Tâm sự của Chu Văn An qua bài thơ Xuân Đán

| 25/02/2016 | 0 Comments

NGUYỄN PHÚC VĨNH BA■

Tam-su-Xuan-Dan

Xuân đán

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhànXuanDan
Trúc phi tà ủng họ khinh hàn
Bích mê vân sắc thiên như túy
Hồng thấp hoa sao lộ vị can

Thân dữ cô vân trường luyến tụ (1)
Tâm đồng cổ tĩnh bất sinh lan
Bách huân bán lãnh trà yên yết
Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn

Buổi sáng mùa xuân

Núi xa, nhà quạnh, suốt ngày nhàn
Se lạnh, gài nghiêng cửa trúc hoang
Xanh biếc màu mây, trời lúy túy
Hồng hoen hoa nụ, móc chưa tan

Lòng như giếng cổ không xao sóng
Thân với mây đơn mãi nhớ ngàn
Hương bách dịu dần, trà thôi khói
Chim khe một tiếng mộng xuân tàn.

Nguyễn Phúc Vĩnh Ba dịch

 

Chu Văn An tên chữ là Linh Triệt, hiệu là Tiêu Ẩn (Người ẩn sĩ làm nghề đốn củi). Ông sinh năm nào không rõ, chỉ biết sinh quán là làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội).

Sau khi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ), Chu Văn An không ra làm quan mà mở Cung Hoàng học hiệu để dạy học. Môn đồ của ông rất đông, trong đó có những người hiển đạt như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát…Đến đời Trần Minh Tông (1314-1369) nhất là sau khi Thượng hoàng Minh Tông mất (1358), Dụ Tông say mê tửu sắc, gian thần lộng quyền, ông dâng Thất trảm sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần . Vua không nghe, ông liền cởi mũ áo từ quan.

Ông để lại một số thơ văn không nhiều, đa số bị thất lạc hoặc bị quân Minh thu thập đem về Kim Lăng (Trung Hoa). Đáng tiếc nhất là bộ Tứ Thư Thuyết Ước (Giảng giải các điểm chính yếu của các sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử) nay không còn nữa.

Với bài thơ Xuân Đán, ta có thể đoán được Tiều Ẩn tiên sinh đã làm vào thời kỳ đã về ở ẩn qua tâm sự ông gởi gấm trong lời thơ.

Mở đầu bài thơ, Chu Văn An đã phác tả cảnh sống thanh bạch của mình. “Nhà quạnh núi xa”chính là ngôi nhà tranh cửa trúc nhỏ bé nơi cụ ở ẩn tại núi Chí Linh với sông Thanh Lương uốn khúc trước nhà. Chí Linh nơi có núi Côn Sơn, ngọn Phượng Hoàng, sông Thanh Lương, ao Miết Trì… là một vùng sơn thủy hữu tình và cũng là nơi sau này Nguyễn Ức Trai về trí sĩ. Ông sống giản dị và bình thảnh như chưa hề trải qua những bước thăng trầm của phù thế. Ông chọn cuộc sống ẩn dật để di dưỡng tâm thần, để thoát khỏi hệ lụy của trò chen đua sát phạt vô bổ của chốn quan quyền, để nêu cao khí tiết của bậc chính nhân quân tử..

Đó chính là những yếu tố tích cực trong việc hưởng nhàn của Tiều Ẩn tiên sinh. Ở đây trong cảnh núi rừng hoang lặng, con người và thiên nhiên đồng một cung bậc, cùng chia sẻ những thinh sắc mà đất trời ban tặng để tận hưởng một cuộc sống thư thái an nhàn hòa hợp:

Núi xa nhà quạnh suốt ngày nhàn
Se lạnh gài nghiêng cửa trúc hoang

Khi Chu Văn An nói về thiên nhiên như thế, ta càng cảm nhận thấy sự hòa đồng đó là cốt tủy của một quan niệm sống cao cả, một thái độ lạc quan yêu đời. Vâng, “gài nghiêng cửa trúc”có nghĩa là vẫn ôm ấp cái lạnh se se của trời đất như là một ơn huệ của kiếp người. Ông không cho rằng với một thời thế nhiễu nhương như thế, kẻ sĩ không còn cách gì để cống hiến cho đời, đành phải khổ đau mà ôm hận. Thái độ của ông vẫn là ung dung từ tốn của một con người đã đạt đạo, đã thấy được cái lẽ thăng trầm của một triều đại buộc phải xảy ra như một đương nhiên.

Khác với Khuất Nguyên, cũng can vua không nghe, chỉ thấy được mình tỉnh trong khi thiên hạ đều say nên vội gieo mình xuống sông Trường Giang. Chết như thế chỉ được cho một mình Khuất Nguyên, còn Khuất Nguyên sống thì tài năng ông sẽ giúp ích cho muôn người. Với Tiều Ẩn tiên sinh, về ở ẩn không là một sự thất bại. Trước đây, khi đã đỗ Thái học sinh, thay vì tìm một chức quan. Chu tiên sinh đã ở nhà dạy học. Đỗ đạt mà lại không làm quan, quả trong lịch sử ông là người có một không hai. Ông đã để lại cho chúng ta một gương mẫu khó mà theo kịp.

Đây là một điểm mấu chốt và khác người mà ta cần chú ý để hiểu thấu một cách nhất quán tư tưởng của Chu Văn An. Trong quan niệm của ông, làm quan không phải là con đường duy nhất dành cho kẻ sĩ. Kẻ sĩ ở tư thế nào cũng chỉ là để “Cầm chính đạo để tịch tà cự bí”. Không thỏa hiệp với cái xấu, cái ác và giữ được giềng mối đạo lý nơi mình sinh sống chính là thiên chức của kẻ sĩ. Vậy làm quan mà không thực hiện được thiên chức của mình thì chỉ rước sỉ nhục vào thân mà thôi. Ta cũng từng thấy biết bao người tài cao học rộng vẫn không giữ nổi cái khí tiết của kẻ sĩ mà đành quỳ gối dưới sức mạnh của kim tiền. Quả thế là không đáng tiếc lắm ru?

Vì vậy, ẩn dật chính là môi trường sống lý tưởng đối với ông. Thiên nhiên đơn sơ và đạm bạc là một vẻ đẹp của Đạo, mãi là người đồng hành muôn đời của người quân tử:

      Xanh biếc màu mây, trời lúy túy
Hồng hoen hoa nụ, móc chưa tan

(Trời sanh say lúy túy, tứ thơ này phải chăng đã gợi ý cho Yên Đổ tiên sinh khi viết bài Thu ẩm: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?)

Cảm nhận thiên nhiên được như thế là biểu thị của một tâm hồn đạt đạo. Chẳng thấy người xưa và chẳng thấy cả kẻ sắp tới mà buồn khóc (Trần Tử Ngang) là vẫn còn vướng trong vòng tục lụy. Sông rộng núi cao không là bè bạn của ta sao? Linh Sơn hay Thanh Lương giang đều hiển hiện trước mắt ông như những người bạn thân tình cùng san sẻ niềm tâm sự. Trong Thanh Lương giang, ông viết:

Độc lập Thanh Lương giang thượng vọngTuong-Chu-Van-An
Hàn phong táp táp nộn triều sinh

(Một mình đứng trên bờ sông Thanh Lương ngắm cảnh triều lên ngồn ngộn giữa những cơn gió lạnh thổi tơi bời)

Hay trong Linh Sơn tạp hứng, ông viết:

Thúy la kính lí vô nhân đáo
Sơn thước để yên thời nhất thanh

(Không ai đến trên lối mòn cỏ biếc mà chỉ thỉnh thoảng nghe có tiếng chim thước núi kêu trong sương mù)

Trong thơ ông có sự cô độc nhưng vắng bặt hẳn sự luôn tiếc thở than. Nói như Nietzsche-triết gia Đức- sự cô độc trên băng sơn chính là nguồn sống của triết nhân thì chính là đây. Đọc thơ Chu Văn An, ta cảm thấy hơi thở của cuộc sống còn mãnh liệt hơn, hùng dũng hơn ở những con người quỵ lụy dưới mũ ô sa áo giới lân, những người đã chết rồi mà cứ tưởng rằng mình đang sống.

Ông quan niệm rằng ở ẩn để giữ được tiết giá của bậc chính nhân quân tử, sống ngay thẳng để tịch tà cự bí nơi thôn ổ cũng có hiệu lực như “trong lăng miếu ra tài lương đống”. Vì thế, cái tâm của Tiều Ẩn tiên sinh trước sau vẫn như nhất:

Lòng như giếng cổ không xao sóng
Thân với mây đơn mãi nhớ ngàn
.

Đây là những câu thơ giàu ý nghĩa và nhiều hình ảnh gợi tả của ông. Núi ngàn tượng trưng cho đạo lý hay lẽ phải muôn đời mà một sĩ phu yêu nước không thể nào ly khai. Mây luôn luôn nhớ về hốc núi. Chạy trốn như Khuất Nguyên là chỉ thấy một chiều. Sau khi cáo hưu, ở ẩn nhưng “ mỗi lần có hội hè quan trọng, Chu Văn An lại đến Ngọ Môn bái yết, như để gián tiếp nhắc nhở nhà vua nghĩ tới những điều lễ nghĩa”(4). Quả là một phong cách sống đáng khâm phục.

Vậy ta thấy Chu Văn An nhàn thân nhưng không nhàn tâm. Ông xa rời xã hội quan quyền không chỉ để lo cho sự yên ổn của bản thân mà luôn canh cánh bên lòng nỗi niềm ưu dân ái quốc. Giếng cổ không xao sóng lại là một từ rất mới trong thi ca đương thời. Dùng hình ảnh này để nói lên cái tâm như nhất đầy ắp chính khí của kẻ sĩ hết lòng phù dân giúp nước quả thật là rất hàm súc. Giếng cổ luôn dâng hiến dòng nước tươi mát, không hề pha lẫn với các dòng đời ô tạp rác rưởi khác, luôn ơn ích cho muôn người đang khát khao đạo lý và kiến giải.

Khi làm quan, Chu Văn An đã có những đóng góp rất lớn lao khi cùng các đại thần như Phạm Ngũ Lão, Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đỉnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn…dựng nên một triều đình văn an võ trị. Rồi cáo hưu trí sĩ, nhìn về quãng đời vàng son danh vọng cũ, Chu Văn An không hề có chút tiếc nuối. Ông không bị cuộc sống quan trường làm biến chất, bị bả phù hoa làm mê muội. Ấy chính là nhờ nội lực thâm hậu của một Nho gia chân chính. Ông thấy được sự vận hành của Đạo và tuân theo lẽ tự nhiên mà đến mà đi, mà sinh thành trụ hoại:

Hương bách dịu dần, trà hết khói
Chim khe một tiếng mộng xuân tàn

Mộng xuân qua đi sau một tiếng chim kêu hay “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”như Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này đã viết. Người đọc thơ ông hẳn cảm thấy vô vàn bình yên trong cõi đời phức tạp rối rắm này. Đâu đây như ai nhắc ta những tố chất của một bậc trượng phu quân tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. (Giàu sang không thể làm say đắm, nghèo khó không thể làm đổi đời, cường quyền không thể làm khuất phục). Nhân cách của bậc thầy Nho gia này đã khiến chúng ta tâm phục khẩu phục một cách dễ dàng vậy.

Người đi học ngày nay, hay kẻ sĩ ngày xưa, đều mang một ước vọng như nhau. Đó là “Trước là sĩ, sau là khanh tướng”như Uy Viễn tướng công đã từng bày tỏ trong bài hát nói Chí nam nhi. Học để thành quan chức phục vụ nước nhà, ôi cái tâm nguyện cao cả muôn đời của người đi học. Thế nhưng, có phải ai tài cao học rộng đều có thể trở thành khanh tướng để có cơ hội cống hiến cho dân cho nước. Vì thế, một khi lâm vào cái thế đó, các nhà Nho xưa đã có một con đường an thân rất hợp tình hợp lý: “Tiến vi quan, thoái vi sư” (Tiến lên thì làm quan, còn lui về thì làm thầy dạy học). Dạy học cũng là một cách phục vụ nước nhà một cách hữu ích.

Tiều Ẩn Chu Văn An hay nhân dân trân trọng ông còn gọi là An Nam học tổ là một người đã thức hiện triết lý sống đó một cách tuyệt vời khiến bây giờ chúng ta còn nghiêng mình ngưỡng mộ.

Sử gia Ngô Sĩ Liên đã nhận định về ông: “Thờ quân vương dám phạm long nhan mà không nịnh, xử quần thần lấy đạo liêm chính mà không tà. Gây dựng nhân tài thì có cả công khanh là học trò, cao thượng phong tiết thì thiên tử chẳng hề khinh như bọn bầy tôi. Thể mạo chững chạc, đạo thầy đáng tôn, thanh khí oai nghiêm khiến bọn nịnh thần khiếp sợ. Kẻ ngàn năm sau, khi nghe tiếng, dẫu người ngoan ngu cũng thành liêm chính, kẻ ươn hèn cũng muốn lập công” (5). Hẳn không ai còn có thể ca tụng tài đức của Chu tiên sinh hơn thế.

Chu Văn An sống trải bốn triều: Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông và Nghệ Tông. Khi ông mất, Nghệ Tông ban cho ông tên thụy là Văn Trinh công và tên hiệu là Khang Tiết tiên sinh, cho cùng thờ ở Văn Miếu, ngang hành với các bậc tiên nho. Văn Trinh công hay Khang Tiết tiên sinh là những danh hiệu rất xứng ý với cuộc đời ông.■

 

Chú thích:

  1. Tụ: Hốc núi đá
  2. Đây là một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của việc giáo dục trong xã hội, ngoài Thư viện Lạn Kha do triều đình dựng với Trần Hoạch làm sư trưởng ở núi Phật Tích còn có 3 học hiệu lớn: Trần Ích Tắc học hiệu, Thiên Trường phủ học hiệu và Cung Hoàng học hiệu của Chu Văn An.
  3. Theo ghi chú trong Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú.
  4. Theo Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân, Nam Chi Tùng thư, Saigòn, 1972, trang 8
  5. Theo Lãng Nhân, sđd trên, trang 11.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 98-99 Xuân

(Visited 416 times, 2 visits today)

Tags: , , ,

Category: Nguyễn Phúc Vĩnh ba, Thơ, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *