Nội dung tuồng tích”trong chay ngoài bội”

| 05/09/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 39 Vu Lan | HUỲNH NGỌC TRẢNG

Có thằng chồng say như trong chay ngoài bội,  Ngó vô trong nhà như hội Tần vương”.
Chẳng biết hội hè cùa vua Tần bên xứ Trung Hoa ngày xưa như thế nào, nhưng câu hát ví von trên cho phép chúng ta hình dung ra một bầu không khí tưng bừng khác thường. Điều gì đã làm huyên náo môi trường, nghi lễ trai hội trang nghiêm đó? Tại sao lại như vậy?

noi-dung-tuong-tich-trong-c

QUÁ TRÌNH KHẾ HỢP LÀM CHAY VÀ HÁT BỘI

1– Từ điển Đại Nam quốc âm tự vị (Saigon, 1859) định nghĩa “Trong chay ngoài bội” là “Cuộc bày trong ăn đồ lạt, làm việc sám hối, ngoài bày chuyện vui chơi ca hát”. (1.1.115). Ở mục từ “chay” có 2 từ: 1) “làm chay” là: Làm cuộc sám hối theo đàng Phật, có xô giàn bánh trái, đồ ăn cho người ta lượm”, và 2) “đám chay”là “cuộc làm bày chuyện sám hối, vô thí, ăn đồ lợt”. ở từ “bội” có hai từ liên quan: 1) “trò bội” là cuộc đời ca hát, đám hát, bạn hát”; và 2)”áng bội bê” là “trường ca hát” (hiểu là rạp hát, nơi diễn tuồng sân khấu).

Nói chung theo quan niệm nhà Phật, làm chay là cuộc trai hội nhằm cúng dường vật thực cho Tam bảo. Nguyên từ “trai” (chay) là thanh tịnh, tâm thân, biểu lộ tín tâm quy y Tam bảo; về sau lại dung nhập các mục dích chúc mừng, báo ân, cầu phước, thí thực ngạ quỷ, chẩn tế cô hồn..Tùy theo từng trường hợp trai hội tại tư gia, các nơi công (đình, miễu, chợ…) hay tại chùa. Ở đó, ngoài việc thực hành nghi lễ, xưa kia phổ biến còn tổ chức diễn tuồng, gọi chung là đám “làm chay hát bội”. Việc khế hợp  hát bội vào nghi lễ như vậy là do thời ấy hát bội là loại hình nghệ thuật chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống văn, xã; nó ảnh hương đến hâu hết các dạng thức diễn xướng, lễ hội, hát chầu cúng thần trong lễ kỳ yên ở đình làng, hát chặp (hát trích đoạn trong các vở tuồng) hay diễn chặp bóng- tuồng địa năng trong lễ cúng miễu hàng năm, hát các bài bản tuồng cùng với trò đưa linh trong hình thức diễn xướng tang lễ…gọi lả Hát đưa linh. Lễ hội khoa nghi Phật giáo cũng không thoát khỏi  tình cảnh chung đó, nên đã ra đời  hình thức Hát Phật.

2– Ở vùng đất mới phương Nam, cuối thế kỷ XVIII, hát bội đã phát triển ở mức độ đáng kể, đến nỗi chúa Nguyễn đã sai hầu cận về tận xứ Đồng Nai để tìm “bắt con hát” để đưa vào tận xứ Phú Xuân. Đại Nam thực lục tiền biên chép rằng: năm 1769, chúa Nguyễn “sai các châu huyện, lập phường Chơi Xuân, mỗi phường 15 người, nộp thuế một quan tiền” và năm 1790, đặt 10 bạn du xuân (bạn hát đi các làng hát thuê) lấy hai cơ Ngô Công Quý  làm cai quản. Mỗi bạn 5 người, mỗi năm nộp sưu 600 quan, thuế thân cũng coi như quân hạng”. Có lẽ lập ra các phường, bạn này là nỗ lực “quốc điểu hóa” việc hát xướng trong dân gian vốn bị nhiều bậc quan lại phê phán là quá đà  và làm hại phong hóa, tạo nên “tệ tục”…Tuy vậy, các nỗ lực này xem ra không hiệu quả nên đến thế kỷ XIX tình trạng hát xướng, diễn hí “không lúc nào thôi” vẫn còn bị các quan như Trương Quốc Dung, Doãn Uẩn, Trịnh Hoài Đức lên tiếng phàn nàn. Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức cho biết tình hình  ở Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XIX: “Tục cầu đảo được việc vui mừng đều mở cuộc hát xướng, ắt trước hết giết heo phân tốp cho những người quen biết, cho biết ngày hẹn mời đến xem hát chơi – gọi là “phiêu lễ”. Đến ngày, tùy tình hậu lạc đem tiền đến mừng lễ coi hát, ăn uống rồi về. Sau, người quen biết ấy  có mở cuộc hát xướng cũng đưa “phiêu lễ” đến tên Giáp, thì thế nào tên Giáp cũng phải đi. Như tên Ất trước khi đi mừng Giáp một quan thì nay Giáp đi trả lại cho tên Ất giá bội 2 quan; sau tên Giáp có việc mừng nữa thì Ất phải đưa lên 3 quan…Đi qua đi lại cứ gia bôi như thế  dẫn đến 100 quan đến nỗi có người phải cầm thế, vay mượn  để trả “phiêu lễ” ấy, hoặc có người nghèo  không báo đáp đủ số thì người làm “phiêu lễ” đến sách vấn, có khi sinh kiện nhau! Tục ấy đã nghiêm cấm, nay đã chấm dứt”. (3)

Nói chung dù những “tiêu cực” như vậy có bị cấm, hát bội vẫn cứ phát triển cho đến khi cải lương thịnh hành, giành lấy vị trí thống trị của hát bội cho đến những năm 1940, 1950 cải lương mới lấn át hẳn; tất nhiên trong môi trường nhi lễ, hát bội được bảo thủ lâu dài hơn. Chính trong bối cảnh thịnh đạt của hát bội ấy, đã thành tạo và phát triển hình thức lễ hội “trong chay ngoài bội”.

Đến nay chúng ta không có cứ liệu để xác định niên đại ra đời  của hình thức “trong chay ngoài bội”. Có thể hình thức này  đã ra đời từ xưa, chí ít là hời chúa Nguyễn ở Đàng Trong và được lưu dân, Tăng sĩ Thuận Quảng đưa vào Gia Định.

Tác giả Gia Định thành công chí ghi rằng: người ở Gia Định (hiểu là Nam Bộ) “hay chuộng đạo Phật” và “có tục cư tang theo đạo Phật, cúng cơm chay 49 ngày mới thôi” (4). Điều này đã chỉ ra khoa nghi nhà Phật đã trở thành  phong hóa vùng đất này. Lịch sử Phật giáo Saigon – Gia Định ghi nhận rằng: Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, sau 2 lượt tụ họp chư tăng tu học (1884) , và tuần khai kỳ truyền giới (1849), Tổ Hải Tịnh “nhận chân được tâm lý chư Tăng  và tín đồ hiện tại  ưa ứng phú hơn là đến pháp hộ nghe kinh. ứng phú là một môn hành sự  trong nhà chùa, tức môn âm nhạc riêng trong đạo, hiện tại đem dùng vào lễ cúng trong chùa và nơi có đám tang, đám làm tuần thất ở nhà tín đồ các sư đến hành lễ (ứng, chỉ lời mời; phú là đi đến, sau này có từ là đi đám). Tổ nhận xét: mời chư Tăng đến nhà để kỳ nguyện rất tiện lợi cho những tín đồ trong nhà rất ít người. Thứ hai chỉ độc một ông Tăng tụng kinh, tiếng kinh nghe khan khan, nghĩa kinh không hiểu biết thì dễ làm cho tín đồ nghiêng về ứng phú, vì ứng phú  khi hành lễ tuy cũng tụng kinh , nhưng tiếng kinh có trầm có bổng, có tiếng đẩu tang nhịp nhàng, nghe thâm u trầm lắng, gợi nhớ, gợi thương như thiết tha cầu nguyện. Ông sư nào sáng chế ra môn này, nếu khéo sắp xếp lòng đạo đức từ bi, và đạo tràng ứng phú, nhân có truyền bá đạo lý vị tha thì công đức rất có ích cho đạo, cho đời, không trường lớp nào hơn được. Nhưng cũng có thể nhà sư thường đến nhà thế gian, lần lần lân la giao thiệp, rồi nhiễm tục đời,làm mất phẩm cách của nhà sư giải thoát” (5)

Chính vì băn khoăn giữa hai đường lợi hại đó, nên mãi mấy năm sau, khi thấy hoạt động ứng phú lan tràn, chệch hướng, Tổ Hải Tịnh mới quyết định  lấy chùa Giác Viên (nay thuộc quận Tân Bình, TP.HCM) làm cơ sở chính để học tập khoa ứng phú. Từ đó, chùa Giác Viên trở thành trung tâm đào tạo và thực hành khoa ứng phú cho cả xứ Nam Kỳ – Lục tỉnh (6). Đây là giai đoạn khoa ứng phú đi vào hoạt động quy mô và quy củ. Đó cũng là lúc hát bội đang ở thời kỳ vàng son nên hình thức “trong chay ngoài bội”, việc tích hợp chay bội cũng phấn phát và cũng bắt đầu xác lập định hướng hoằng hóa Phật pháp khác với tính chất tự phát trước đó.

Kết quả kiểm tra hồi cố cho biết rằng, trước năm 1945, các trai đàn ở Nam Bộ đều có hát Phật (hiểu là tuồng tích có liên quan đến đạo Phật, gọi chung là tuồng đám). Việc biểu diễn ngoài bội  thì hoặc mời các gánh hát bội đảm nhận và càng lúc càng nhiều cuộc lễ. Các Tăng sĩ ứng phú dặm mặt, thay y trang biểu diễn. Đến năm 1952, Hoa thượng tăng trưởng Giáo hội Phật giáo Lục Hòa Tăng Việt Nam ra lệnh cấm nên việc tăng sĩ diễn tuồng không còn nữa. Hòa thượng Tăng trưởng thuộc tông môn chùa Giác Lâm (quận Tân Bình), vốn là một kinh sư ứng phú nổi tiếng; nhưng qua kinh nghiệm, Thượng tọa thấy việc người tu hành lên sân khấu tác hại đến oai nghi: “Phàm kẻ xuất gia tu hành mà vẻ mặt, vẻ mày, mang râu, mặc giáp để bước lên sân khấu làm trò cười cho thiên hạ thì tự mình làm nhẹ thể ông thầy tu, tự mình làm cho người khác  khinh khi Tam bảo”. Từ đó, hát Phật dần dần mai một và ngày nay không còn nữa. Dù là vậy, song trong danh mục các vở tuồng đồ, chúng ta còn thấy  một số tuồng tích chứa những thông điệp xiển dương đạo pháp hay khuyến thiện giới ác  theo quan điểm nhà Phật.

Chú thích:

(1)Xem Đại Nam Liệt truyện  tiền biên: Cao tự Thanh dịch và giới thiệu. NXB KHXH, 1995, tr 230-21 (Đăng Đại Độ): 108-109 (lệnh cấm ca xướng trong 100 ngày khi Hoàng tử qua đời – 1760).

(2) Đại Nam Thực lục tiền biên. Bản dịch của Viện Sử Học, NXB KHXH, H, 1962 – 1970 tập I, tr 236, tập II, tr 12.

(3) Trịnh Hoài Đức: Gia Định Thành thông chí, Bản dịch của  Tụ trai Nguyễn Tạo, S, 1972, tập hạ, tr 12.

(4) Trịnh Hoài Đức, SDD, tập hạ, tr 4-5

(5) (6) Thiền hòa tử Huệ Chí: Lược sử chùa Giác Lâm, bản thảo 1983 (buổi đầu của Phật giáo Gia Định – Saigon). Kỷ yếu Hội thảo khoa học “300 năm Phật giáo Gia Định – Saigon – TP.HCM. NXB. TP HCM, 2002, tr 58-77)

(xem tiếp kỳ sau)

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 39 Vu Lan | HUỲNH NGỌC TRẢNG

(Visited 314 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Di sản, Huỳnh Ngọc Trảng, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *