Thằng Bờm trong tâm thức dân quê Việt Nam

| 07/01/2016 | 0 Comments

Võ Văn Lân ++

thang-bom

Gần đây, nhiều người nhắc đến kỷ niệm ‘Quốc văn giáo khoa thư’ và tìm cách giải mã ‘điều gì đó’ ẩn tàng sau các câu chữ trong những bài ca dao mộc mạc mà bọn học trò chúng tôi thời đó hầu hết đều thuộc lòng, nếu không thuộc trọn cả bài thì cũng nhớ được vài câu, đến nay đã bốn năm chục năm qua, mà mỗi khi nghe nhắc lại vẫn còn nhớ ngay. Trong vài viết này, tôi xin chia sẻ một số nhận thức chủ quan khi cố gắng tìm hiểu ý nghĩa cuộc trao đổi giữa phú ông và thằng Bờm được thể hiện qua ca dao.

Khi được tiếp cận với giáo lý uyên áo, thâm diệu của đạo Phật, tôi mới giật mình hiểu rằng những câu chuyện bình thường, những hình ảnh đơn sơ, gần gũi thể hiện trong ca dao hay tục ngữ thường khi lại có khả năng chuyển tải những triết lý cao siêu, những bài học thâm thúy, minh triết trong cuộc sống của ông bà ta. Vậy, đằng sau hình ảnh của thằng Bờm trong ca dao là điều gì? Bài ca dao thì quá mộc mạc, có lẽ ai cũng nhớ:

Thằng Bờm có cái quạt mo.

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu.

Phú ông xin đổi ao sâu cá mè,

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè.

Phú ông xin đổi một bè gỗ lim,

Bòm rằng Bờm chẳng lấy lim.

Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi.

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi.

Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười!

Một vài dị bản có những khác biệt về ‘một xâu cá mè’, ‘ba bè gỗ lim’, hay ‘con chim đồi mồi’, nói chung không ảnh hưởng gì đến việc tìm hiểu ý nghĩa của bài ca dao.

Chữ ‘bờm’ đã từng có lúc gợi cho chúng ta hình ảnh cái chỏm tóc của một đứa trẻ trong khoảng từ hai ba tuổi có khi đến khoảng bảy tám tuổi, nhưng không biết đích xác xuất phát từ đâu và có từ bao giờ mà ‘bờm’ lại được sử dụng như một tính từ, một thuật ngữ phổ biến trong dân gian, có mặt cả trong văn học. Tra cứu trong Tự điển Tiếng Việt (Hà Nội – 1967) thì bờm được định nghĩa là người ngốc nghếch nhưng thực tế. Trong Tự điển Việt Pháp phổ thông (Sài Gòn – 1950), bờm được dịch ra tiếng Pháp là garcon stupide (thằng ngốc). Hai quyển tự điển gặp nhau ở chỗ gán cho thằng Bờm ý nghĩa con người ngốc nghếch, tuy có điểm khác là Tự điển Tiếng Việt thêm một ý ‘thực tế’. Tuy thế cả hai định nghĩa đều không nói lên hết đặc trưng của từ ‘bờm’. Một thời ‘bờm’ được sử dụng như ‘cái mốt’ trên báo đài, trong đời sống hằng ngày để trỏ hạng người quê mùa, khờ khạo, dại dột. Mượn hình ảnh Bờm để bông đùa, giễu cợt hay chọc quê! Thấy ai đó có lời nói, cử chỉ, thái độ có vẻ khác đời một chút, kẻ sính dùng ngôn ngữ hình tượng với ý trêu chọc không ngần ngại hạ ngay “bờm!”. Thật oan cho ‘Bờm’!

Theo thời gian, bài ca dao trên được hiểu theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách hiểu cũng có thể chứa đựng một giá trị nào đó. Tuy nhiên, hiểu đúng tính cách ‘bờm’ cũng là cách đúng đắn để trả lại nguyên giá trị bài ca dao. Như mọi tác phẩm văn học, để đánh giá đúng mức giá trị nội tàng, tất yếu phải truy tìm xuất phát điểm,trở về bối cảnh ra đời. Quê hương của Bờm, hẳn ai cũng biết, là nền văn hóa ‘làng xã’ Việt Nam đặt nền tảng trên tinh thần biết đủ, hoặc có thể nói một cách văn hoa là tri túc tiện túc hay thiểu dục vi lạc, lấy nếp sống đơn giản, bình dị, thanh đạm làm niềm vui, hạnh phúc; thể hiện mối quan hệ hài hòa giữa người và người, giữa người và thiên nhiên. Trong bất kỳ xã hội nào, thời đại nào, cộng đồng con người không sao tránh khỏi sự chênh lệch người giàu kẻ nghèo, sự sai biệt tầng trên lớp dưới. Nhưng không phải vì thế mà xã hội luôn luôn có mâu thuẫn! Ngược lại,thực tế chứng tỏ đã có một thời mọi thành phần, mọi đối tượng trong xã hội đều biết sống thích nghi để cùng tồn tại. Trong đó có phú ông, tiêu biểu cho tầng lớp trên giàu có, nhà cao cửa rộng, ruộng vườn cò bay thẳng cánh… nhờ thế không có chức mà có quyền… Ở đây ta thấy từ phú ông không hàm ý mỉa mai, cho nên, có thể thấy phú ông trong bài ca dao Thằng Bờm đại diện cho lớp người làm giàu chân chính, có hiểu biết và cũng băn khoăn đến thân phận con người. Trong khi đó, thằng Bờm tiêu biểu cho lớp dưới gồm đại bộ phận người dân nghèo sống bình dị, gần gũi với thiên nhiên, không có nhiều nhu cầu. Và trọng tâm chủ yếu bài ca dao đặt ra là hướng giải quyết sự phân cách này. Bằng cái nhìn khách quan cởi mở, không đứng về bên này hay bên kia, ta thử xem xét thái độ của phú ông và của thằng Bờm, qua đó thể hiện một mảng tâm thức của người dân nông thôn nước ta trước đây trong lối giải quyết mối quan hệ sai biệt này một cách đúng đắn, tránh cách hiểu máy móc, định kiến như bao lâu vẫn có. Trên cơ sở đó,ta có thể phục hồi giá trị đáng có của bài ca dao – nội hàm bài học sống – mà ông cha ta đã gởi gắm cho con cháu qua kho tàng ca dao tục ngữ.

Quả thật, có lúc bằng cái nhìn chủ quan, phiến diện, người ta đã có cách hiểu sơ sài, lệch lạc, rằng Bờm được dùng để ám chỉ người quê mùa ngốc nghếch. Nhưng theo ông bà ta xưa, ai dám bảo người nhà quê sống tri túc là dại, người thiểu dục là ngu! Cuộc sống đời thường chứng tỏ bao kẻ khôn ngoan, nhiều tiền lắm của lại khổ đau dài dài do mưu mô tính toán, lo của cải mất mát… sợ hậu quả việc làm sai trái, bất chính dẫn đến thù oán, kiện tụng… làm sao an vui, hạnh phúc được. Ngược lại không ít kẻ nghèo mà vui. Như thế ai dại ai khôn?

Thử nghe cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, một vị khoa bảng tiêu biểu cho tầng lớp trên, lớp tri thức của xã hội nói về dại khôn: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người kiếm chốn lao xao!” Còn nhà thơ Trần Tế Xương lại cho rằng: “Khôn nơi cờ bạc là khôn dại. Dại chốn văn chương ấy dại khôn!”. Cụ Trạng Trình, một nhà Nho khoa bảng, tự nhận mình là người dại, còn Tú Xương lại cho rằng cái dại của người này chính là cái khôn của người kia và ngược lại. Như thế phải chăng dại khôn chỉ là hai phạm trù của tư duy luận lý,là sản phẩm của óc phân biệt nhị nguyên theo chủ quan của mỗi người, mỗi giới. Chân lý phải phù hợp với hiện thực khách quan, không tùy thuộc nhận định theo luận lý chủ quan của người này, người nọ, bất kể người đó là ai, một triết gia hay bậc giáo chủ. Trên cơ sở đó, từ cổ kim đến đông tây,thực tế đều chứng tỏ hạnh phúc hay giá trị của cuộc đời không hẳn có được từ cuộc sống vật chất dồi dào, đầy đủ mọi thứ của cải,tài sản, nhà lầu, xe hơi… Ngược lại, hạnh phúc luôn đến từ nếp sống đơn giản, bình dị mà ai cũng có thể thực hiện được. Tri túc thường lạc! Ở quê ta trước đây có một thời mọi người bất luận giàu nghèo, với những gì ít ỏi họ có, hầu hết đều sống an vui,hạnh phúc. Cũng thế “Thằng Bờm có cái quạt mo”.

Quạt mo là vật dụng thông thường làm từ chiếc mo cau mà trước đây ai cũng dùng đến, từ giàu nứt đố đổ vách đến nghèo rớt mồng tơi ai cũng có. Chiếc quạt mo ở đây đã biểu thị cho nhu cầu thiết yếu và gần gũi với mọi người mọi giới, ngoài việc đem lại sự mát mẻ trong tiết trời nóng nực, còn có thể bao lợi ích khác như xua muỗi, đuổi ruồi, che nắng… có khi dùng lót ngồi. Thế nên “phú ông xin đổi ba bò chín trâu”.

Thằng Bờm có cái quạt mo là điều bình thường, phú ông hẳn cũng có quạt mo, lại còn có quạt giấy, quạt xếp, quạt lông ngỗng, lông phụng… nhưng tại sao phú ông lại đòi cho được chiếc quạt mo của Bờm, mà đổi đến ba bò chín trâu.■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 95

(Visited 577 times, 2 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Quan điểm, Văn Hoá, Võ Văn Lân

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *