Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo 18  |  QUAN ÂM THỊ KÍNH   VÀ CÁCH NGHĨ   CỦA  NGƯỜI VIỆT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT   THÍCH HUỆ THIỆN  |"/>

Quan Âm Thị Kính

| 01/10/2012 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo 18  |  QUAN ÂM THỊ KÍNH   VÀ CÁCH NGHĨ   CỦA  NGƯỜI VIỆT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT   THÍCH HUỆ THIỆN  |

Truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính (QÂTK) là tác phẩm đặc sắc trong nền văn học dân tộc, vốn rất phổ biến và quen thuộc với mọi người Việt Nam. QÂTK không chỉ tồn tại với tư cách là một văn bản văn học, mà còn được chuyển tải thành tác phẩm của các loại hình sân khấu nghệ thuật đại chúng khác như chèo, tuồng, cải lương, kịch … Nhiều vấn đề thuộc nội dung và hình thức của tác phẩm cũng được giới nghiên cứu qian tâm khai thác kỹ. Song, người Việt đã nghĩ như thế nào về phụ nữ Việt qua truyện này thì vẫn còn ít người đề cập.

 Quan Am Thi Kinh

Truyện thơ Nôm là một loại hình văn học đặc trưng, một di sản văn hóa phi vật thể có giá trị của dân tộc. Việc trả lời được các câu hỏi “Người Việt đã nghĩ như thế nào về phụ nữ Việt” qua truyện QÂTK sẽ giúp chúng ta hình dung được nhiều điều về văn học truyền thống, đặc biệt là nếp nghĩ và cung cách tư duy mang bản sắc văn hóa dân tộc

Người Việt đã nghĩ như thế nào về người phụ nữ Việt?

Trước khi vấn đề được mở ra, điều quan trọng là chúng ta cùng tìm hiểu những thông tin chung quanh tác phẩm này, để có được một cách nhìn bao quát hơn.

QÂTK là tác phầm văn học quen thuộc thể loại truyện thơ Nôm, nên giá trị của nó, nói như nhà văn Võ Phiến: “Bỏ truyện bằng thơ ra, nền văn học ằng quốc âm của chúng ta trước đây sẽ nghèo đi quá nửa” 1. Ngoài chức năng giải trí lành mạnh thể loại này còn có vai trò nuôi dưỡng, truyền bá đạo lý, văn hóa, lưu giữ ký ức cộng đồng. Về mặt ngôn ngữ và tư duy , truyện thơ Nôm là sự kết tinh của ngôn ngữ Việt , là bằng chứng chân thực , sinh động về nếp tư duy , cách nghĩ cảm của người Việt xưa về con người , xã hội và cuộc sống . Chính vì thế , sự xuất hiện của thể loại này được xem là sự đáp ứng một khát vọng lớn , một nhu cầu cấp thiết góp phần hóa giải áp lực Hán hóa , vốn được  đặt ra một cách thường trực của người Việt . Ngày nay, truyện thơ Nôm là thể loại văn học thuộc về quá khứ. Nó là sản phẩm có lịch sử phát sinh.

Và tồn tại gắn liền với nền văn học thính giác. Mà thời của nền văn học này đã bị vượt qua bởi nền văn học thị giác, khởi đầu từ những năm 30 của thế kỷ trước. Nói cách khác một thể loại văn học đã lùi xa bởi vì một cách đọc đã thay đổi!

Truyện QÂTK từ trước vẫn được lưu hành như một tác phẩm khuyết danh. Tuy nhiên, theo Giáo sư Nguyễn Huệ Chi 2, đến nay có hai giả thuyết khác nhau về tác giả của nó. Một là Nguyễn Cấp và hai là –người cùng thời với ông – Đỗ Trọng Dư (1786-1868). Bản in sớm nhất của QÂTK hiện còn là vào năm Tự Đức 21 (1868) dài 786 câu, thể lục bát. Vở chèo cùng tên là tác phẩm mô phỏng từ truyện Nôm này.

Phần mở đầu – giới thiệu nhân vật – trình bày một cách rõ ràng về quê quán, xuất thân và tuổi tác của Thị Kính, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Đặc biệt lai lịch của Thị Kính lại được giới thiệu bằng nhãn quan tiền kiếp hậu kiếp của Phật giáo –một nét cá biệt chỉ có ở tác phẩm truyện Nôm này.

Tiền kiếp của Thị Kính là một đấng nam nhi , đã chín kiếp xuất gia tu hành từ thuở thiếu thời , vượt qua mọi cơn sóng nghịch cảnh , nhưng vẫn chưa thành Phật , và thuyền trần chưa neo được vào bến giác . Chỉ vì một niệm sai lầm: “Có chăng kiếp trước họa là. Kiếp này sợi chỉ trót đà buộc tay”mà phải bị thác sinh, trầm luân thêm một kiếp ở cõi người.

Cõi người là cõi khổ ? Nhưng kiếp đọa đày ấy không được làm lại thân trai, mà phải làm thân gái.

Phải chăng về cách nghĩ về con người của tiền nhân, người phụ nữ trong cuộc đời thường ó số phận thương tâm, nghiệt ngã?

Thân phận người phụ nữ trong quan niệm của dân gian là “ mười hai bến nước. trong con mắt của Hồ Xuân Hương là “ba chìm bảy nổi”,  trong cách thấu hiểu của Đặng Trần Côn là “hồng nhan đa truân”. Bằng trái tim đồng cảm sâu sắc, Nguyễn Du đã nhận ra thân phận lẽ mọn, hẩm hiu của họ trước nam giới : “ Chơi cho liễu chan1hoa chê. Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời”. Và qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đã than thở về cái thân phận chung, đáng thương tâm ấy của nữ giới :

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Thị Kính được sinh ra trong cuộc đới đầy oan khổ, nên oan khổ cũng bao trùm lên thân phận của nàng như bóng vớ hình. Mặc dầu cũng là một trang tuyệt sắc giai nhân đầy đủ nết na, đoan trang, trung hiếu, nhưng may mắn cuộc đời có bao giờ mĩm cười với nàng đâu. Chỉ vì thiện ý muốn cắt sợi râu mọc ngược trên cằm của chồng mà chịu hàm oan là kẻ có ý mưu sát chồng, tư tình bất chính, để rồi phải tủi thân thẹn hồng, lỡ đường gia thất. Không ai ngoài Thị Kính, là người thấu hiểu sự hẩm hiu đáng buồn trong thân phận chính mình.

Vẻ chi một đóa hồng nhan

Cành hoa nở muộn, thời tàn mà thôi.

Như vậy, không riêng gì QÂ TK, mà hầu  như các tác phẩm văn học cổ điển nước ta đều đồng vọng một tiếng nói chung, một cách nhìn nhất quán về thân phận của người phụ nữ Việt : truân chuyên, nổi chìm, hồng nhan mệnh bạc. Nói như Chu Mạnh Trinh, thi ra “ con tạo vốn thương yêu người tài sắc” là vậy !

Nỗi khổ người phụ nữ là tiêu biểu cho nỗi khổ của con người, kiếp người. Nếu truyện QÂ TK là cách diễn đạt nghệ thuật cho mệnh đề lớn đoực xác lập ngay từ hai câu mở đầu tác phẩm : “ nhân sinh thành Phật dễ đâu. Tu hành cứu khổ rồi sau mới thành”, thì chính Thị Kính là người đã diễm phúc được dân gian trao gởi sứ mệnh “ Thậm nan, hy hữu chi sự”ấy. Nữ giới có thân phận nhỏ bé hẩm hiu, nhưng cũng chính họ lại là đối tượng được dân gian “chọn mặt gởi vàng” cho khát vọng cao đẹp của mình. Nguyễn Du đã hơn một lần lên tiếng ủng hộ quan niệm này. Mặc dầu ông buồn bã nhận ra vai trò phụ thuộc vào nam giới của người phụ nữ , nhưng trong tâm tư của ông cũng không có nhiều lòng tin vào vai trò của giới mày râu trong việc san bằng những bất công của xã hội , để lập danh lập đức với đời . Vì thế, trong truyện Kiều, không có người đàn ông nào có đủ nhân cách, tài hoa như nàng Kiều. Chu Mạnh Trinh trong Tổng vịnh Truyện Kiều có lẽ nhận ra thâm ý này của Nguyễn Du khi viết : “ Tay đàn bà mà lại có có cơ quyền. Người thục nữ mà đủ đường hiếu nghĩa”.

Khi chọn nàng Thị Kính làm nhân vật trung tâm của tác phẩm, có lẽ dân gian đả nhận ra sự cao quý và vĩ đại ấy của người nơi Thị Kính : “ Tu là cội phúc, tình là dây oan” 3.

Cát ái từ thân thoát khỏi sợi dây oan khổ của thân phận làm dâu, làm vợ, tưởng đâu oan trái từ đây đã rũ sạch trước cửa Không. Thế mà khi đã được vào sống trong chốn giải thoát ấy, oan khổ vẫn như gánh nặng, như kẻ vô hình, vẫn còn chạy theo mãi. Thị Kính – Kính Tâmđã bước từ nỗi oan này (kẻ có ý giết chồng) đến nỗi oan khác  người tu hành phạm vào sắc giới). Đau khổ và tủi nhục vô cùng nhưng nàng vẫn đủ sức, âm thầm vượt qua tất cả.

Tư duy của người Việt trong tác phẩm cũng như trong cuộc đời, phụ nữ được mến phục không phải vì họ đẹp đến độ nghiêng nước đổ thành hay bởi vì họ tuân phục đạo “tam tòng”, mà họ được mến phục bởi sự sắc sảo, thông minh, có tấm lòng bao dung, đức hy sinh, nhẫn nhục trước nhiều nghịch cảnh của cuộc đời.

Thị Kính – Kính Tâm là đại diện tiêu biểu cho lòng bao dung, đức từ bi và hạnh nhẫn nhục rộng lớn của người phụ nữ.

Nỗi oan Thị Kính” đã trở thành một thành ngữ trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người Việt, sự nhẫn nhục chịu oan của Thị Kính có thể được xem là thái độ phản kháng thụ động, tiêu cực. Thậm chí, việc Thị Kính vì quá khổ đau trong đường tình, chán đời oan khổ nên vào chùa đã tạo nên sự hiểu nhầm về động cơ và lý tưởng xuất gia của giới tu sĩ Phật giáo. Người xưa xây dựng tác phẩm này đã có cách riêng, nên đã mưu toan giết chồng. Dẫu sự thực không phải như thế, và Thị Kính cũng d9ar4 ra sức bày tỏ, biện minh cho sự trong sạch thảo ngay của mình, nhưng cũng không thay đổi được định kiến củ cha mẹ chồng. Nhưng với nỗi oan thứ haiThị Kính vốn là gái giả trai để tu hành lại bị cho là vi phạm sắc giới với Thị Mầu thì thật là trớ trêu. Thực ra nỗi oan này nặng hơn nỗi oan trước, nhưng muốn thanh minh thì bằng chứng cũng rất dễ dàng. Điều kỳ lạ là Kính Tâm chỉ lặng lẽ nhẫn nhục mà không hề có một lời minh oan nào. Những dụng ý thâm trong nghệ thuật và tư tường của người xưa vẫn chưa được giải mã. Vậy ý nghĩa của chữ Nhẫn như chính tác phẩm đã nói : chữ nhẫn nhục nhiệm hòa vẫn chưa được đánh giá hết ý nghĩa của nó. Là người xuất gia, nhưng Kính Tâm cũng là một phụ nữ. Và chính là người phụ nữ mà hơn ai hết Kính Tâm hiểu được những hạn chế, những ích kỷ nhỏ hẹp trong tâm hồn những người cùng giới. Trước kia là mẹ chồng : “ Sông sâu có kẻ dò. Lòng người ai dễ mà đo cho cùng” (QÂTK), và bây giờ Thị Mầu. Cuộc sống và tình cảm của Thị Mầu có những uẩn khúc riêng. Việc “không chồng mà có chửa” của Thị Mầu (của người phụ nữ nói chung) đối với đạo đức nghiệt ngã của xã hội thuở ấy là một tội trạng lớn. Hình phạt có thể là gọt tóc, bôi vôi, rồi thả bè trôi sông. Vì vậy chúng ta có thể hiểu thêm, việc Thị Mầu đổ tội cho Kính Tâm, không đơn thuần chỉ là hành động vu oan giá họa co kẻ tu hành mà đó thật ra còn là sự kêu cứu lòng từ cứu khổ nơi cửa Phật. Và đây là điều cao cả chỉ có ở Kính Tâm : là một người xuất gia lại vốn là nữ giới, sự kết tinh của từ bi , trí tuệ và tư chất từ hai con người ấy là lý do để Kính Tâm sẵn sàng chịu oan để Thị Mầu bớt khổ . Nhẫn ở đây là nhẫn  nhục nhiệm hòa, là nhẫn điều khó nhẫn, là hy sinh chính mình, chịu oan chịu khổ thay người khi cuộc đới đang còn tràn dâng bất công nghiệt ngã.

Việc Thị Mầu đem con bỏ trước cổng chùa là sự gửi gấm đúng địa chỉ. Tính hợp lý ở đây không đơn giản chỉ vì Thị Mầu thấy Kính Tâm mặc nhiên chịu oan nhận tội mà quan trọng hơn là Thị Mầu đã nhận ra được đức từ bi quảng đại ở bậc chân tu này .

Con ai đem bỏ chùa này

Nam mô Di Phật, con thầy thầy nuôi.

Đó là lời hát ru con. Trong truyện QÂ TK, dân gian có cách nói khác :

Dù xây chín bậc phù đồ

Chẳng bằng làm phúc cứu cho mộ người.

Tổng số của lòng bi và tư chất làm mẹ là kết quả đủ để lý giải động cơ của hành động Kính Tâm, một lần nữa sẵn sàng nhận nuôi dưỡng đứa bé tội nghiệp ấy trước sự mỉa mai của miệng thế. Điều mà chính sư phụ của Kính Tâm cũng không thể hiểu nổi. Sự nhẫn nhục tùy duyên ấy chính là đức cứu khổ độ snh của một đơn vị Bồ tát. Kính Tâm được siêu thăng làm Phật cũng chính là sự thuần thục trong đại hạnh này.

Kiểu kết thúc truyện QÂTK cũng là kiểu kết thúc có hậu mang tính truyền thống của các tác phẩm tự sự Việt Nam. Ở đó, một lần nữa dân gian tôn vinh công hạnh tu hành của Thị Kính –Kính Tâm : oan khiên được gội sạch, hiếu đạo được vuông tròn bằng sự viên mãn công hạnh tu tập của chính mình và sự hóa độ cha mẹ cùng siêu thăng Phật quốc. Người phụ nữ Việt Nam cùn một lần nữa được khẳng định vị trí xứng đáng của họ trong cuộc sống : Người phụ nữ Việt có vai trò quan trọng bởi vì họ là Đấng mang thiên chức che chở , bao bọc ( Mẹ) ,thương yêu , nuôi nấng ( Bu , gần với bú mớm) đem lại sự sống ( Đẻ) , và nhất là họ mang tính chất phổ quát to lớn ( Cái ) . Quan Âm Thị Kính chính là sự kết tinh những nét đẹp tinh túy ấy cùa người phụ nữ Việt.

Nếu người Việt có câu như : “ Nhất vợ nhì trời”, “ Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi” để thể hiện sự đề cao vai trò của phụ nữ, thì lại có những câu mang sắc thái khác hẳn như : “ Đàn ông nông nổi giếng khơi. Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”, “ Một trăm ông chú không lo. Lo về một nỗi mụ o nỏ mồm”. Hay những câu như : “ Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “ Phu xướng phụ tùy”. Đó không phải là sản phẩm của cách tư duy của người Việt về phụ nữ sao ?

Nhưng có điều cần phân biệt, trong khi những câu ca dao tục ngữ của người Việt là cách châm biếm những hạn chế của phụ nữ, thì chính những câu dưới chính là định kiến “trọng nam khinh nữ” , một sản phẩm của quá trình Hán hóa .

Từ trong tâm thức, người Việt luôn dành không gian tôn trọng và đề cao vai trò người phụ nữ trong xã hội và cuộc sống. Truyện Nôm Quan Âm Thị Kính đã kế thừa và phát huy được rất nhiều những di sản văn hóa dân tộc. Qua đó, người Việt đã bảo lưu thành công, ký thác một cách chân thực, trọng vẹn cách nghĩ cảm về thế giới và con người.  Đồng thời khẳng định chính tâm thức mới là yêu tố làm nên bản sắc văn hóa Việt

 Chú Thích

(1)  Võ Phiến, Cái chết của một văn loại, nguyệt san Tân Văn, số tháng 3, tháng 7 -1968  tr 88

(2)  Xem mục Quan Âm  tân truyện, tác giả Nguyễn Huệ Chi, Từ diển Văn học (bộ mới), NXB  Thế Giới, Hà Nội, 2004, tr .1473.

(3)  Nguyễn Du: Truyện Kiều.

(Visited 510 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Thích Huệ Thiện, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *