Thăm chùa Mỹ trên đất Mỹ

| 11/07/2014 | 0 Comments

CAO HUY HÓA

tham-chua-my

Trong chuyến đi Mỹ vào Xuân 2008, tôi có dịp đến nhiều ngôi chùa. Chùa của người gốc châu Á thì nhiều lắm, trong đó dĩ nhiên có không ít chùa Việt Nam. Tôi đã gặp lại hình ảnh quen thuộc ở quê nhà khi thăm chùa Việt Nam ở Orange County và San Jose. Tôi đã chiêm ngưỡng ngôi chùa Tàu His Lai Temple (Tây Lai tự) hoành tráng, rực rỡ chiếm cả một ngọn đồi của Los Angeles, và đã đắm mình trong ngôi chánh điện rộng mênh mông với vạn tượng Phật của City of Ten Thousand Buddhas (Vạn Phật Thánh Thành), cũng như dạo chơi trong khu vườn đầy tượng, cờ phướn và những ký tự bí ẩn của chùa Tây Tạng. Nói chung, chùa của cư dân gốc dân tộc nào thì đại đa số Phật tử tu tập và khách đến thăm đều thuộc dân tộc đó, chỉ trừ chùa Tây Tạng và chùa Nhật Bản có tính quốc tế hơn. Thật là thích thú khi biết thêm sắc thái của Phật giáo ở một cường quốc mà truyền thống tôn giáo là Thiên Chúa giáo và Tin Lành, tuy nhiên, tôi muốn biết thêm: Có ngôi chùa nào của nguòi Mỹ, với Tăng chúng là người Mỹ, Phật tử là người Mỹ chính gốc?tham-chua--Tay-lai

Tôi đã đến được ngôi chùa như vậy, trong một cuộc lữ hành đến một địa danh du lịch nổi tiếng, một nơi trượt tuyết lý tưởng. Núi tuyết và thành phố Mount Shasta. Tuyết thì có gì lạ trong ngôn ngữ, trong văn chương, trong cách đặt tên con gái? Thế nhưng cả một đời, lần đầu tiên tôi thấy tuyết sờ sờ trước mắt, đi trên tuyết, ném tuyết, khi xe đến lưng chừng ngọn núi Shasta, và khi lên đến đỉnh núi thì một cảm giác vô cùng thích thú choáng ngợp trong cái lạnh 20C, trong nắng vàng nhẹ với bầu trời xanh, tôi đứng giữa tuyết mênh mông, với những rặng tùng ngút ngàn. Bên cạnh tôi là bảng ghi : Where Heaven and Earth meet (Nơi Trời và Đất gặp nhau). Phải chăng nơi đây với độ cao 3.000m, lòng người thanh thản, không khí trong lành, tuyết trắng trên đất và mây trắng trên trời gần nhau, thì trời đất giao hòa? Phải chăng có một vị thần đã giáng thế trên đỉnh núi này như một truyền thuyết do những người Mỹ bản địa lưu truyền?

Trên đường về, ở lưng chừng núi, với độ cao hơn 1.300m, chúng tôi vào một thiền viện có tên Shasta Abbey Buddhist Monastery, sau khi đã có cuộc hẹn từ ngày trước (Để giữ tĩnh lặng cho sinh hoạt thiền viện, khách đến thăm phải liên lạc trước bằng điện thoại, và thiền viện hẹn giờ tiếp). quá lạ! Không thầy chùa mà chỉ thấy cái cổng rộng đơn sơ bằng lưới B40. Nhìn kỹ mới thấy tên thiền viện và một chiếc điện thoại, thì ra phải gọi cửa bằng điện thoại mới có người ra đón. Đó là vị Tăng người Mỹ cao, to, phúc hậu. Thiền viện nằm sâu bên trong, và thật ấn tượng khi vừa vào thì thấy xa xa đỉnh núi tuyết Mount Shasta trắng lấp lánh trong nắng chiều. Ngôi nhà cũ kỹ nguyên thủy được xây dựng bằng đá vốn là một khách sạn nhỏ, sau này cơ sở mới được thêm những dãy nhà theo các hướng khác nhau, nối liền với nhau bởi các hành lang dài, nằm dưới các hàng cây.thien-vien-shata-abbey

Vị tăng người Mỹ tiếp chúng tôi rất niềm nỡ, thầy cho biết thiền viện là nơi tu tập của quý Tăng Ni (hiện tại là 23 vị) và cũng là nơi mở các khóa tu ngắn ngày cho Phật tử. Thiền viện không định mức thu phí cho mỗi người dự khóa tu như một số thiền viện khác trên đất Mỹ. Điều này rất giống chùa phương Đông: Thiền viện nhận từ sự cúng dường: thực phẩm, quần áo, thuốc men, nơi trú ẩn. Trong kinh kệ, như là một cách tán tụng, các Tăng Ni đã phổ nhạc cho lời kinh (như kinh Bát-nhã). Chúng tôi được hướng dẫn đi thăm thiền viện. Trên đường đi, lẻ tẻ từng áo nâu xuất hiện, chắp tay, nụ cười nhẹ, hoan hỷ. Cơ ngơi của thiền viện khép kín cho nhu cầu hành đạo và sinh hoạt, kể cả xưởng in, làm sách, làm băng đĩa, cơ sở may y hậu. “Hôm nay, trời nhẹ lên cao…”, không gian thinh lặng, đâu đó vọng lại một tiếng chim vỗ cánh. Thật là thanh khiết và an lạc. Vừa nhìn bao quát cảnh thiền viện vừa theo hướng dẫn của thầy, chúng tôi đến chánh điện ở cuối hành lang.

Chánh điện thật là đơn giản, khác xa với mọi ngôi chùa bình thường. Thế nhưng… cửa vừa mở thì hào quang bừng sáng: Đức Bổn sư Thích Ca! Chúng tôi trở về với con người Phật tử như ở quê nhà, cung kính quỳ lạy, sau đó mãi mê ngắm tượng. Điện thờ chỉ có duy nhất tượng Đức Phật Thích Ca và chánh điện hay thiền đường cũng chỉ là một. Hai bên điện thờ là 2 tranh lớn trên tường: Quán Thế Âm Bồ-tát và Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát. Trước tượng Phật là một hộp rất đẹp, đặt trên giá nghiêng, tượng trưng cho kinh Bát-nhã. Tôi hỏi thầy về bát hương, thì được biết nơi đây không có, vì nếu thắp hương trong khi hành lễ, khói không thoát ra khỏi phòng kín, sẽ gây cảm giác khó chịu; thay vào đó là một lò nhỏ, chỉ cần bỏ vào một ít chất liệu như trầm hương là đủ cho buổi lễ. Trên tường có tranh vẽ liên quan sự tích Đức Phật, nét không mềm mại cho lắm. Tôi thích thú nhận thấy bàn thờ bài vị vừa quen thuộc, vùa khác lạ: Mỗi bài vị là một tấm thẻ gỗ xinh xắn có đế, ghi tên hương linh. Rời chánh điện, chúng tôi đi viếng lăng của Thiền sư, Tổ của thiền viện. Rất bất ngờ, vị Tổ là một Ni sư người Anh: Reverend Master Jiyu Kennett.

Bà là Phật tử từ rất sớm, theo Phật giáo Theravada. Sau đó, do sự giới thiệu của D.T. Suzuki, bà đến với thiền phái Rinzai Zen, gia nhập London Buddhist Society (Hội Phật giáo London). Bà theo học tại Trinity College of Music (London) và Durham University, rồi hành nghề như một nhạc sĩ chuyên nghiệp trước khi có duyên gặp được vị thầy tại Nhật quyết định tương lai của mình, Đại sư Koho Zenji, và được thầy dạy và truyền thừa tại Nhật năm 1963. Năm 1969, với lời nguyện của thầy, Ni sư trở lại phương Tây với sứ mạng dạy và hướng dẫn Phật tử tu thiền theo truyến thống Serene Reflection Meditation. Ni sư đã tạo dựng thiền viện Shasta Abbey vào năm 1970 và phát triển hệ thống thiền viên tại Mỹ, Anh, Canada, Đức, Hà Lan. Bà đã viết nhiều tác phẩm, trong đó cuốn nhật ký nhan đề The Wild, White Goose, nói về cuộc đời tu tập trì chí và khổ hạnh tại Nhật, đước Tăng Ni chúng thiền viện tôn quý. Trong lời dẫn nhập, bà đã mượn lời thơ sau đây để nói về mình:

Flying clouds in a flying skythap-ni-su-Jiyu-Kennett2

I listen anh hear the wild goose sky;

Peaceful ever but it’s no use

 For I am sister to the wild, white goose

 

 My heart knows what the wild goose knows

For my heart goes where the wild goose goes;

Wild goose, sister goose, which is best,

 The flying sky or a heart at rest?

Tạm dịch:

Những đám mây bay trong bầu trời bay

Tôi lắng tai nghe để tiếng ngỗng trời

Buổi chiều thanh bình nhưng náo có ý nghĩa gì

Bởi vì tôi là chị em với ngỗng trời trắng kia

 

Tâm tôi biết những gì ngỗng trời biết

Bởi vì tâm tôi đến nơi ngỗng trời đến;

Hỡi ngỗng trời, em tôi, cái gì tốt nhất

Bầu trời bay hay tâm tĩnh lặng?

Ni sư viên tịch vào tháng 11 năm 1996. Lăng nằm trong khu vườn thiền viện, màu đá trắng tinh, kiến trúc đơn giản, đường nét thẳng mà thanh thoát, hình khối 4 mặt, mỗi mặt ghi lại lời của Ni sư, rất thi vị, rất thiền.

Chia tay vị thầy hướng dẫn, tôi vẫn còn muốn hiểu thêm một người Mỹ trong xã hội Mỹ, sao lại đi tu đạo Phật tại chốn sơn lâm quạnh quẽ này, thì được thầy chia sẻ ngắn gọn: “Tôi đã tu tại gia vào năm 15 tuổi và đã xuất gia từ 17 năm rồi. Vì sao tôi xuất gia? Vì xuất gia theo Phật là con đường có ý nghĩa nhất cho cuộc đời tôi”.

thap-ni-su-Jiyu-KennettTạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 59 | CAO HUY HÓA

(Visited 283 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Cao Huy Hoá, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *