách rất hiện thực trong từng tế bào của cơ thể anh. Anh không thể nào lấy cha anh ra khỏi con người của anh được. Anh không thể tách mẹ anh ra khỏi con người của anh được. Và như vậy, khi anh giận cha anh, tức là anh đang giận chính bản thân mình. Anh không có nẻo thoát. Hãy hãy sử dụng những phương pháp mà chúng tôi đề nghị để anh hòa giải với cha anh trong anh trước. Tại vì anh biết rằng thật là vô vọng nếu anh muốn lấy cha anh ra khỏi anh. Bởi anh không thể làm điều đó được, vì anh là sự tiếp nối của cha anh, anh chính là cha anh. Chỉ có một con đường duy nhất là anh phải hòa giải với cha anh trong chính anh. Phương pháp này gọi là phương pháp quán chiếu: thấy mình là sự tiếp nối của cha mình, mình là cha mình. Có thể cha mình trong quá khứ, trong thời thơ ấu đã không được may mắn, đã bị bầm dập, không được thương yêu, không được chăm sóc và những vết thương ấy nơi cha anh không bao giờ lành cả. Cha anh chưa có cơ duyên gặp được Chánh pháp, gặp được vị hướng dẫn tinh thần giúp cho cha anh nhận diện vết thương, ôm ấp và chuyển hóa vết thương đó, vì vậy cha anh đã trao truyền cho anh nguyên vẹn vết thương mà cha anh đã tiếp thu.

Khi chúng ta có niềm đau nỗi khổ mà chúng ta không có biện pháp để trị liệu và chuyển hóa thì chắc chắn chúng ta sẽ truyền trao niềm đau nỗi khổ đó cho con, cho cháu của chúng ta. Vì vậy cho nên sự tu tập là rất quan trọng. Tu tập để nhận diện niềm đau nỗi khổ trong ta, để có thể trị liệu, chuyển hóa và để đừng có trao truyền nó lại cho thế hệ tương lai. Nếu mình là một người cha hay, một người mẹ giỏi thì mình chỉ muốn trao truyền cái hay cái đẹp, cái hạnh phúc của mình thôi. Và điều đó chỉ thực hiện được khi chúng ta có sự tu tập. Nếu mình muốn là một người thầy giỏi, thì mình chỉ trao truyền những cái hay cái đẹp, cái tuệ giác, từ bi của mình thôi; còn những yếu kém và khổ đau của mình, mình phải biết ôm ấp, chuyển hóa và trị liệu trước khi mình trao truyền cho thế hệ tương lai.

Mỗi chúng ta đều có hai gia đình: gia đình huyết thống và gia đình tâm linh. Gia đình huyết thống trong đó có ông bà, cha mẹ và di sản di truyền mà chúng ta tiếp nhận là từ cha mẹ, từ ông bà tổ tiên huyết thống. Mỗi chúng ta đều có một gia đình tâm linh, tại vì mỗi người trong chúng ta đều có chiều hướng tâm linh trong cuộc sống, nếu không có nó thì cuộc sống của mình sẽ khô cằn, nghèo đói và khổ đau. 

Giả sử vua Trần Thái Tông nếu không có chiều hướng tâm linh trong đời sống thì vua không thể nào trở thành một vị vua như vua đã trở thành. Năm 20 tuổi, vua bị thái sư Trần Thủ Độ ép buộc phải bỏ người yêu là công chúa Lý Chiêu Hoàng để lấy người chị ruột của Lý Chiêu Hoàng đang có thai với An Sinh vương Trần Liễu, tại vì thái sư Trần Thủ Độ nóng lòng muốn có sự kế tiếp cho dòng dõi nhà Trần. An Sinh vương Trần Liễu rất căm thù và đã tổ chức hải quân chống lại triều đình. Triều đình nhà Trần ban đầu mặc dù Trần Cảnh tại vị nhưng quyền lực chính trị thì hoàn toàn do Trần Thủ Độ quyết định. Trong đau khổ tột cùng đó, Trần Cảnh đã bỏ ngai vàng tìm đến núi Yên Tử để muốn xuất gia với thiền sư Viên Chứng. Sau mấy ngày tìm kiếm, Trần Thủ Độ đã phát hiện ra rằng vua đang ở trên núi và ông đã đến ép vua phải trở về để làm vua. Ông dọa với thiền sư Viên Chứng rằng nếu thiền sư không khuyên được vua trở về kinh thành thì ông sẽ cho thiết lập cung điện ngay trên núi. Thiền sư Viên Chứng đã tâu với vua Trần Thái Tông rằng: Bệ hạ trong khi làm vua vẫn có thể tu tập được, vẫn có thể có được một đời sống tâm linh. Giờ đây, dân muốn bệ hạ trở về thì bệ hạ cứ trở về, và cứ làm vua, vẫn đóng vai trò chính trị của một người lãnh đạo đất nước, nhưng có một điều mà bệ hạ vẫn làm được là mỗi ngày vẫn có thể nghiên cứu và thực tập giáo lý của đức Thế Tôn. Không phải ở trong núi mới tu được, mà ở kinh thành cũng tu được. Mình là nhà chính trị, mình có thể vừa làm chính trị vừa tu. Nhớ lời khuyên ấy của quốc sư Viên Chứng, vua đã trở về kinh thành và mỗi đêm sau một ngày làm việc nặng nhọc về chính trị và quân sự thì vua đều chong đèn để học kinh và ngồi thiền.

Trần Thái Tông đã sáng tác nhiều tác phẩm, trong đó có tác phẩm Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi để vua tự thực tập bằng nghi thức của mình. “Lục thời sám hối” có nghĩa là vua đã thực tập bái sám và hành thiền sáu lần trong 24 giờ mỗi ngày. Nếu không có chiều hướng tâm linh đó thì vua không có đủ sức mạnh để hoàn tất sứ mạng của một nhà chính trị lớn như vậy. Nói một cách khác là từ hồi 20 tuổi, vua đã biết tu, đã biết đem chiều hướng tâm linh vào trong đời sống của chính mình để có đủ sức mạnh đối phó với những khó khăn dồn dập trong một nhà chính trị còn trẻ, còn thiếu kinh nghiệm, và nhờ đó chịu đựng được những đau khổ, vượt thắng được những khó khăn và trở thành một vị vua nổi tiếng thành công trong lĩnh vực dựng nước, giữ nước và giáo dục quốc dân.

Vì vậy cho nên chúng ta phải biết rằng, ngoài gia đình huyết thống, mỗi chúng ta phải có một gia đình tâm linh. Nhờ gia đình tâm linh đó, chúng ta được nuôi dưỡng trong đời sống tâm linh của mình. Chúng ta biết làm thế nào để nhận diện, ôm ấp, trị liệu và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau của ta thì ta mới có thể phục vụ được cho gia đình, phục vụ cho quốc gia, phục vụ cho xã hội một cách thành công, vững chải và hữu hiệu. Nếu chúng ta đọc lịch sử thời Lý thì chúng ta thấy được rằng tất cả những ông vua thời đó đều có tu, có thực tập Thiền. Các ông vua thời Trần cũng vậy. Các vị đó không đợi khi lớn tuổi, về hưu mới bắt đầu thực tập, họ thực tập ngay từ khi còn ấu thơ. Chẳng hạn như vua Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của đời Trần, ngay khi còn là chú tiểu đồng đã theo học Thiền với Tuệ Trung Thượng sĩ, tức Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, anh cả của tướng Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, con của An Sinh vương Trần Liễu. An Sinh vương trước lúc chết có gọi mấy người con đến dặn dò rằng phải trả thù việc Trần Thủ Độ đã cướp vợ đang có thai gán cho Trần Cảnh. Nhưng những người con của An Sinh vương Trần Liễu đã không nghe lời cha. Từ người con gái lớn là hoàng hậu Thiên Cảm cho đến An Ninh vương Trần Quốc Tung và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đều quay về phụ tá cho chính quyền nhà Trần. Họ có một ý hướng đoàn kết rất mạnh, điều đó nhờ sự thực tập đạo Phật. Sự thực tập đó đã giúp cho họ nối kết, tha thứ được những lỗi lầm, chuyển hóa được những khổ đau, giận hờn, thù hận để có thể cùng góp sức với nhau, cùng xây dựng một đất nước vững chải, có khả năng chống lại sự đe dọa của phương Bắc.

Tôi nhắc lại vài sự kiện lịch sử là để chúng ta nhớ tới sự thật là mỗi chúng ta đều phải có hai gia đình, đó là gia đình huyết thống và gia đình tâm linh. Gia đình huyết thống trao truyền cho ta bằng con đường huyết thống và gia đình tâm linh trao truyền cho mình bằng con đường văn hóa. Sự trao truyền bằng con đường văn hóa tâm linh cũng đi thẳng vào từng tế bào của cơ thể.

Tây phương bây giờ thích dùng hai danh từ đi đôi với nhau, đó là nature và nurture. Nature là tiên thiên, nurture là hậu thiên. Cha mẹ sinh ra mình với hình hài này tức là tiên thiên. Còn thầy mình trao truyền cho mình nếp sống tâm linh, đạo đức là hậu thiên. Hai đường lối trao truyền đều đi thẳng vào từng tế bào của cơ thể. Tôi không có con cái huyết thống, nhưng tôi có rất nhiều con cháu tâm linh, không có ngày nào là tôi không trao truyền những gì mà tôi cho là hay nhất, đẹp nhất của cuộc đời tôi. Vì vậy cho nên, gia đình tâm linh của tôi là một gia đình rất lớn. Bất cứ một tư duy nào, một ngôn ngữ, lời nói nào hay bất cứ một hành động nào cũng đều là phẩm vật để trao truyền. Nếu tư duy của ta đi đôi được với trí tuệ và từ bi, với sự bao dung, hòa ái thì tư duy đó là một phẩm vật trao truyền cho con cháu tâm linh. Nếu lời nói của ta đi đôi với sự hòa ái, với tình thương và sự hiểu biết, sự an ủi và khả năng gây dựng niềm hy vọng, niềm tin yêu thì lời nói đó là một phẩm vật trao truyền. Nếu hành động của mình đi đôi với ý chí bảo vệ sinh mạng, muốn cứu đời giúp người thì hành động đó là một phẩm vật trao truyền. Mỗi tư duy của tôi đều mang chữ ký của tôi. Tôi không thể nói rằng đó không phải là tư duy của tôi. Nếu tư duy đó mang tính tham, sân và si thì đó là một tư duy tiêu cực, và nếu tôi trao truyền lại cho con cháu thì thật tội nghiệp cho chúng nó. Tại vì con cháu tôi là sự tiếp nối của tôi, là tôi. Vì vậy cho nên tôi rất cẩn thận để cho tư duy của tôi luôn luôn là Chánh tư duy (right thinking). Chánh tư duy là tư duy đi đôi với sự hiểu, thương và sự bao dung. Mỗi lời nói của tôi mang theo chữ ký của tôi. Tôi không thể chối bỏ những gì tôi đã nói, tại vì câu nói đó có thể gây hoang mang, gây hận thù và tôi không muốn trao truyền một lời nói như vậy, tôi không muốn được tiếp nối bằng một lời nói như vậy. Sự tu tập giúp cho tôi chỉ trao truyền những gì đi đôi với tinh thần từ bi, trí tuệ, hiểu biết, bao dung và thương yêu. 

Những hành động của tôi cũng vậy, nó đều mang chữ ký của tôi, tôi không thể chối bỏ được. Hành động đó phải là hành động bảo vệ sự sống, xây dựng tình huynh đệ. Đó mới là những phẩm vật đáng để trao truyền, đáng được tiếp nối. Luân hồi là như vậy. Luân hồi là sự tiếp nối. Nếu chúng ta muôn luân hồi cho thật đẹp thì chúng ta phải chế tác những tư tưởng thiện (chánh tư duy), ngôn ngữ đẹp (chánh ngữ) và những hành động cao cả (chánh nghiệp). Chỉ có những người tu mới biết được là họ đang trao truyền chánh tư duy hay tà tư duy, họ đang trao truyền chánh ngữ hay tà ngữ, chánh nghiệp hay tà nghiệp… Vì vậy cho nên đời sống tâm linh, chiều hướng tâm linh là rất quan trọng trong mỗi người. Là người làm cha, làm mẹ, làm thầy giáo, cô giáo, thương gia, kỹ nghệ gia, chính trị gia, nhà văn học mình phải có chiều hướng tâm linh để mình chỉ trao truyền những gì tích cực và không trao truyền những gì có tính cách tiêu cực. Và vì mình muốn được tiếp nối một cách đẹp đẽ nên mình chỉ trao truyền những gì tích cực mà thôi.

                                                        (còn tiếp)

(Visited 183 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Thích Nhất Hạnh, Văn Hoá

Comments (1)

Trackback URL | Comments RSS Feed

  1. Minh Son says:

    Thanks you for your posting. It’s very interesting article for me to know many other thing in Vietnam Culture. Continue your writing. Waiting

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *